1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương

39 767 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 860,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học sư phạm hà nội 2 Khoa: Sinh - KTNN Đỗ Thuỳ Linh Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý và mối quan hệ của chúng với năng suất ở đậu tương Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyê

Trang 1

Trường Đại học sư phạm hà nội 2

Khoa: Sinh - KTNN

Đỗ Thuỳ Linh

Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý và mối quan hệ của chúng với năng suất ở đậu

tương

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Sinh lý học thực vật

Hà Nội - 2008

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Mã đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình trong

suốt quá trình thực hiện đề tài Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong

tổ bộ môn Sinh lý học thực vật, Ban chủ nhiệm khoa, các bạn sinh viên trong nhóm cùng các bạn khoa Sinh - KTNN đã tạo điều kiện giúp đỡ và góp ý kiến để em hoàn thành tốt khoá luận này

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan những nội dung được trình bày trong khoá luận này

đảm bảo tính chính xác, trung thực và không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2008

Sinh viên

Đỗ Thuỳ Linh

Trang 4

Mục lục

Trang

1.1 Vai trò của nước đối với thực vật nói chung và đậu tương nói riêng 9

1.1.2 Vai trò của nước đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của đậu

1.2 Tình hình nghiên cứu về chỉ tiêu sinh lý và năng suất của đậu tương 12

3.1 Sự sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương 18

Trang 5

3.2 Khả năng trao đổi nước của đậu tương 20

3.3.2 Khối lượng 1000 hạt và năng suất hạt/1m2 29 3.4 Mối quan hệ của một số chỉ tiêu sinh lý với năng suất của đậu tương 31 3.4.1 Mối quan hệ giữa chiều cao thân với năng suất của đậu tương 31 3.4.2 Mối quan hệ gữa khả năng trao đổi nước với năng suất của đậu

Trang 6

danh mục bảng biểu và hình vẽ

Bảng 1: Sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương

Bảng 2: Lượng nước không hút được của lá đậu tương

Bảng 3: Lượng nước mất đi của lá đậu tương

Bảng 4 : Độ hụt nước “còn lại” của lá đậu tương

Bảng 5: Các yếu tố cấu thành năng suất của đậu tương

Bảng 6: Hệ số tương quan giữa một số chỉ tiêu sinh lý với năng suất Bảng 7: Hệ số tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất với năng suất

Bảng 8: Sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương (X  m)

Bảng 9: Số liệu khí tượng thuỷ văn Vĩnh Phúc

Hình 1: Sự sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương

Hình 2: Lượng nước không hút được của lá đậu tương

Hình 3: Lượng nước mất đi của lá đậu tương

Hình 4: Độ hụt nước “còn lại” của lá đậu tương

Hình 5: Số quả trên cây của một số giống đậu tương

Hình 6: Số hạt trên quả của một số giống đậu tương

Hình 7: Khối lượng 1000 hạt của đậu tương

Hình 8: Năng suất hạt (g/m2) của đậu tương

Hình 9: Khu ruộng thí nghiệm

Trang 7

mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Cây Đậu tương (Glycine max merrill) là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao Fukuda và nhiều nhà khoa học khác dựa vào sự đa dạng về hình thái đã thống nhất rằng: Đậu tương bắt nguồn từ vùng Mãn Châu (Trung Quốc) rồi được nhân rộng khắp thế giới và phát triển mạnh ở Mĩ, Canađa, Nhật Bản [1] Nước ta liền sát với Trung Quốc nên đậu tương được trồng từ rất lâu, sở dĩ như vậy vì đậu tương cũng như các sản phẩm của đậu tương có hàm lượng dinh dưỡng rất cao chủ yếu là prôtêin (30,51% - 40,28%), lipít (12% - 25%), các loại vitamin, khoáng chất [5] Prôtêin trong đậu tương

dễ tan trong nước và chứa đầy đủ các loại axít amin Trong đó có 8 axít amin là: Triptophan, treonin, lyzin, izolơxin, metionin, lơxin và phenylalanin cơ thể người và động vật không thể tự tổng hợp mà phải hấp thụ từ nguồn thực phẩm bên ngoài [3]

