1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

D cng mon bo him

78 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Lý Luận Chung Về Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
Chuyên ngành Kinh Doanh Bảo Hiểm
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 277,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất công đồng và có thể dự tính được”.Dù được định nghĩa trên nhiều phương diện khác nhau, nhưngtheo chúng tôi, bảo hiểm phải có đầy đủ các đặc t

Trang 1

VĂN BẢN THAM KHẢO MƠN PLKH BẢO HIỂM

1- Bộ luật hàng hải năm 2005.

2- Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000.

3- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010 ngày 24/11/2010 có hiệu lực ngày 01/7/2011.

4- Nghị định số 45/NĐ/CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.

5- Nghị định số 46/NĐ/CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ quy định về chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp mơi giới bảo hiểm.

6- Nghị định 123/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật KDBH 2010, sửa dổi bổ sung NĐ 45 ngày 27/03/2007.

7- Nghị định số 68/2014/NĐ-CP ngày ngày 19/7/2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ 45/2007/ ngày 27/03/2007.

11- Thơng tư 86/TT-BTC ngày 28/4/2009 Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thơng tư số

155/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định

số 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Thơng tư 156/2007/TT-BTC ngày20/12/2007 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 46/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm

2007 của Chính phủ quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm vàdoanh nghiệp mơi giới bảo hiểm

12-Thơng tư 194/2014/TT-BTC 17/12/2014 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung

một số điều của Thơng tư 124/2012/TT-BTC ngày 30/07/2012 của Bộ Tài chínhhướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm vàNghị định 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và

Trang 2

Thơng tư 125/2012/TT-BTC ngày 30/07/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ tàichính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp mơigiới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngồi.

13-Nghị định 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số

14-Nghị định số 18/NĐ/CP ngày 24/2/2005 của Chính phủ quy định việc thành lập, tổ

chức, hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ

15-Nghị định 103/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/9/2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

16- Thơng tư 22/TT-BTC ngày 26/02/2016 quy định về quy tắc, biểu phí bảo hiểm tar1ch nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới.

Lưu ý: Những văn bản in đậm là những văn bản bắt buộc phải tham khảo

Chương I- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANHBẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM.

1- Khái niệm bảo hiểm

a- Rủi ro và các biện pháp khắc phục rủi ro.

* Khái niệm rủi ro

Trong ngôn ngữ đời thường, rủi ro được dùng với nghĩasự xui xẻo, nỗi bất hạnh, sự nguy hiểm không lườngtrướcđược Có rất nhiều định nghĩa về rủi ro trong bảohiểm, chẳng hạn như:

- Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất

- Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ

- Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất

- Rủi ro là khả năng xảy ra một sự cố không may

- Rủi ro là sự không chắc chắn về hậu quả trong mộttình huống cụ thể

- …

Trang 3

Nhìn chung, dù được định nghĩa dưới góc độ nào và bởitác giả nào, thuật ngữ rủi ro cũng chứa đựng hai ý niệmquan trọng là:

+ Sự không chắc chắn hay mối ngờ vực đối với tươnglai, và

+ Tổn thất hoặc hậu quả do một hoặc nhiều nguyênnhân gây ra

Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu “rủi ro” một cách kháiquát trên tinh thần bảo hiểm, có nghĩa là:

- “Rủi ro” biểu hiện sự không chắc chắn, chứ khôngphải là tổn thất hay nguyên nhân tổn thất

- Điều gì mà chắc chắn không xảy ra (0% khả năng tổnthất) hay chắc chắn sẽ xảy ra (100% khả năng tổnthất) thì không có rủi ro

- Bất kỳ sự cố nào mà xác suất xảy ra trong khoảngtừ trên 0% đến dưới 100% (0% < R < 100%) đều có sựkhông chắc chắn, và do vậy, sẽ có rủi ro

Chúng ta biết rằng rủi ro luôn hiện diện trong mọi hoạtđộng của con người, ở bất kỳ không gian nào và bất cứthời gian nào Rủi ro luôn luôn tồn tại và gắn liền với sựphát triển của xã hội loài người Với tiến bộ của khoa họckỹ thuật, khoa học dự báo, con người có thể dùng nhữngbiện pháp giảm thiểu rủi ro, hạn chế những ảnh hưởngcủa rủi ro đối với hoạt động của mình, song chắc chắnngười ta không thể nào triệt tiêu được hoàn toàn rủi rohoặc cách ly rủi ro khỏi cuộc sống con người được Chính vìvậy, ngày nay trên thế giới, ngành khoa học “quản trị rủi ro”(risk management) đã ra đời và phát triển trong thời gian gầnđây, đó là một nhu cầu thực tế khách quan Các nhà

Trang 4

nghiên cứu cho rằng quản trị trong các tổ chức có thểkhác nhau về chi tiết, nhưng trong chừng mực nào đó, chúngcó liên quan đến ba chức năng quản trị chính, đó là: nhữngchức năng “quản trị chiến lược” (strategic management), nhữngchức năng “quản trị hoạt động” (operations management), vànhững chức năng “quản trị rủi ro” (risk management) Ba chứcnăng này của quản trị tổ chức không độc lập với nhaumà luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau Xét về phươngdiện lịch sử hình thành, khoa học quản trị rủi ro dựa trên cơsở phát triển khoa học về bảo hiểm Đối với các nhàquản trị rủi ro, bảo hiểm là một biện pháp vô cùng quantrọng trong các phương thức xử lý rủi ro.

Như thế, rủi ro là một khái niệm quan trọng, một thuậtngữ cơ bản trong bảo hiểm Suy đến cùng, nguyên lý vềbảo hiểm là: “không có rủi ro thì không có bảo hiểm.” Đốivới các nhà bảo hiểm, trong thực tế, không những cầnphải nghiên cứu, nắm bắt được quy luật của rủi ro, dự kiếnđược rủi ro, phát hiện rủi ro, nhận diện rủi ro mà còn phảibiết đánh giá rủi ro và lựa chọn những rủi ro có thể bảohiểm được để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình

Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm

rủi ro một cách khái quát sau đây: Rủi ro là những tình huống bất trắc xảy ra ngoài ý muốn của con người là nguyên nhân gây ra những tổn thất nhất định về mặt vật chất hoặc tinh thần.

* Những biện pháp xử lý rủi ro

Xử lý rủi ro phải tính trên hai phương diện:

Đề phòng, ngăn chặn việc xảy ra rủi ro

Hạn chế, khắc phục hậu quả rủi ro

- Nhóm biện pháp phòng tránh, hạn chế tổn thất, bao gồm:

+ Tránh né rủi ro: Là một giải pháp thụ động, nhưng cóthể sử dụng đối với một số rủi ro bất khả kháng, nguy

Trang 5

hiểm Tránh khỏi nơi sắp xảy ra nguy hiểm là biện pháptránh né rủi ro.

