1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lch s dng

42 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Đảng Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ III Của Đảng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 1960
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về thực hiện đại hội đảng iiNhững việc đã làm được : Trong quá trình kháng chiến Đảng ta dựa trên cơ sở liên minh công nông và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đã ra

Trang 1

Lịch sử Đảng

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ III CỦA ĐẢNG (9/1960)

Trang 2

-Thế giới: Đại hội diễn ra trong bối cảnh hệ thống XHCN thế giới do Liên Xô đứng

đầu đã lớn mạnh vượt bậc và trở thành nhân tố quyết định trong sự phát triển của tình hình quốc tế Lực lượng so sánh trên thế giới đã biến đổi một cách căn bản, ưu thế rõ rệt thuộc về các lực lượng XHCN, của xu thế độc lập dân tộc và yêu chuộng hoà bình

-Trong nước: Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III diễn ra trong bối cảnh miền Bắc

Việt Nam vừa hoàn thành khôi phục kinh tế sau kháng chiến chống Pháp và cải cách ruộng đất cùng với cải tạo công thương nghiệp; trong khi ở miền Nam một phong trào chống chính quyền Ngô Đình Diệm và Mỹ đang diễn ra từ cuối năm

1959 và trở thành Đồng khởi từ đầu năm 1960

BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Trang 3

Đánh giá về thực hiện đại hội đảng ii

Những việc đã làm được : Trong quá trình kháng chiến Đảng ta dựa trên cơ sở liên minh công nông và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đã ra sức mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện phương châm toàn dân đoàn kết, kháng chiến lâu dài, tự lực cánh sinh, giết giặc cứu nước.

Hạn chế : Trong những năm kháng chiến có những khuynh hướng sai lầm đã từng xảy ra,làm ảnh hưởng đến phương châm kháng chiến lâu dài được thấu suốt là một quá trình giáo dục và đấu tranh tư tưởng

bền bỉ trong toàn Đảng và toàn dân.

VD : bệnh chủ quan, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, tác phong quan liêu, chủ nghĩa cá

nhân

Trang 4

KHÁI QuÁT VỀ ĐẠI HỘI ĐẢNG III

-Thời gian : 5-10/9/1960

-Địa điểm : Thủ đô Hà Nội

-Số lượng đảng viên trong cả nước: 500.000

-Có 525 đại biểu chính thức, 51 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên cả nước Trong số đó 50% là đảng viên tham gia cách mạng từ khi Đảng còn hoạt động bí mật Gần 20 đoàn đại biểu quốc tế đến dự Đại hội

Trang 5

-Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 47 ủy viên chính thức và 31 ủy

viên dự khuyết

-Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 11 ủy viên

-Chủ tịch Đảng được bầu tại Đại hội: Chủ tịch Hồ Chí Minh

-Bí thư Thứ nhất BCH Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

Trang 6

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) 

Trang 7

 11 ủy viên chính thức: Hồ Chí Minh (Chủ tịch Đảng đến khi mất năm 1969), Lê Duẩn (Bí thư thứ nhất), Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh (mất năm 1967), Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.

 Từ tháng 3-1972 bổ sung Văn Tiến Dũng, từ tháng 6-1972 thêm Trần Quốc Hoàn.

 2 ủy viên dự khuyết: Trần Quốc Hoàn (đến tháng 6-1972), Văn Tiến Dũng (đến tháng 3-1972)

Trang 8

-Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 47 ủy viên chính thức và 31 ủy

viên dự khuyết

-Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 11 ủy viên

-Chủ tịch Đảng được bầu tại Đại hội: Chủ tịch Hồ Chí Minh

-Bí thư Thứ nhất BCH Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

-Ban bí thư: 9 ủy viên

Trang 9

-Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là một cơ quan

do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập để giám sát việc thi hành chính sách hàng ngày của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định một số vấn đề theo sự phân công của Ban Chấp hành Trung ương Ban Bí thư được bầu bởi Ban Chấp hành Trung ương Thành phần Ban Bí thư gồm có Tổng Bí thư, một số Ủy viên Ban Bí thư

do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và một

số Ủy viên Bộ Chính trị (do Bộ Chính trị phân công) Số lượng Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương quyết định

-Ban bí thư:

9 ủy viên: Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Anh, Tố Hữu, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Trân (bổ sung từ tháng 1 năm 1961), Xuân Thủy (bổ sung 1968)

Trang 10

Chi tiết về nội dung của đại hội đảng iii

Trong diễn văn khai mạc Đại hội Người

nói: " Nhiệm vụ hiện nay của cách

mạng Việt Nam là: Đưa miền Bắc tiến

lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực

hiện hòa bình thống nhất nước

nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân

chủ nhân dân trong cả nước Đại hội

lần thứ II là Đại hội kháng chiến, Đại hội

lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã

hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình

thống nhất nước nhà ".