Hạt đậu tương chứa rất nhiều các loại vitamin và khoáng chất, trong 100g hạt đậu tương hàm lượng vitamin B1 đủ cung cấp cho nhu cầu prôtêin của cơ thể trong một ngày (12mgB1/100g) Hàm lượng vitamin tăng lên rất cao khi hạt đang nảy mầm, nhất là vitaminC [5] Đậu tương giàu prôtêin và hoàn toàn không có colesteron Hơn thế, nó còn chứa một loại dầu thường thấy trong dầu cá và có khả năng giảm sự nguy hiểm của bệnh nhồi máu cơ tim, giúp cơ thể ngăn ngừa được bệnh ung thư

Ngoài ra đậu tương có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và xuất khẩu, bã đậu tương còn là nguồn thức ăn rất tốt cho gia súc vì chứa hàm lượng prôtêin khá cao Đậu tương cũng giống như các cây

họ đậu có thể bổ sung đạm cho đất, một hecta trồng đậu tương sinh trưởng

và phát triển bình thường có thể để lại trong đất 40 - 70kg N2 tương đương với 200 - 350kg đạm sunfat [7]

Những năm gần đây, khí hậu thời tiết trên thế giới cũng như nước ta

có biến nhiều động mạnh như: hạn hán, lũ lụt, hiện tượng El-nino và nila đã làm năng suất của đậu tương không tăng mạnh thậm chí còn làm

Trang 8

La-giảm chất lượng sản phẩm Vì cây đậu tương là cây trồng rất mẫn cảm với

sự thay đổi của ngoại cảnh Do đó, nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý và mối quan hệ với năng suất của đậu tương là rất cần thiết

Vì vậy, chúng tôi đi nghiên cứu sâu hơn về vai trò của một số chỉ tiêu sinh lý nhất là các chỉ tiêu hạn chế năng suất và đánh giá tương quan của chúng với năng suất

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển và các yếu tố cấu thành năng suất đồng thời đánh giá mối quan hệ của một số chỉ tiêu sinh lý với năng suất ở một số giống đậu tương đang được gieo trồng và khảo nghiệm ở vùng trung du và miền núi phía Bắc

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu sự sinh trưởng chiều cao của cây đậu tương

- Nghiên cứu khả năng trao đổi nước của cây đậu tương qua các thời kì sinh trưởng khác nhau

- Nghiên cứu năng suất đậu tương thông qua các chỉ tiêu: số quả trên cây, số hạt trên quả trọng lượng 1000 hạt, năng suất g/m2

- Nghiên cứu mối quan hệ của các chỉ tiêu sinh lý trên với năng suất của cây đậu tương

4 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung dẫn liệu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của đậu tương để có thể áp dụng các biện pháp tăng năng suất một cách hợp lý Đồng thời, nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ của các chỉ tiêu sinh lý với năng suất để các nhà khoa học có thêm nhiều thông tin về các giống, giúp cho việc tuyển chọn, lai tạo ra những giống đậu tương

có triển vọng

Trang 9

Chương 1 Cơ sở lý luận 1.1 Vai trò của nước đối với thực vật nói chung và đậu tương nói riêng

1.1.1 Vai trò của nước đối với thực vật

Nước là một hợp chất vô cùng quan trọng đối với tất cả các cơ thể sống trên trái đất Nước là thành phần không thể thiếu trong cơ thể thực vật nước vì nó chiếm phần lớn khối lượng cơ thể Hàm lượng nước trong tế bào chỉ mất đi một lượng rất ít cũng làm các quá trình sinh lý, sinh hóa trong tế bào

và trong cơ thể bị xáo trộn, nhất là vào thời điểm cây chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực

Trước hết nước là dung môi có thể hòa tan nhiều chất trong tế bào thực vật Nhờ đó mà các sản phẩm của quá trình đồng hóa tạo ra từ lá và các chất khoáng được hút từ rễ sẽ được phân phối đi khắp các bộ phận của cây, cung cấp năng lượng để xây dựng cấu trúc và dự trữ [1]