+ Phong tỏa rủi ro: Là tạo ra những rào chắn trên tất cảcác phương diện liên quan Có thể sử dụng biện pháp nàyđối với rủi ro hối đoái, rủi ro tăng giá hàng hóa Chẳnghạn để phong tỏa rủi ro tăng giá hàng hóa, người ta ký loạihợp đồng tương lai, định rõ loại hàng, số lượng, nơi gian nhận,giá cả và thời điểm giao hàng trong tương lai

+ Tổ chức các biện pháp phòng tránh: Là việc con ngườithực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn, giảm bớt rủi ro,hạn chế tổn thất

- Nhóm biện pháp khắc phục hậu quả rủi ro.

+ Chấp nhận tự gánh chịu: Có những trường hợp người taquyết định tự chịu hậu quả khi không còn con đường nàokhác, hoặc chấp nhận chịu đựng rủi ro do sức ỳ đã trởthành thói quen Thực chất, đây là cách đối phó thụ độngcủa con người đối với rủi ro Tự gánh chịu có thể được thựchiện một cách có ý thức bằng các biện pháp như tiếtkiệm để dành dụm một ít tiền phòng khi rủi ro xảy ra (biệnpháp này thường do cá nhân áp dụng), hoặc lập quỹ dựtrữ, dự phòng (thường do cá tổ chức áp dụng) Tuy nhiênvới hình thức chấp nhận rủi ro thì khả năng phục hồi lạinhững tổn thất do rủi ro mang đến chỉ mang tính tương đốivà chưa thật sự là một giải pháp an toàn, hơn nữa xét vềmặt kinh tế để có được số tiền dành dụm hay các quỹ dựphòng phải mất một thời gian tương đối dài do vậy nó chưaphải là giải pháp có lợi nhất

+ Chuyển giao rủi ro: Đây là hình thức hoán chuyển rủi rocho một hoặc nhiều chủ thể khác Hình thức chuyển giaonày có thể là chuyển nhượng đơn thuần Cũng có thểchuyển giao trên nguyên tắc tương hỗ, phân tán rủi ro nhưcứu trợ, lập quỹ chung trong một cộng đồng Quỹ có mục

Trang 6

đích xác định là để xử lý rủi ro và được tạo lập, quản lývà sử dụng bởi các tổ chức bảo hiểm.

Thông qua hoạt động của các tổ chức bảo hiểm, rủi ro khixảy ra cho một số ít các thành viên thì hậu quả của nó(trước hết là về mặt tài chính) sẽ được chia nhỏ, chuyển chosố đông thành viên của cộng đồng cùng gánh chịu hoặcrủi ro phát sinh đột ngột vào một thời điểm nào đó thìhậu quả tài chính sẽ được dàn mỏng cho cả một quảngthời gian dài

b- Khái niệm bảo hiểm

Một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải baogồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), sựhoán chuyển rủi to và thêm nữa, phải bao gồm cả sự kếthợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẽ và độc lập, chịuthành một rủi ro như nhau thành một nhóm tương tác Tuynhiên, bảo hiểm, do đáp ứng nhu cầu an toàn của con ngườivốn dĩ rất phong phú và biến động, nên cũng rất đa dạng.Rất khó tìm kiiếm một định nghĩa về bảo hiểmcho nhiềugóc nhìn khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội Có rấtnhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm như:

“Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”.

“Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là người bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận toàn bộ rủi

ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”

“Bảo hiểm là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối

Trang 7

tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất công đồng và có thể dự tính được”.

Dù được định nghĩa trên nhiều phương diện khác nhau, nhưngtheo chúng tôi, bảo hiểm phải có đầy đủ các đặc trưng cơbản sau:

Thứ nhất, bảo hiểm phải là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệcủa bên bảo hiểm chủ yếu trên cơ sở thu phí bảo hiểmcủa bên mua bảo hiểm

Thứ hai, bên bảo hiểm phải cam kết chi trả cho bên muabảo hiểm khi đối tượng được bảo hiểm gặp những tổn thất

do những rủi ro được bảo hiểm mang lại

Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa bảo hiểm như sau:

Bảo hiểm: Là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ của bên bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ từ phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm sử dụng quỹ này để chi trả cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

c- Các loại hình bảo hiểm.

- Bảo hiểm xã hội: Đây là hoạt động tạo lập quỹ bảo

hiểm nhằm đảm bảo quyền lợi về mặt vật chất cho ngườilao động khi họ gặp những rủi ro làm ảnh hưởng đến khảnăng lao động, mất khả năng lao động…Quỹ bảo hiểm xãhội được tạo lập từ phí bảo hiểm của người lao động, mộtphần tài trợ từ ngân sách Nhà nước (nếu là cơ quan Nhànước), từ đơn vị sử dụng lao động

- Bảo hiểm y tế: Là hoạt động tạo lập quỹ bảo hiểm

nhằm đảm bảo về mặt sức khỏe cho người dân Nguồnhình thành quỹ bảo hiểm y tế được lấy từ phí bảo hiểmcủa người bảo hiểm, một phần tài trợ từ ngân sách Nhànước

- Bảo hiểm thương mại: Là hoạt động kinh doanh bảo hiểm

của doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thông qua việcdoanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm của người mua bảohiểm để tạo lập quỹ bảo hiểm nhằm chi trả cho nhữngtrường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm

Trang 8

Như vậy, trong ba loại hình bảo hiểm trên đây thì bảo hiểmxã hội và bảo hiểm y tế là đảm bảo về mặt xã hội, cònbảo hiểm thương mại là loại hình bảo hiểm mang tính chấtkinh doanh Sự khác nhau giữa bảo đảm xã hội và bảo hiểmkinh doanh được thể hiện như sau:

+ Về tổ chức thực hiện, chủ thể tiến hành và địa vị pháplý:

Đối với bảo hiểm kinh doanh là hoạt động cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước Chủ thể tiến hành là các doanh nghiệp bảohiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm.Chủ thể mua bảo hiểm là doanh nghiệp và các tổ chức,cá nhân

Đối với đảm bảo bảo xã hội là hoạt động tập trungtrong tay một hệ thống thống nhất từ trung ương xuống cơsở Chủ thể tiến hành là cơ quan bảo hiểm xã hội ViệtNam, bảo hiểm y tế Việt Nam Về địa vị pháp lý thì nhữngchủ thể này là cơ quan Nhà nước (bảo hiểm xã hội ViệtNam là cơ quan trực thuộc Chính phủ, bảo hiểm y tế Việt Namlà cơ quan trực thuộc Bộ y tế)

+ Về nguyên tắc hoạt động:

Đối với bảo hiểm kinh doanh nhìn chung hoạt động theonguyên tắc tự nguyện, trừ trường hợp bảo hiểm bắt buộctheo qui định của luật kinh doanh bảo hiểm

Đối với bảo đảm xã hội là bắt buộc với nhữngngười làm công ăn lương trong khu vực hành chính sự nghiệpvà các loại hình doanh nghiệp sử dụng từ 10 lao động trởlên

+ Phương pháp hạch toán:

Đối với bảo hiểm kinh doanh là kinh doanh nhằm mụcđích thu lợi nhuận

Đối với đảm bảo xã hội là lấy thu bù chi, không vìmục đích lợi nhuận

Trang 9

+ Cơ quan quản lý Nhà nước:

Đối với bảo hiểm kinh doanh là Bộ tài chính

Đối với đảm bảo xã hội là Bộ lao động thương binhxã hội, Bộ y tế

+ Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm:

Đối với bảo hiểm kinh doanh là đóng góp của ngườiđược bảo hiểm và lãi từ hoạt động đầu tư

Đối với đảm bảo xã hội là đóng góp của ngườitham gia bảo hiểm, người sử dụng lao động, trợ cấp từ ngânsách Nhà nước, và tiền ủng hộ của các tổ chức trong vàngoài nước

+Đối tượng bảo hiểm:

Đối với bảo hiểm kinh doanh là con người, tài sản vàtrách nhiệm dân sự

Đối với đảm bảo xã hội là con người

+ Điều kiện tham gia bảo hiểm:

Đối với bảo hiểm kinh doanh là bất kỳ tổ chức, cánhân nào có nhu cầu

Đối với đảm bảo xã hội phải là một bên tham giaquan hệ lao động (như người sử dụng lao động hay người laođộng)

Ngoài những sự khác nhau cơ bản trên đây thì bảo hiểm kinhdoanh do các văn bản pháp luật về bảo hiểm thương mạiđiều chỉnh, còn bảo hiểm xã hội do Bộ luật lao động điềuchỉnh và Nghị định số 58/CP ngày 13/8/1998 của Chính phủban hành điều lệ bảo hiểm y tế

- Bảo hiểm tiền gửi: Đây là hình thức bảo hiểm áp dụng

đối với các khoản tiền gửi của cá nhân tại tổ chức tín

Trang 10

dụng, theo đó tổ chức tín dụng buộc phải mua bảo hiểm chocác khoản tiền gửi của cá nhân tại tổ chức bảo hiểmtiền gửi VN Hiện nay, theo quy định của pháp luật nếu tổchức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toánthì tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ chi trả tối đa là 30triệu

đồng cho khoản tiền gửi của cá nhân tại tổ chức tín dụng

II- KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM 1- Quá trình hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

Ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định cho

ra đời tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, tên viết tắt là BảoViệt Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động từ ngày15/01/1965 và là công ty bảo hiểm nhà nước duy nhất đạidiện cho ngành bảo hiểm Việt Nam Trong thời gian đầu từngày thành lập đến trước năm 1975, do nằm trong điều kiệngiải phóng dân tộc, hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắcchưa phát triển Với hai chi nhánh ở Hà Nội và Hải Phòng,Bảo Việt thực hiện chủ yếu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóavận chuyển, tuy nhiên tái lại cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiênvà Ba Lan với tỷ lệ khá cao

Sau khi giải phóng miền Nam, việc quốc hữu hóa cáccông ty bảo hiểm cũ của miền Nam đã dẫn đến việcthành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam(Bavina) Bavina tiếp tục thực hiện trách nhiệm của các công

ty cũ với người được bảo hiểm muốn tiếp tục hợp đồngbảo hiểm Đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài, Bavinacó trách nhiệm đòi nợ và thanh toán theo đúng thỏa thuậntrên hợp đồng

Năm 1976, sau khi thống nhất đất nước, Bavina đượcchuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tạithành phố Hồ Chí Minh gọi tắt là Bảo Việt thành phố HồChí Minh

Trang 11

Như vậy, kể từ năm 1976 đến năm 1993, Bảo Việt làcông ty bảo hiểm duy nhất thực hiện hoạt động kinh doanhbảo hiểm tại Việt Nam theo chế độ hạch toán kinh tế thốngnhất toàn ngành (1980) Bảo Việt trực thuộc Bộ Tài Chính cóchức năng giúp Bộ Tài Chính thống nhất quản lý công tácbảo hiểm nhà nước và trực tiếp tiến hành nhiệm vụ bảohiểm trong cả nước.

Ngày 18/03/1993, trước nhu cầu cần thiết phải đổi mớinhằm đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế đang chuyểnsang cơ chế thị trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/

CP quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Với quy định này, thế độc quyền nhà nước của Bảo Việtđã bị phá vỡ, các tổ chức bảo hiểm thuộc nhiều thànhphần kinh tế khác nhau có thể tham gia thực hiện cácnghiệp vụ bảo hiểm tại Việt Nam Một số doanh nghiệp bảohiểm mới đã ra đời như: Vinare, Bảo Minh, PVIC (công ty dầukhí Việt Nam), Bảo long, PJICO (công ty bảo hiểm cổ phần),Petrolimex, Alianz (công ty 100% vốn nước ngoài)… Sự tồn tạicủa nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã tạo ra động lực cạnhtranh, tạo điều kiện để cho các mạng lưới phân phối sảnphẩm bảo hiểm như các chi nhánh, các đại lý và môi giớibảo hiểm ra đời một cách rộng khắp Người được bảo hiểmđã có thể lựa chọn cho mình doanh nghiệp bảo hiểm phục vụtốt nhất thay vì chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm nhưtrước đây

Khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm được mở rộng cho nhiềuthành phần kinh tế, để tồn tại và đứng vững trên thịtrường, các doanh nghiệp bảo hiểm phải có các chiến lượccạnh tranh nhằm thu hút khách hàng Trong lĩnh vực kinh doanhbảo hiểm ở Việt Nam, hoạt động cạnh tranh chỉ thực sự xảy

ra khi các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thuộc các thành

Trang 12

phần kinh tế khác nhau ra đời sau khi Chính phủ ban hànhNghị định 100/CP ngày 18/03/1993 Sự xuất hiện, hình thànhcác doanh nghiệp bảo hiểm đã tạo ra các đối tượng để quyluật cạnh tranh điều tiết Sau khi Quốc hội ban hành luật kinhdoanh bảo hiểm (ngày 9/12/2000), các chủ thể tham gia vàohoạt động kinh doanh bảo hiểm sẽ có cơ hội phát huy đượckhả năng kinh doanh cũng như nhu cầu bảo hiểm của mìnhtrong môi trường pháp lý tương đối vững chắc Những công

ty bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam gồm: Bảo Việt, Bảo Minh,Bảo Long, công ty bảo hiểm cổ phần Petrolimex (Pjico), công

ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVIC), công ty bảo hiểm cổphần bưu điện (PTI) Các công ty bảo hiểm phi nhân thọ liêndoanh gồm VIA (công ty bảo hiểm quốc tế Việt Nam), UIC(công ty liên doanh giữa Bảo Việt và 2 công ty của NhậtYasuda và Mitsui), BIDU - QBE (liên doanh giữa ngân hàng đầu

tư và phát triển và Công ty bảo hiểm QBE của Úc) Công tybảo hiểm phi nhân thọ 100% vốn nước ngoài có Alianz - Abcf(liên doanh giữa công ty bảo hiểm Alianz của Đức và công tybảo hiểm AGF của Pháp), Công ty bảo hiểm phi nhân thọ100% vốn nước ngoài Groupama của Pháp, đây là công tybảo hiểm nước ngoài đầu tiên được phép cung cấp cácsản phẩm bảo hiểm nông nghiệp cho khách hàng Việt Nam