Trang 11

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã họp 25 lần để quyết định các vấn đề quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, trong đó có vấn đề nhiệm vụ quốc tế của đảng ta bảo vệ

sự trong sáng của Chủ nghĩa Mác Lênin, các kế hoạch 3 năm (1958-1960) và 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) để xây dựng cơ sở vật chất của CNXH ở miền Bắc, Tổng tiến công và chiến thắng đế quốc Mỹ ở miền Nam

Trang 12

Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, ngày 10-9-1960 chỉ rõ:

Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược:

Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước

Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau

Từ khi hòa bình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đang tiến những bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, tǎng cường lực lượng về

mọi mặt, trở thành thành trì của cách mạng cả nước Trong khi đó thì đế quốc Mỹ và bọn Ngô Đình Diệm dựng lên ở

miền Nam một chính quyền độc tài và hiếu chiến, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và cǎn cứ quân sự của đế quốc Mỹ. Sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta đang bị chúng cản trở và phá hoại.

Trang 13

Tầm quan trọng trong mỗi nội dung của đại hội đảng

 Hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, song hai nhiệm vụ đó trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng Giải quyết mâu thuẫn chung ấy là trách nhiệm của cả nước, song mỗi miền có nhiệm vụ chiến lược riêng và có vị trí khác nhau

Trang 14

 "Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta" Còn "cách mạng miền Nam có vị trí rất quan trọng Nó có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong

cả nước"

Trang 15

Nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam hiện nay là: tǎng cường đoàn kết toàn

dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ

nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây

dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tǎng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông

- Nam á và thế giới.

Như vậy, một Đảng thống nhất lãnh đạo một đất nước tạm thời bị chia cắt, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền là nét độc đáo và đặc điểm lớn nhất của cách mạng ở nước ta

Trang 16

 Phong trào cách mạng ở miền Nam có một vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp thống nhất nước nhà Đi đôi với việc ra sức xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta cần ra sức giữ vững và phát triển lực lượng cách mạng ở miền Nam tạo những điều kiện thuận lợi cho việc hòa bình thống nhất nước nhà.

Chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền Nam là trở lực ngǎn cản sự nghiệp hòa bình, thống nhất của dân tộc ta, là

nguồn gốc của mọi nỗi đau đớn, khổ cực của đồng bào ta ở miền Nam Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: giải

phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Đại hội tin tưởng rằng đồng bào miền Nam sẽ tǎng cường đoàn kết, tiếp tục phát huy truyền thống chiến đấu anh dũng của dân tộc, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, luôn luôn xứng đáng là thành đồng Tổ quốc Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam ta là một; ý chí thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước ta không bao giờ lay chuyển, cuối cùng chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

Trang 20

Tháng 4 năm 1959, Quốc hội Việt Nam Cộng hoà thông qua luật số 91 Luật ấy được ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959 mang tên "luật 10-59" về thành lập các

"tòa án quân sự đặc biệt" Theo luật 10-59, tội xử chỉ có hai mức: tử hình và khổ sai chung thân Xét xử chỉ được phép kéo dài tối đa 3 ngày, không có giảm khinh, không có kháng cáo, bản án thi hành ngay Luật này áp dụng cho tất cả mọi người bị quy là phạm tội ác chiến tranh chống lại nhà nước Việt Nam Cộng Hòa

Luật 10-59 là một đạo luật do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959, quy định việc tổ chức các Tòa án quân sự đặc biệt nhằm xét

xử trong 3 ngày các tội ác chiến tranh chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa Máy chém từng được sử dụng làm công cụ hành quyết phạm nhân bị kết án theo luật này Trong đó, ông Hoàng Lệ Kha (một người cộng sản ở Tây Ninh) là người cuối cùng mà chính quyền Ngô Đình Diệm dùng máy chém Về sau, do bị phản đối, ông Ngô Đình Diệm yêu cầu không sử dụng biện pháp tử hình này nữa