Nước tham gia trực tiếp vào các phản ứng sinh hóa như quá trình quang hợp (nước cung cấp photon H+ để khử NADP+ thành NADPH2, tổng hợp ATP), quá trình hô hấp (nước là môi trường và nguồn nguyên liệu của nhiều phản ứng) Nước có vai trò là tác nhân hidrat hóa, nước hấp thụ lên bề mặt hạt keo, bề mặt các màng tế bào tạo thành một lớp nước bảo vệ cấu trúc

tế bào sống

Nước làm cho tế bào có độ thủy hóa nhất định tạo nên áp suất thủy tĩnh (áp suất trương) để duy trì độ trương cho tế bào làm cho cây luôn ở trạng thái căng, đặc biệt là các tế bào còn non Nên khi cây thiếu nước sẽ làm cho cây rủ xuống, lá không xòe ra để tiếp nhận ánh sáng mặt trời được [2]

Nước giúp cây chống lại hoặc chịu đựng điều kiện bất lợi của ngoại cảnh Nhờ sự thoát hơi nước thường xuyên trên bề mặt lá mà lá không bị

Trang 10

ánh sáng mặt trời đốt cháy Mặt khác, nước lại có khả năng giữ nhiệt rất tốt nên làm cho cây ấm hơn khi gặp rét Nước còn hòa loãng lượng muối trong

đất nên cây không gặp hạn mà vẫn sống được trên đất mặn [2]

Trong thực tế đời sống cây trồng không phải lúc nào cây cũng được cung cấp đầy đủ, sự thiếu nước được biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau Viện sỹ Macximôp đã nói: “Hạn dẫu đi qua chỉ có tính chất tạm thời cũng không phải đi qua mà không để lại dấu vết gì tác hại cho cây” Vì vậy, hạn (hạn trong không khí hay hạn trong đất) là tai họa thường đe dọa sự sống của cây bởi lúc gặp hạn cây bị đốt nóng và sẽ ảnh hưởng tới các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây như: Sinh trưởng, phát triển, quang hợp, hô hấp Nghiêm trọng hơn là khi bị hạn sâu lá thường cháy xám và héo khô từng

đốm lá trước khi héo toàn bộ cơ thể Cây có thể giảm hoặc ngừng hẳn sinh trưởng và chết

1.1.2 Vai trò của nước đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của

đạt đủ mức nảy mầm mà có thể chết lụi do nấm xâm nhập [1] Tuy nhiên lượng ẩm quá mức có thể có hại, Shanmugasundaram (1981) cho biết sự bén

rễ của cây sẽ bị sụt giảm 28% khi đậu tương được tưới nhiều nước lúc gieo

Trang 11

trồng [3] Hiện tượng này xảy ra vì ôxi bị hạn chế vận động tới hạt hoặc do

sự tăng cường hoạt động của các tác nhân gây bệnh ảnh hưởng tới quá trình tăng trưởng của cây giống Khi đất bão hòa nước, các vi sinh vật gây bệnh

sẽ phát triển nhanh trên các hạt và rễ đậu tương đang nảy mầm và sẽ làm ngừng quá trình tăng trưởng của rễ

Sau khi đã bén rễ năng suất đậu tương phần lớn bị ảnh hưởng do thiếu

ẩm trong thời kì ra hoa, kết quả Sự thiếu ẩm trong thời kì sinh dưỡng sẽ làm giảm quá trình tăng trưởng Trong thời kì ra hoa, sự bất thường về độ ẩm làm tăng tỉ lệ thui hoa và quả non Mặc dù đậu tương có thể bù đắp lại sự thui hoa và quả non bằng cách tăng số hoa muộn nếu đủ ẩm nhưng sự thiếu hụt nước dài ngày trong thời kì ra hoa, tạo quả sẽ làm giảm năng suất của cây Đây là thời kì cây khủng hoảng về nước nhiều nhất do đó muốn đậu tương đạt năng suất cao thì đất phải luôn luôn đủ độ ẩm kể từ khi cây bắt