Các công ty bảo hiểm nhân thọ gồm: Công ty Bảo Việtmiền nam, Công ty Bảo Minh_CMG (là công ty bảo hiểm liêndoanh giữa Bảo Minh và công ty bảo hiểm CMG của Uùc).Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹõ(AIA), công ty Chinfong -Manuelife (là công ty bảo hiểm 100% vốn mước ngoài liêndoanh giữa công ty Chifong của Đài Loan và công ty bảohiểm nhân thọ Manulife của Canada), Công ty bảo hiểmPrudential là công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài củaAnh, Công ty AIG (là công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoàicủa Mỹ) và một công ty tái bảo hiểm Vinare

Trang 13

2 Khái niệm hoạt động kinh doanh bảo hiểm (bảo

hiểm thương mại) Là hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp bảo hiểm, được thực hiện thông qua việc các doanh nghiệp bảo hiểm tạo lập quỹ bảo hiểm và sử dụng để tiến hành chi trả cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

Đặc điểm:

- Là nghiệp vụ mang tính chất kinh doanh

- Quỹ bảo hiểm được tạo lập từ phí bảo hiểm của bên muabảo hiểm và từ vốn của doanh nghiệp bảo hiểm

- Sử dụng quỹ bảo hiểm để tiến hành bồi thường, chi trảcho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm

3- Vai trò của bảo hiểm thương mại: Có ba vai trò cơ bản

sau:

- Bảo hiểm thương mại là công cụ để xử lý rủi ro, duy trìđời sống và hoạt động bình thường của các tổ chức và cánhân trong xã hội Phương thức bảo hiểm số đông bù chosố ít đã tập trung được một lượng của cải cần thiết để bùđắp thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm

- Bảo hiểm thương mại nâng cao khả năng ngăn ngừa rủi rovà hạn chế hậu quả phát sinh từ rủi ro đối với nền kinh tếvà đời sống xã hội Xuất phát từ yêu cầu bên mua bảohiểm phải hợp tác với cơ quan bảo hiểm nhằm phòng ngừanhững rủi ro, áp dụng các biện pháp nhằn hạn chế hậuquả khi xảy ra rủi ro Do vậy, trường hợp bên mua bảo hiểmcố tình để cho hậu quả xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm cóquyền từ chối bồi thường Chính vì vậy người mua bảo hiểmphải có trach nhiệm bảo toàn tài sản của mình kể cả khiđã mua bảo hiểm Ngoài ra khi có tổn thất xảy ra, bên muabảo hiểm được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, điềunày giúp cho bên mua bảo hiểm hạn chế được tổn thất

- Bảo hiểm thương mại là công cụ tập trung vốn Quỹ bảohiểm được hình thành chủ yếu từ phí bải hiểm của các tổ

Trang 14

chưc, cá nhân đóng góp, khi tạm thời nhàn rỗi có thể đượcsử dụng vào mục đích kinh doanh.

4- Phân loại bảo hiểm thương mại.

a- Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm, bảo hiểm thương mại phân thành:

- Bảo hiểm nhân thọ: Là loại hình bảo hiểm có đối tượngbảo hiểm là tính mạng, tuổi thọ của con người

- Bảo hiểm phi nhân thọ: Là loại hình bảo hiểm có đối tượngbảo hiểm không phải là con người như tài sản, trách nhiệmdân sự, tai nạn con người

- Bảo hiểm sức khỏe

b- Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, bảo hiểm thương mại phân thành:

- Bảo hiểm con người : bảo hiểm tai nạn con người, tai nạn

hành khách, bảo hiểm tai nạn học sinh, tai nạn khách du lịch,bảo hiểm trợ cấp chi phí nằm viện và phẫu thuật, bảohiểm chăm sóc sức khoẻ và tai nạn cá nhân,…

- Bảo hiểm tài sản : bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm thân

tàu, bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới, bảo hiểm hỏahọan…

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự : bảo hiểm trách nhiệm

dân sự chủ xe cơ giới với người thứ ba, bảo hiểm tráchnhiệm dân sự chủ hãng hàng không, bảo hiểm trách nhiệmđối với sản phẩm…

Trong thực tế cách phân loại theo đối tượng bảo hiểm là phổbiến nhất

c- Căn cứ vào đặc điểm trả tiền bảo hiểm, bảo hiểm thương mại phân thành:

- Bảo hiểm thiệt hại: là các loại bảo hiểm tài sản, bảo

hiểm trách nhiệm và bảo hiểm các quyền lợi khác có thểtính được bằng tiền Đặc điểm của các loại bảo hiểm thiệt

Trang 15

hại là trả tiền bảo hiểm theo nguyên tắc bồi thường thiệthại, trong đó qui định số tiền bồi thường không vượt quátổn thất thực tế đã gánh chịu khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

- Bảo hiểm con người: là các loại bảo hiểm nhân thọ,

bảo hiểm tai nạn thân thể và bảo hiểm sức khoẻ Đặcđiểm của các loại hình bảo hiểm con người là trả tiền bảohiểm theo nguyên tắc khoán, đã được thoả thuận giữangười bảo hiểm và người được bảo hiểm, số tiền bảohiểm được xác định rõ trên hợp đồng bảo hiểm với từngtrường hợp cụ thể tương ứng từng sự kiện bảo hiểm

d- Căn cứ vào tính chất pháp lý, bảo hiểm thương mại phân thành:

- Bảo hiểm bắt buộc: Bao gồm các loại bảo hiểm được

triển khai dưới hình thức bắt buộc theo quy định của luậtpháp hiện hành Thông thường, đây là các loại bảo hiểmliên quan đến sự an toàn chung của cộng đồng xã hội, dođó, Nhà nước bắt buộc phải bảo hiểm (bảo hiểm tráchnhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hànhkhách trên xe, bảo hiểm tai nạn hành khách, ) Người bảohiểm có trách nhiệm thực hiện các quy tắc, điều khoảnbảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, biểu phí bảo hiểm, theođúng các văn bản pháp quy của Nhà nước ban hành; Ngườiđược bảo hiểm có trách nhiệm phải tham gia các loại hìnhbảo hiểm bắt buộc này tại một hoặc một số doanh nghiệpbảo hiểm do Nhà nước quy định

- Bảo hiểm tự nguyện: Bao gồm các loại bảo hiểm liên

quan trực tiếp và chủ yếu đến quyền lợi của chính bảnthân người được bảo hiểm, ít ảnh hưởng đến sự an toànchung của xã hội, do vậy, Nhà nước không bắt buộc phảibảo hiểm Các loại bảo hiểm tự nguyện (bảo hiểm hỏahoạn, bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm thiệt hại vật chất xe

cơ giới, bảo hiểm tai nạn cá nhân, bảo hiểm du lịch,…) được

Trang 16

thực hiện trên cơ sở nguyên tắc thoả thuận và nguyệnvọng của Người được bảo hiểm cũng như Người bảo hiểm.

II- KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM, CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM.