Trang 25

đề ra phương hướng hành động

 Kháng chiến đi đôi vói bồi dưỡng lực lượng kháng chiến

 Đoàn kết đứng lên kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của chính đảng Mác

- Lênin để giành độc lập và dân chủ, thì có đầy đủ lực lượng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Thắng lợi đó cũng chứng tỏ rằng chỉ có sự lãnh đạo đúng đắn của giai cấp công nhân mà Đảng ta là đại biểu, chỉ có đường lối cách

mạng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin mới có thể tạo điều kiện cho nhân dân ta đánh bại quân thù và giành tự do, độc lập

Trang 26

-Xuất phát từ đặc điểm từ một nên kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên

chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Đại hội

xác định, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quá trình cải biến

cách mạng về mọi mặt

 Khẳng định sự đúng đắn, vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tính kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trang 27

Sau khi hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, tình hình các giai cấp trong xã hội miền Bắc sẽ có sự thay đổi cǎn bản Cơ sở xã hội mới ở miền Bắc sẽ là sự liên minh giữa giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, chủ yếu là giữa công nhân và nông dân tập thể Để củng cố và phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa, phải củng cố cơ sở xã hội mới ấy, thực hiện sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong

nhân dân

Trang 28

-Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa được xem là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời

kỳ quá đọ ở nước ta nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Đường lối công nghiệp hóa đất nước được hình thành

Trang 29

-Cùng với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế, phải tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa nhằm thay đổi cơ bản đời sống tư tưởng, tinh thần và văn hóa của toàn xã hội phù hợp với chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

Trang 30

 Đường lối chung của Đảng ta trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là:

Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền thống phấn

đấu anh dũng và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tǎng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tǎng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam á và thế giới.

Trang 31

  Trên cơ sở những thành tựu to lớn về cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển vǎn hóa đã giành được, cǎn cứ vào đường lối chung do Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng đã thông qua, Ban Chấp hành Trung ương có nhiệm vụ định

ra kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965) nhằm mục tiêu phấn đấu xây

dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc

lên chủ nghĩa xã hội

 Sau đây là những nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất:

Trang 32

 -Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện một bước việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp nhẹ

 - Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh, củng cố và tăng cường

thành phần kinh tế quốc doanh, mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn

bộ nền kinh tế quốc dân

 - Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, đẩy mạnh đào tạo cán bộ và công nhân lành nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh tế của cán bộ, xúc tiến công tác khoa học và kỹ thuật

 - Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, mở mang phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị. 

 - Ra sức củng cố quốc phòng, trật tự an ninh xã hội

Trang 33

 Đại hội nhất trí thông qua nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch năm năm lần thứ nhất, thông qua Điều lệ sửa đổi của Đảng Bản Điều lệ của Đảng gồm

có phần cương lĩnh chung, 12 chương với 62 điều ghi rõ

Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, là đội tiên phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân

Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng

và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Đảng đi theo đường lối quần chúng trong mọi hoạt động của mình, tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có kỷ luật nghiêm minh, lấy phê bình và tự phê bình làm quy luật phát triển của Đảng.

Trang 34

Tổng kết 30 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đại hội đã nêu lên những bài học kinh nghiệm lớn:

- Xây dựng được một chính đảng Mác-Lênin, đoàn kết nhất trí, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, luôn luôn giữ vững quyền lãnh đạo cách mạng

- Vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, đề ra đường lối, phương châm cách mạng kết hợp đúng đắn nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong kiến, coi nhiệm vụ chống đế quốc và bè lũ tay sai của chúng là nhiệm vụ chủ yếu nhất và nhiệm vụ phản phong kiến phải tiến hành từng bước, kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ phản đế

Trang 35

- Giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân thực hiện được khối liên minh công nông vững chắc.

- Dựa trên cơ sở khối liên minh công nông vững mạnh, tập hợp mọi lực lượng dân tộc và dân chủ thành một mặt trận thống nhất rộng rãi dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Lấy việc xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng làm cơ bản khéo phối hợp hoạt động không hợp pháp với hoạt động hợp pháp , kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp lực lượng vũ trang với lực lượng chính trị

- Xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang nhân dân

- Tăng cường nhà nước dân chủ nhân dân, củng cố nền tảng liên minh công nông của nó, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

- Khéo lợi dụng những mâu thuẫn cục bộ và tạm thời trong nội bộ kẻ thù

- Tăng cường đoàn kết quốc tế

Ngày đăng: 26/01/2022, 17:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w