đầu ra hoa cho đến cuối thời kì quả chắc quả

Lá đậu tương héo về ban ngày biểu thị tình trạng mất cân bằng của nước trong cây Khi bị hạn cây sẽ giảm bớt hoạt động sinh lý thậm chí giảm

từ trước khi héo lụi xảy ra và chắc chắn là cây sẽ phản ứng thuận với việc tưới nước sớm, nên cần phải xác định được thời điểm nào tưới nước cho cây

là tốt nhất Bằng việc quan sát những biến đổi về độ ẩm trong đất và sự biến

đổi đặc điểm của cây người ta có thể xác định được những thời kì khô hạn trung bình để cung cấp nước cho cây

Tuy nhiên, nếu lượng nước quá thừa vào giai đoạn đầu trong chu kì sống sẽ làm giảm quá trình sinh trưởng của cây Các nhà nghiên cứu đã tiến hành tưới úng đậu tương trong 15 - 30 ngày vào thời kì sinh dưỡng và sinh sản, tưới úng liền trong 15 - 30 ngày trước ra hoa sẽ làm lá vàng nhiều tức là quá trình cố định đạm đã ngừng Có lẽ vì vi khuẩn tạo nốt sần trong đất sũng nước không nhận đủ O2 để hô hấp và đủ N2 để cố định đạm Vậy, sự ngập úng bao giờ cũng làm giảm năng suất, trừ khi việc đó diễn ra vào cuối

Trang 12

thời kì sinh trưởng thì sẽ không làm giảm nhiều đến năng suất nhưng cũng

ảnh hưởng tới chất lượng của hạt

Giai đoạn quả già, khi lá đã bắt đầu chín vàng cần để cho đất khô dần Nếu lúc này vẫn duy trì độ ẩm của đất cao khiến cho hạt hô hấp rất nhanh nên sẽ giảm khả năng nảy mầm và là môi trường thuận lợi để các vi sinh vật gây bệnh do đó sẽ làm giảm phẩm chất và hiệu quả thu hoạch

Như vậy, cũng như các loại cây trồng khác đậu tương cần lượng nước nhất định để đảm bảo mọi hoạt động sống được diễn ra bình thường Sự thiếu nước hay thừa nước quá nhiều trong mọi giai đoạn đều ảnh hưởng sự sống, năng suất cũng như chất lượng sản phẩm của đậu tương Nhất là trong giai đoạn ra hoa và hình thành quả cây còn có những yêu cầu khắt khe hơn

về nước, độ ẩm của đất, nhiệt độ, ánh sáng

1.2 Tình hình nghiên cứu về các chỉ tiêu sinh lý và năng suất của đậu tương

Mặc dù ở nước ta, cây đậu tương có lịch sử phát triển lâu đời hơn các nước ở châu Âu, châu Mĩ, song trải qua một thời gian khá dài đậu tương chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn trong nền sản suất nông nghiệp Nhiều năm trước đây do điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nên công tác nghiên cứu đối với cây đậu tương chưa tương xứng với vị trí và tiềm lực của cây đậu quý này Vào thập niên 60, 70 của thế kỷ XX đậu tương mới bắt

đầu được quan tâm, nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giống, thời

vụ, phân bón

Về sau đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Danh Đông, Trần Đình Long, Trần Thượng Tuấn, Trần Thị Lệ Nguyên, Nguyễn Đăng Khoa tiến hành nghiên cứu về quá trình sinh trưởng của rễ, thân, hoa, quả là chủ yếu

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện đại các nhà nghiên cứu như Nguyễn Huy Hoàng, Trần

Trang 13

Đình Long đã tập trung chọn lọc, tạo giống và đưa ra các biện pháp canh tác nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây đậu tương Các kết quả nghiên cứu của Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh tại Viện di truyền nông nghiệp đã tạo ra nhiều giống đậu tương như DT84, DT90, DT94, DT95, DT96 có khả năng cho năng suất cao và tính chống chịu điều kiện bất lợi cũng tăng hơn các giống cũ [9], [10], [11], [12], [13]