1- Khái niệm pháp luật bảo kinh doanh bảo hiểm:

Pháp luật bảo hiểm thương mại ở mức độ tổng quan, có banhóm quan hệ:

* Nhóm thứ nhất: Các quy phạm pháp luật xác định địa

vị pháp lý của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (bênbảo hiểm) Các quy phạm pháp luật này chứa ở các vănbản pháp luật như luật doanh nghiệp Nhà nước, luật doanhnghiệp, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

* Nhóm thứ hai: Bao gồm các quy phạm pháp luật áp dụng

cho tất cả các chủ thể kinh doanh như các qui định về thựchiện chế độ kế toán, thống kê, chế độ nộp thuế cho Nhànước

* Nhóm thứ ba: Bao gồm các quy phạm pháp luật điều

chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các bên tham gia bảohiểm thương mại trong việc thu nộp phí bảo hiểm và trả tiềnbảo hiểm

Như vậy, chúng ta thấy rằng nếu hiểu theo nghĩa rộng thìkhái niệm pháp luật bảo hiểm thương mại dùng để chỉ tậphợp các quy phạm pháp luật qui định địa vị pháp lý của cácdoanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thương mại và điều chỉnhcác quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh doanh của chúng

2- Các nguyên tắc hoạt động của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Có 5 nguyên tắc:

* Nguyên tắc bảo hiểm đối với những rủi ro khách quan và mang tính ngẩu nhiên.

- Cơ sở lý luận: Khi tham gia vào hoạt động kinh doanh bảohiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hạn chế tối đa việc bịbên mua bảo hiểm cố tình để cho rủi ro xảy ra Bởi vì mục

Trang 17

đích của bảo hiểm là ngăn ngừa những tổn thất nằmngoài dự kiến của cả doanh nghiệp bảo hiểm và bên muabảo hiểm Để đạt được điều này thì doanh nghiệp bảo hiểmkhông chấp nhận bảo hiểm đối với tất cả mọi rủi ro màchỉ chấp nhận bảo hiểm cho những rủi ro khách quan vàmang tính ngẩu nhiên

- Nội dung nguyên tắc: Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chấpnhận bảo hiểm và chi trả tiền bảo hiểm đối với những rủi

ro khách quan và mang tính ngẩu nhiên, tức là những r3ui roxảy ra ngoài ý muốn của con người

- Mục đích nguyên tắc nhằm bảo vệ quyền lợi cho doanhnghiệp bảo hiểm và tránh tình trạng trục lợi bất chính từbên mua bảo hiểm

* Nguyên tắc bảo hiểm theo quy luật số đông bù cho số ít.

- Cơ sở lý luận: Mục đích hoạt động của doanh nghiệp kinhdoanh bảo hiểm là tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh Muốnđạt được mục tiêu này thì doanh nghiệp bảo hiểm phải lậpcho được quỹ bảo hiểm từ phí bảo hiểm và chỉ chi trả trongphạm vi quỹ bảo hiểm mà thôi, tức quỹ bảo hiểm bao giờcũng phải lớn hơn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp phảichi trả

- Nội dung nguyên tắc: Theo nguyên tắc này thì số đôngngười tham gia bảo hiểm (tổ chức, cá nhân) đóng phí bảohiểm nhưng tiền bảo hiểm chỉ chi trả cho số ít gặp rủi rothuộc diện bảo hiểm

- Mục đích nguyên tắc: Đảm bảo được mục đích kinh doanhdịch vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

* Nguyên tắc chọn lọc, phân tán bảo hiểm.

- Cơ sở lý luận: An toàn trong kinh doanh là yêu cầu có tínhnguyên tắc đối với mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế Mộtdoanh nghiệp muốn tạo ra được nhiều lợi nhuận thì độ an toàntrong kinh doanh phải càng cao Đối với doanh nghiệp bảo

Trang 18

hiểm kinh doanh trong lĩnh vực rủi ro cho nên trong hoạt độngkinh doanh của mình doanh nghiệp bảo hiểm phải biết chọnlọc và phân tán bảo hiểm.

- Nội dung nguyên tắc:

+ Tái bảo hiểm: Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành mualại bảo hiểm cho sản phẩm mà mình đã chấp nhận bảohiểm

+ Đồng bảo hiểm: Là hoạt động bảo hiểm do nhiều doanhnghiệp bảo hiểm cùng chập nhận bảo hiểm cho một đốitượng bảo hiểm theo tỷ lệ % trách nhiệm nhất định đối vớiđối tượng bảo hiểm đó

- Mục đích nguyên tắc: Gíup doanh nghiệp bảo hiểm phân tánrủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh

* Nguyên tắc đền bù.

- Cơ sở lý luận: Đối vớ doanh nghiệp bảo hiểm, muốn tồntại và có nhiều khách hàng thì phải tạo được uy tín và lòngtin cho khách hàng Đối với bên mua bảo hiểm, mục đích củhọ khi mua bảo hiểm là được cơ quan bảo hiểm đền bù khihọ thuộc trường hợp bảo hiểm

- Nội dung nguyên tắc: Nếu bên mua bảo hiểm thuộc trườnghợp được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải bồithường cho người mua bảo hiểm, nếu có sự chậm trễ hoặcthiệt hại xảy ra đối với bên mua bảo hiểm thì doanh nghiệpbảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường

- Mục đích nguyên tắc: Nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp chobên mua bảo hiểm

* Nguyên tắc hợp tác vì mục tiêu bảo hiểm:

- Quan hệ bảo hiểm là quan hệ hợp đồng song vụ tức làquyền của bên này đồng thời sẽ là nghĩa vụ của bên kia.Chính vì vậy lợi ích của hai bên gắn liền với nhau

- Nội dung nguyên tắc: Bên mua bảo hiểm phải có biệnpháp phòng ngứa và hạn chế rủi ro như là chưa mua bảohiểm Đồng thời khi xảy ra rủi ro thuộc trách nhiệm bảo

Trang 19

hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm bồithường nhanh chống và kịp thời cho bên mua bảo hiểm.

- Mục đích của nguyên tắc: Xác định trách nhiệm của haibên đồng thời nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cácbên trong quan hệ bảo hiểm thương mại

III- QUAN HỆ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM.

1- Khái niệm: Quan hệ pháp luật bảo hiểm thương mại là

những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình mua bảohiểm và chi trả bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm vớibên mua bảo hiểm được các quy phạm pháp luật về bảohiểm thương mại điều chỉnh

2- Chủ thể: Bao gồm bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp

kinh doanh bảo hiểm

* Bên mua bảo hiểm: Bao gồm các tổ chức và cá nhân.Đối với cá nhân thì phải có năng lực pháp luật và nănglực hành vi (phải đủ 18 tuổi trở lên)

* Bên doanh nghiệp bảo hiểm: Doanh nghiệp muốn kinh doanhbảo hiểm phải có các điều kiện sau:

- Phải có đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp theo qui địnhcủa pháp luật;

- Phải có vốn điều lệ bằng hoặc cao hơn vốn pháp định;

- Phải được Bộ tài chính chấp thuận bằng văn bản về việccho phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm

3- Khách thể:

Khách thể của quan hệ pháp luật bảo hiểm thương mại chínhlà tiền, các giấy tờ có giá trị như tiền, tài sản

4- Nội dung quan hệ Bao gồm quyền và nghĩa vụ của các

bên, cơ sở làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ này chínhlà hợp đồng bảo hiểm

* Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:

- Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điềukhoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảohiểm

Trang 20

- Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm,đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.

- Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồithường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảohiểm (Theo quy định của pháp luật là trong vòng 15 ngày kểtừ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường hoặc đòi trảtiền bảo hiểm)

- Phải thông báo bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm biếtvề việc từ chối chi trả bảo hiểm

- Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầucủa người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộctrách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

* Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm:

- Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thứcđã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

- Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết liên quan đến hợpđồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm

- Thông báo những trường hợp có thể làm gia tăng rủi rohoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảohiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêucầu của doanh nghiệp bảo hiểm

- Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sựkiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

- Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theoquy định của pháp luật

Chương II- ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM.

Như chúng ta đã biết, hoạt động kinh doanh bảo hiểm làhoạt động mang tính chất đặc thù Kinh doanh bảo hiểm thực

Trang 21

chất là cam kết chi trả về mặt tài chính từ phía doanhnghiệp bảo hiểm với bên mua bảo hiểm hoặc người thụhưởng, chính vì vậy pháp luật có những quy định rất đặcthù đối với những chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanhbảo hiểm Hiện nay, theo quy định của pháp luật có ba chủthể được phép thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm baogồm: doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảohiểm và đại lý bảo hiểm.

I- DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM.

1- Khái niệm.

Doanh nghiệp bảo hiểm là một pháp nhân được thành lập theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật khác có liên quan, thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và cam kết chi trả cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

Như vậy, với khái niệm trên đây, doanh nghiệp bảo hiểmcó những đặc trưng cơ bản sau:

- Doanh nghiệp bảo hiểm là một pháp nhân, điều này cónghĩa rằng những loại hình doanh nghiệp không có tư cáchpháp nhân thì không được phép thực hiện hoạt động kinhdoanh bảo hiểm Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền lợicho bên mua bảo hiểm, tránh những rủi ro về mặt tài chínhcho những chủ thể mua bảo hiểm

- Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là hoạtđộng kinh doanh mang tính đặc thù, cụ thể, doanh nghiệp bảohiểm kinh doanh thông qua việc thu phí bảo hiểm của bênmua bảo hiểm và cam kết chi trả cho bên mua bảo hiểm khibên này thuộc trường hợp bảo hiểm

- Đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là rủi ro

2- Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm.

- Công ty bảo hiểm cổ phần bảo hiểm;

- Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm;

Trang 22

- Hợp tác xã bảo biểm;

- Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

3- Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm.

- Có vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn phápđịnh theo quy định của Chính phủ;

- Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động;

- Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy địnhcủa luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác củapháp luật;

- Người quản trị, điều hành có năng lực quản lý, chuyênmôn, nghiệp vụ về bảo hiểm

4- Những trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thànhlập và hoạt động khi xảy ra một trong những trường hợp sau:

- Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động cóthông tin cố ý làm sai sự thật;

- Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lậpvà hoạt động mà không bắt đầu hoạt động;

- Giải thể theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm;

- Chia tách, hợp nhất, sap nhập, phá sản, chuyển đổi hìnhthức doanh nghiệp;

- Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quyđịnh trong giấy phép thành lập và hoạt động;

- Không đảm bảo các yêu cầu về tài chính để thực hiệncác cam kết với bên mua bảo hiểm

5- Các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm.

- Kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm;

- Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất;

- Giám định tổn thất;

- Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêucầu người thứ ba bồi hoàn;

Trang 23

- Quản lý quỹ và đầu tư vốn;

- Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật

7- Chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm a- Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.

Theo quy định tại NĐ46/2007 của Chính phủ quy định về chế độ tài chính đối với cácdoanh nghiệp bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải tuân thủ chế độ tàichính như sau:

- Về vốn điều lệ: Doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo mức vốn điều lệ phải bằng hoặc

cao hơn vốn pháp định Vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là300.000.000.000VND Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp bảo hiểm phải luơn duytrì mức vốn điều lệ đã gĩp khơng thấp hơn mức vốn pháp định

Trường hợp thay đổi vốn điều lệ, doanh nghiệp bảo hiểm phải cĩ đơn đề nghị và văn bảngiải trình gửi Bộ Tài chính Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị và

hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính phải trả lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc từ chối chấpthuận Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính phải cĩ văn bản giải thích lý do

- Ký quỹ: Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày đươc cấp giấy phép thành lập và hoạt động,

doanh nghiệp bảo hiểm phải sử dụng một phần vốn điều lệ đã gĩp để ký quỹ tại một ngânhàng thương mại hoạt động tại Việt nam Tiền ký quỹ được hưởng lãi theo thỏa thuận vớingân hàng nơi ký quỹ Mức tiền ký quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm bằng 2% vốn phápđịnh Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được sử dụng số tiền ký quỹ để đáp ứng các cam kếtđối với bên mua bảo hiểm khi khả năng thanh tốn bị thiếu hụt và phải được Bộ tài chínhchấp thuận bằng văn bản Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày sử dụng số tiền ký quỹ,doanh nghiệp bảo hiểm cĩ nghĩa vụ bổ sung số tiền ký quỹ đã sử dụng Doanh nghiệpbảo hiểm chỉ được rút tồn bộ số tiền ký quỹ khi chấm dứt hoạt động

- Đầu tư vốn: Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ:

+ Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp cĩ bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chứctín dụng khơng hạn chế;

+ Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp khơng cĩ bảo lãnh, gĩp vốn vào các doanhnghiệp khác tối đa 35% vốn nhàn rỗi từ dự phịng nghiệp vụ bảo hiểm;

Trang 24

+ Kinh doanh bất động sản, cho vay tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phịng nghiệp vụ bảohiểm.

b- Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.

NĐ 46/2007/CP ngày 27/03/2007 quy định chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp bảohiểm

- Vốn điều lệ: Theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phải duy trì mức vốn điều lệ bằng hoặc cao hơn mức vốn pháp định Vốn pháp định quy định đối

với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là 600.000.000.000VNDl

- Ký quỹ: Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động,

doanh nghiệp bảo hiểm phải cĩ số tiền ký quỹ bằng 2% vốn pháp định gửi tại một ngânhàng thương mại hoạt động tại Việt nam Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được sử dụng sốtiền ký quỹ để đáp ứng các cam kết đối với bên mua bảo hiểm khi khả năng thanh tốn bịthiếu hụt và phải được Bộ tài chính chấp thuận bằng văn bản Trong thời hạn 90 ngày kể

từ ngày sử dụng số tiền ký quỹ, doanh nghiệp bảo hiểm cĩ nghĩa vụ bổ sung số tiền kýquỹ đã sử dụng Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được rút tiền ký quỹ khi chấm dứt hoạtđộng Ngồi việc tuân thủ các quy định trên đây để đảm bảo khả năng về tài chính, doanhnghiệp bảo hiểm nhân thọ phải trích lập dự phịng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm của từnghợp đồng bảo hiểm nhân thọ đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp bảohiểm