Mối quan hệ của các chỉ tiêu sinh lý với năng suất của đậu tương chưa

được quan tâm một cách đầy đủ Gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu như Nguyễn Thị Đào đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng hạt giống với các giai đoạn sinh trưởng và yếu tố cấu thành năng suất ở đậu tương [6]; Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Tấn Hinh xác định hệ số tương quan một số tính trạng số lượng với năng suất của 145 mẫu giống đậu tương ở hai vụ đông và

vụ xuân từ năm 1998- 2000 [8], nhưng chỉ đánh giá và so sánh hệ số tương quan giữa hai vụ trên cả tập đoàn đậu tương chứ không xét riêng cho từng giống

Vì vậy, chúng tôi tiến hành “nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý và mối

quan hệ của chúng với năng suất ở đậu tương’’ trên những đối tượng khác

biệt với hy vọng sẽ tìm hiểu sâu hơn các đặc điểm sinh lý, các yếu tố cấu thành năng suất và mối quan hệ các chỉ tiêu đó với năng suất Từ đó giúp cho các nhà chọn giống có thêm cơ sở để chọn lọc ra những giống đậu tương phù hợp với đặc điểm khí hậu của các vùng sinh thái của miền bắc Việt Nam

Trang 14

Chương 2

đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

14 giống đậu tương đang được trồng ở vùng trung du và miền núi phía Bắc:

- Các giống DT84, DT90, DT2004, DT2006 do Viện di truyền nông nghiệp cung cấp Trong đó, DT84: Là tổ hợp lai giữa ĐH4  DT80+ Đột biến  - Co60; DT90: Là tổ hợp lai giữa K7002  Cocchum + Đột biến  -

Co60; DT2006 là giống mới đang được khảo nghiệm và chưa được công nhận giống chính thức

- D912, D826, MA97: Là các giống do Bộ môn Cây công nghiệp

trường ĐHNN I lai tạo Trong đó, D912: Là tổ hợp lai V74  M103; D826:

Là tổ hợp lai DL02  ĐH4; MA97: Là giống tạo ra khi xử lý đột biến giống

đậu tương của ấn Độ

- V74, VĐ33: Do Viện khoa học kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam cung

cấp Trong đó, V74 được tuyển chọn từ giống Cao quả địa trắng của Trung Quốc

- Tạp Hoàng 4 (TH4): Do Công ty giống cây trồng Hà Nam nhập về

từ Trung Quốc đang được trồng khảo nghiệm ở một số tỉnh: Hà Nam, Vĩnh Phúc

- ĐVN6, ĐVN9, ĐVN11: Do Viện nghiên cứu ngô cung cấp cũng

đang được trồng khảo nghiệm tại trại giống Mai Nham, Vĩnh Phúc

- Mường Khương (MK): Có nguồn gốc ở Lào Cai

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành trên đồng ruộng ở vùng đất Xuân Hoà, Vĩnh Phúc Mật độ gieo trồng 35cây/m2, chế độ chăm sóc đồng đều giữa

Trang 15

các giống, tiến hành theo dõi các chỉ tiêu qua các thời kì sinh trưởng và phát triển

 Sự sinh trưởng chiều cao cây (cm): Từ cổ rễ đến đỉnh sinh

trưởng bắt đầu đo sau khi gieo 15 ngày, đo 10 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày

 Khả năng trao đổi nước: Xác định theo phương pháp của

Kozusko [4]:

Khả năng giữ nước

Lá lấy được vào buổi sáng, 3 lá/ô thí nghiệm cân nhanh được khối lượng tươi ban đầu B(g) Để lá tự thoát hơi nước 5,5 giờ rồi cân lại được khối lượng b(g) Đem sấy ở nhiệt độ 1050C trong 3,5 giờ cho lá khô đến khối lượng không đổi rồi cân được khối lượng v(g) Khả năng giữ nước được tính bằng lượng nước mất đi sau khi héo trên tổng khối lượng nước của lá

B - Khối lượng tươi ban đầu của lá (g)

b - Khối lượng tươi của lá sau khi thoát hơi nước (g)

v - Khối lượng khô của lá sau khi sấy ở 1050C (g)

Trang 16

A1- Khối lượng lá bão hòa lần 1 (g)

A2- Khối lượng lá bão hòa lần 2 (g) Độ hụt nước “còn lại”

Lấy lá như trên rồi cân nhanh được khối lượng V2(g) Ngâm cuống lá vào cốc nước để bão hòa hơi nước trong 3 giờ, cân lại được khối lượng

V1(g) Độ hụt nước “còn lại” được tính bằng lượng nước mà cây hút thêm trên khối lượng của lá khi đã bão hòa hơi nước hoàn toàn, theo công thức:

1 2 2

Trong đó: V- Độ hụt nước “còn lại” (%)

V1- Khối lượng lá khi bão hòa nước (g)

V2- Khối lượng lá tươi ban đầu (g)

 Các chỉ tiêu về năng suất: Xác định số quả/cây, số hạt/quả,

khối lượng 1000 hạt (g) và năng suất hạt (g/m2)

- Số quả/cây: Đếm số quả trên cây ở 3 cây thuộc 3 ô khác nhau

- Số hạt/quả: Đếm số hạt trên quả của 3 cây ở 3 ô khác nhau

- Khối lượng 1000 hạt (g): Lấy 1000 hạt đem cân trên cân điện Sartorius

- Năng suất: Tiến hành thu hái trên 1m2 ô thí nghiệm để tính năng suất thực tế, đơn vị g/m2

n

1 i i

(trong đó n là số lần nhắc lại)

Trang 17

n i i

Trang 18

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Sự sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương

Sự sinh trưởng và phát triển là kết quả tổng hợp của mọi quá trình sinh

lý và trao đổi chất trong cơ thể Sinh trưởng về chiều cao thân là sự tăng lên

về kích thước, trọng lượng của cây, đồng thời gắn liền với sự tạo mới các thành phần cấu trúc của cơ thể Tốc độ tăng chiều cao thân tăng nhanh ở giai đoạn cây non chứng tỏ cây có sức sống khoẻ và sẽ tạo động lực cho quá trình ra hoa, tạo quả Nhưng nếu khi cây ra hoa mà cây vẫn tăng trưởng chiều cao vẫn có thể sẽ ảnh hưởng đến năng suất của giống

Kết quả nghiên cứu sự sinh trưởng về chiều cao thân của đậu tương

được trình bày ở bảng 1 và bảng 8 (phụ lục)

Bảng 1: Sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương

Đơn vị: cm

Quả già Lần 10

Trang 19

Qua bảng 1 ta thấy, chiều cao thân của tất cả các giống đậu tương tăng chậm ở giai đoạn cây non và giữa các giống khác biệt không nhiều Từ giai

đoạn ra hoa đến quả non chiều cao thân của tất cả các giống tăng rất nhanh Giai đoạn quả chắc và quả già, chiều cao thân của tất cả các giống tăng rất chậm, gần như không đáng kể

Hình 1: Sự sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương Hình 1 cho thấy, 3 lần đo đầu các giống đậu tương có chiều cao thân tăng không nhiều mặc dù điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho sự sinh trưởng của chúng Theo bảng số liệu thống kê của trung tâm khí tượng thuỷ văn Vĩnh Yên -Vĩnh Phúc: Nhiệt độ trung bình 23,30C, độ ẩm tương đối 87% và lượng mưa trung bình là 101,1mm (phần phụ lục), chứng tỏ khả năng tăng trưởng chiều cao thân trong giai đoạn ra hoa và quả non là do đặc điểm sinh

lý của giống

Đa số các giống tăng nhanh chiều cao ở giai đoạn ra hoa (lần đo thứ 4, 5) và kết thúc tăng trưởng vào giai đoạn quả non (lần đo thứ 6,7), còn lại DT2006, V74, VĐ33 kết thúc tăng trưởng chiều cao vào giai đoạn quả chắc (lần đo 8,9)