- Đầu tư vốn: Trong lĩnh vực quản lý nguồn vốn nhàn rỗi, pháp luật quy định doanh

nghiệp bảo hiểm nhân thọ được sử dụng vốn nhàn rỗi để đầu tư theo quy định sau:

+ Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp cĩ bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chứctín dụng khơng hạn chế;

+ Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp khơng cĩ bảo lãnh, gĩp vốn vào các doanhnghiệp khác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phịng nghiệp vụ bảo hiểm;

+ Kinh doanh bất động sản, cho vay tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phịng nghiệp vụ bảohiểm

Trong quan hệ pháp luật bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảohiểm chính là một cam kết chi trả về tài chính từ các doanh

Trang 25

nghiệp bảo hiểm đối với bên mua bảo hiểm hoặc ngườiđược hưởng quyền lợi bảo hiểm Chính vì vậy mà các doanhnghiệp bảo hiểm khi thực hiện hoạt động kinh doanh bảohiểm phải đảm bảo khả năng về tài chính Để quản lýđược khả năng tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm,pháp luật cũng có những quy định chặt chẽ để đảm bảokhả năng này của doanh nghiệp bảo hiểm trong suốt quátrình thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Nguyên tắcnày được thể hiện rất cụ thể tại NĐ 46/2007/CP ngày27/03/2007 quy định chế độ tài chính đối với các doanhnghiệp bảo hiểm và TT 156/TT-BTC ngày 20/12/2007 hướngdẫn thi hành NĐ 46/CP.

II- DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM.

1- Khái niệm: Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh

nghiệp được thành lập theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật khác liên quan nhằm thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm với tư cách là người đóng vai trò trung gian giữa người có nhu cầu bảo hiểm và tổ chức bảo hiểm, thu xếp các dịch vụ bảo hiểm để nhận môi giới phí.

Theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp môi giới bảohiểm có nghĩa vụ thực hiện việc môi giới trung thực, khôngđược tiết lộ, cung cấp thông tin làm thiệt hại đến quyền, lợiích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, bồi thường cho bênmua bảo hiểm do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra.Ngoài ra, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải mua bảohiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động môi giới bảohiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt nam

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động dưới các loạihình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệpNhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty hợp danh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp100% vốn nước ngoài

Trang 26

2- Nộâi dung hoạt động môi giới bảo hiểm.

- Cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điềukhoản, phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cho bên muabảo hiểm;

- Tư vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro,lựa chọn loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, biểu phíbảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm;

- Đàm phán, thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữadoanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm;

- Thực hiện công việc khác có liên quan đến việc thực hiệnhợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm

III- ĐẠI LÝ BẢO HIỂM.

1- Khái niệm.

Đại lý bảo hiểm là người được trả tiền để làm việc cho một công ty bảo hiểm, đại diện cho người bảo hiểm trong việc giao dịch với khách hàng.

Đại lý bảo hiểm có thể là một tổ chức hoặc cá nhân,đôi khi đại lý bảo hiểm là một ngân hàng hoặc một tổchức hành nghề khác, họ bán các sản phẩm bảo hiểmnhư một loại dịch vụ bổ sung cho khách hàng của họ Theoquy định của pháp luật, hiện nay còn có cộng tác viênbảo hiểm, là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoặcmột cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền báncác sản phẩm bảo hiểm cho công chúng trên cơ sở hợpđồng cộng tác viên

2 Các loại đại lý bảo hiểm:

a Đại lý bảo hiểm là cá nhân:

Điều kiện:

− Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam

− Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự

- Cĩ Chứng chỉ đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp

b Đại lý bảo hiểm là tổ chức:

Trang 27

Điều kiện:

− Được thành lập và hoạt động hợp pháp

− Nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạtđộng đại lý phải có đủ các điều kiện như quy định vớiđại lý là cá nhân

3- Điều kiện hoạt động đại lý bảo hiểm.

- Đối với cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủcác điều kiện sau:

+ Là công dân Việt nam thường trú tại Việt nam;

+ Từ đủ 18 tuởi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầyđủ;

+ Cĩ Chứng chỉ đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp

- Đối với tổ chức thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểmphải có đủ các điều kiện sau:

+ Là tổ chức được thành lập hợp pháp;

+ Nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạtđộng đại lý bảo hiểm phải có đủ điều kiện của cá nhânthực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm

Ngoài ra, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặcđang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị tòa án tướcquyền hành nghề vì phạm các tội theo quy định của phápluật không được ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm

4- Nội dung hoạt động đại lý bảo hiểm.

Đại lý bảo hiểm được thực hiện các hoạt động sau đây theoyêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm:

- Giới thiệu, chào bán bảo hiểm;

- Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm;

- Thu phí bảo hiểm;

- Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy

ra sự kiện bảo hiểm;

- Thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thựchiện hợp đồng bảo hiểm

Trang 28

5- Tư cách pháp lý của Đại lý bảo hiểm:

a Trong quan hệ với Doanh nghiệp bảo hiểm:

Đại lý bảo hiểm là người được doanh nghiệp bảo hiểm ủyquyền thực hiện các hoạt động đại lý bảo hiểm (tư cáchcủa người được ủy quyền hay người thụ ủy)

b Trong quan hệ với Người mua bảo hiểm:

Đại lý bảo hiểm là người đại diện doanh nghiệp bảo hiểmthực hiện các công việc như giới thiệu, chào bán bảohiểm; thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm; thu phí bảo hiểm

… (tư cách của bên bán bảo hiểm)

6- Phạm vị ủy quyền thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm:

Pháp luật quy định doanh nghiệp bảo hiểm có thể ủy quyềncho đại lý bảo hiểm thực hiện các công việc sau:

− Giới thiệu, chào bán bảo hiểm;

− Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm;

− Thu phí bảo hiểm;

− Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy

ra sự kiện bảo hiểm;

− Thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thựchiện hợp đồng bảo hiểm

7- Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm:

a- Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:

Doanh nghiệp bảo hiểm có các quyền sau:

− Lựa chọn đại lý bảo hiểm và ký kết hợp đồng đại lýbảo hiểm;

− Quy định mức chi trả hoa hồng bảo hiểm trong hợp đồngđại lý bảo hiểm theo các quy định của pháp luật;

Trang 29

− Nhận và quản lý tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấpcủa đại lý bảo hiểm, nếu có thỏa thuận trong hợp đồngđại lý bảo hiểm;

− Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng đại lý bảohiểm;

− Được hưởng các quyền lợi hợp pháp khác từ hoạt độngđại lý bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm có các nghĩa vụ sau:

− Hướng dẫn và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tincần thiết liên quan đến hoạt động đại lý bảo hiểm;

− Thực hiện các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng đại lýbảo hiểm đã ký kết;

− Thanh toán hoa hồng theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lýbảo hiểm; Hoàn trả cho đại lý bảo hiểm khoản tiền kýquỹ hoặc tài sản thế chấp theo thỏa thuận;