Ngày đăng: 31/10/2015, 07:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Cam Bảo dịch (1990), K.Hinson và E.E.Hartwig, Sản xuất đậu tương ở vùng nhiệt đới, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất đậu tương ở vùng nhiệt đới
Tác giả: K.Hinson, E.E.Hartwig
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1990
2. Phạm Văn Biên, Hà Hữu Tiến, Phạm Ngọc Quy, Trần Minh Tâm, Bùi Việt Nữ (1996), Cây đậu nành (đậu tương), Nxb TP Hồ Chí Minh, tr 6 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu nành (đậu tương)
Tác giả: Phạm Văn Biên, Hà Hữu Tiến, Phạm Ngọc Quy, Trần Minh Tâm, Bùi Việt Nữ
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 1996
4. Kôzuskô (1984), Xác định tính chịu hạn của cây lấy hạt theo sự thay đổi của các thông số chế độ nước, Lêningrat (bản dịch từ tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tính chịu hạn của cây lấy hạt theo sự thay "đổi của các thông số chế độ nước
Tác giả: Kôzuskô
Năm: 1984
5. Ngô Đức Dương, Nguyễn Huy Hoàng (1995), “Xác định khả năng chịu hạn của giống đậu tương DT80”, Tạp chí Sinh học, Tập 17(3), Tháng 9/1995, tr 85-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định khả năng chịu hạn của giống đậu tương DT80
Tác giả: Ngô Đức Dương, Nguyễn Huy Hoàng
Năm: 1995
6. Nguyễn Thị Đào (1998), Nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng hạt giống với các giai đoạn sinh trưởng và yếu tố cấu thành năng suất vàđặc điểm ở hạt đậu tương, Nghiên cứu cây lương thực và thực phẩm (1995-1998), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 164 -169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cây lương thực và thực phẩm (1995-1998)
Tác giả: Nguyễn Thị Đào
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
8. Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Tấn Hinh (2003), “Nghiên cứu hệ số biến động, hệ số tương quan, hệ số đường đi của tập đoàn đậu tương”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn(9), tr1128 -1129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ số biến động, hệ số tương quan, hệ số đường đi của tập đoàn đậu tương
Tác giả: Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Tấn Hinh
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2003
9. Nguyễn Văn Mã, Nguyễn Xuân Thành (1999), “Sự sinh trưởng và khả năng quang hợp của một số giống đậu tương trên đất bạc màu”, Thông báo khoa học ĐHSP Hà Nội 2(1), tr 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự sinh trưởng và khả năng quang hợp của một số giống đậu tương trên đất bạc màu
Tác giả: Nguyễn Văn Mã, Nguyễn Xuân Thành
Năm: 1999
11. Mai Quang Vinh và cộng sự (1995), Kết quả chọn tạo và khu vực hoá giống đậu tương DT84, Kết quả nghiên cứu khoa học cây đậu đỗ 1991- 1995, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học cây đậu đỗ 1991- 1995
Tác giả: Mai Quang Vinh và cộng sự
Năm: 1995
12. Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh, Kết quả chọn tạo và khu vực hoá giống đậu tương DT90, Viện di truyền Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo và khu vực hoá giống đậu tương DT90
13. Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh, Kết quả chọn tạo và khu vựu hoá giống đậu tương DT94, Viện di truyền Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo và khu vựu hoá giống đậu tương DT94
Tác giả: Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh
Nhà XB: Viện di truyền Nông Nghiệp
14. Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh, Kết quả chọn tạo và khu vựu hoá giống đậu tương DT95, Viện di truyền Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo và khu vựu hoá giống đậu tương DT95
Tác giả: Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh
Nhà XB: Viện di truyền Nông Nghiệp
15. Mai Quang Vinh, Ngô Phương Thịnh, Kết quả chọn tạo và phát triển giống đậu tương chịu hạn và chất lượng cao DT96, Viện di truyền Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo và phát triển giống đậu tương chịu hạn và chất lượng cao DT96

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương                                                                                          Đơn vị: cm - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Bảng 1 Sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương Đơn vị: cm (Trang 18)
Hình 1: Sự sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương  Hình 1 cho thấy, 3 lần đo đầu các giống đậu tương có chiều cao thân  tăng không nhiều mặc dù điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho sự sinh trưởng  của  chúng - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Hình 1 Sự sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương Hình 1 cho thấy, 3 lần đo đầu các giống đậu tương có chiều cao thân tăng không nhiều mặc dù điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho sự sinh trưởng của chúng (Trang 19)
Hình 2: Lượng nước không hút lại được của lá đậu tương  Giai đoạn cây non: Tế bào chưa phát triển hoàn thiện nên khả năng hút  nước  còn  kém  do  đó  khi  bị  héo  thì  khả  năng  phục  hồi  lại  chức  năng  hút  nước  sẽ  rất  yếu;  ở  các  giống  MK,   - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Hình 2 Lượng nước không hút lại được của lá đậu tương Giai đoạn cây non: Tế bào chưa phát triển hoàn thiện nên khả năng hút nước còn kém do đó khi bị héo thì khả năng phục hồi lại chức năng hút nước sẽ rất yếu; ở các giống MK, (Trang 21)
Hình 3: Lượng nước mất đi của lá đậu tương - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Hình 3 Lượng nước mất đi của lá đậu tương (Trang 23)
Bảng 3: Lượng nước mất đi của lá đậu tương                                                                                                          Đơn vị: % - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Bảng 3 Lượng nước mất đi của lá đậu tương Đơn vị: % (Trang 23)
Bảng 4: Độ hụt nước “còn lại” của lá đậu tương - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Bảng 4 Độ hụt nước “còn lại” của lá đậu tương (Trang 25)
Hình 4: Độ hụt nước “còn lại” của lá đậu tương  Cây  trồng  nói  chung  và  đậu  tương  nói  riêng  đều  có  một  đặc  điểm  chung là cần nước rất lớn trong quá trình sinh trưởng và phát triển - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Hình 4 Độ hụt nước “còn lại” của lá đậu tương Cây trồng nói chung và đậu tương nói riêng đều có một đặc điểm chung là cần nước rất lớn trong quá trình sinh trưởng và phát triển (Trang 26)
Bảng 5: Các yếu tố cấu thành năng suất của đậu tương - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Bảng 5 Các yếu tố cấu thành năng suất của đậu tương (Trang 27)
Hình 6: Số hạt trên quả của một số giống đậu tương  Như  vậy,  các  giống  có  số  quả  trên  cây  cao  thì  lại  có  số  hạt  trên  cây  thấp và ngược lại các giống có số quả trên cây thấp thì lại có số hạt trên cây  cao - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Hình 6 Số hạt trên quả của một số giống đậu tương Như vậy, các giống có số quả trên cây cao thì lại có số hạt trên cây thấp và ngược lại các giống có số quả trên cây thấp thì lại có số hạt trên cây cao (Trang 29)
Hình 7:  Khối lượng 1000 hạt của đậu tương  Khối lượng 1000 hạt là một  chỉ  tiêu rất quan trọng để đánh giá năng  suất đậu tương vì tính trạng này khá ổn định và dễ phân biệt giữa các giống - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Hình 7 Khối lượng 1000 hạt của đậu tương Khối lượng 1000 hạt là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá năng suất đậu tương vì tính trạng này khá ổn định và dễ phân biệt giữa các giống (Trang 29)
Bảng 5 cho thấy, khối lượng 1000 hạt của các giống hầu như không có - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Bảng 5 cho thấy, khối lượng 1000 hạt của các giống hầu như không có (Trang 30)
Bảng 6: Hệ số tương quan giữa một số chỉ tiêu sinh lý với năng suất - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Bảng 6 Hệ số tương quan giữa một số chỉ tiêu sinh lý với năng suất (Trang 31)
Bảng 7: Hệ số tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Bảng 7 Hệ số tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 33)
Hình 9: Khu ruộng thí nghiệm - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Hình 9 Khu ruộng thí nghiệm (Trang 38)
Bảng 7: Sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương ( X  m ) - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí và mối quan hệ của chúng tới năng suất ở đậu tương
Bảng 7 Sinh trưởng chiều cao thân của đậu tương ( X  m ) (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w