− Chịu trách nhiệm về những thiệt hại hay tổn thất do hoạtđộng đại lý bảo hiểm của mình gây ra theo thỏa thuậntrong hợp đồng đại lý bảo hiểm;

− Chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước có thẩmquyền đối với các hoạt động do đại lý bảo hiểm củadoanh nghiệp bảo hiểm thực hiện

b- Quyền và nghĩa vụ của đại lý bảo hiểm:

Đại lý bảo hiểm có các quyền sau:

− Lựa chọn và ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm đối vớidoanh nghiệp bảo hiểm theo đúng quy định của pháp luật;

− Tham dự các lớp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chođại lý bảo hiểm do tổ chức được Bộ Tài Chính cho phép đào tạo đại lý bảohiểm;

− Được cung cấp thông tin cần thiết cho các hoạt động củamình và các điều kiện khác để thực hiện hợp đồng đạilý bảo hiểm;

Trang 30

− Hưởng hoa hồng và các quyền, lợi ích hợp pháp khác từhoạt động đại lý bảo hiểm;

− Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm hoàn trả tiền ký quỹhoặc tài sản thế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng đạilý bảo hiểm

Đại lý bảo hiểm có các nghĩa vụ sau:

− Thực hiện cam kết trong hợp đồng đại lý bảo hiểm đã kývới doanh nghiệp bảo hiểm;

− Ký quỹ hoặc thế chấp tài sản cho doanh nghiệp bảohiểm nếu có thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;

− Giới thiệu, chào mời, bán bảo hiểm; cung cấp các thôngtin đầy đủ, chính xác cho bên mua bảo hiểm; thực hiệnhợp đồng bảo hiểm theo phạm vi được ủy quyền trong hợpđồng đại lý bảo hiểm;

− Chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩmquyền và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quyđịnh của pháp luật

Chương III NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM.

I- KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM.

1- Khái niệm: Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận bằng

văn bản giữa bên mua bảo hiểm và các doanh nghiệp bảohiểm nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ nhất định củacác bên trong quá trình mua bảo hiểm và chi trả bảo hiểm

* Đặc điểm:

- Về hình thức: Luôn luôn bằng văn bản, thể hiện dưới mộttrong hai hình thức chủ yếu là đơn bảo hiểm và giấy chứngnhận bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm cấp với nội dungtheo quy định của pháp luật

Trang 31

- Về hiệu lực pháp lý: Nếu trường hợp các bên không thỏathuận gì khác thì hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực từ thờiđiểm hai bên tiến hành giao kết hợp đồng.

- Về chủ thể: Gồm bên mua bảo hiểm và bên bán bảohiểm, bên bán bảo hiểm luôn luôn là pháp nhân

2- Hình thức của hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm phải được thành lập bằng văn bản.

Giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telexhay các hình thức khác là bằng chứng giao kết hợp đồngbảo hiểm (điều 14 Luật KDBH)

So với Bộ Luật dân sự quy định bằng chứng hợp đồng bảohiểm gồm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, Luậtkinh doanh bảo hiểm có mở rộng hơn về hình thức khi quyđịnh thêm bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm có thể làđiện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quyđịnh Nói cách khác, việc ký kết hợp đồng bảo hiểm đượcpháp luật thừa nhận hình thức ký theo tài liệu giao dịch,điều này tạo sự thông thoáng trong thị trường bảo hiểmngày càng năng động và đa dạng

Ý nghĩa pháp lý việc thành lập hợp đồng bảo hiểm dưới hình thức văn bản:

- Là chứng cứ của việc thành lập hợp đồng

So với những giao dịch được thỏa thuận bằng miệng, tácdụng và ý nghĩa của hợp đồng trên văn bản rõ rệt hơnhẳn Khi hai bên đương sự xảy ra tranh chấp, đưa ra cơ quanTrọng tài hoặc Tòa án giải quyết, thì Trọng tài viên hoặcthẩm phán thường yêu cầu các bên cung cấp chứng cứnhằm xác định xem quan hệ hợp đồng có tồn tại hay không

Trang 32

- Là căn cứ thực hiện hợp đồng.

Các thỏa thuận nếu không được làm thành văn bản trongđó bao gồm các điều khoản, thì có thể đem lại nhiều bấttiện cho việc thực hiện hợp đồng Do vậy, pháp luật quy địnhphải dùng văn bản để quy định quyền lợi mà các bên đượchưởng và nghĩa vụ mà các bên cần gánh vác, nhằm lấyđó làm căn cứ cho việc thực hiện các cam kết

3- Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm.

- Doanh nghiệp bảo hiểm: Là chủ thể tiến hành thu phí

bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và cam kết chi trả chonhững trường hợp thuộc trường hợp bảo hiểm Doanh nghiệpbảo hiểm tham gia với tư cách là người bán bảo hiểm

- Bên mua bảo hiểm: Bao gồm các tổ chức và cá nhân

có đầy đủ điều kiện về chủ thể theo quy định của phápluật Bên mua bảo hiểm là chủ thể trực tiếp giao kết hợpđồng với doanh nghiệp bảo hiểm

- Bên được bảo hiểm: Là tổ chức, cá nhân có tín mạng,

tuổi thọ hoặc tài sản được doanh nghiệp bảo hiểm chấpnhận bảo hiểm Bên được bảo hiểm không cần phải cóđiều kiện về tư cách chủ thể như là bên mua bảo hiểm

- Người thụ hưởng: Là tổ chức, cá nhân sẽ được doanh

nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảohiểm xảy ra Người thụ hưởng có thể đồng thời là ngườimua bảo hiểm và người được bảo hiểm Theo quy định củapháp luật người thụ hưởng chính là người sở hữu hợp phápsố tiền bồi thường hoặc chi trả từ phía doanh nghiệp bảohiểm

- Các chủ thể trung gian: Những chủ thể này bao gồm đại

lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Các chủthể trung gian chỉ được tham gia vào quan hệ hợp đồng bảohiểm khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật

Trang 33

3- Mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người được hưởng quyền lợi bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm.

* Bên mua bảo hiểm: Bên mua bảo hiểm chính là chủ thể

giao kết hợp đồng bảo hiểm Theo quy định của Bộ luật dânsự, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm nếu là cánhân thì phải đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vidân sự đầy đủ, còn nếu là tổ chức thì phải có năng lựchành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự Khi tham giaký kết hợp đồng bảo hiểm, chủ thể này phải tự nguyệnkhông bị ép buộc trong việc ký kết Về mặt pháp lý, bênmua bảo hiểm là một bên trong quan hệ hợp đồng, do vậy,chủ thể này phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ củamình như đã thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp có tranhchấp xảy ra, nếu các bên không có thỏa thuận gì khác thìbên mua bảo hiểm có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trongvụ kiện dân sự hoặc kinh tế về giải quyết các quyền lợiliên quan đến hợp đồng bảo hiểm Trong một số trường hợp,bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảohiểm và người được hưởng quyền lợi bảo hiểm

* Người được bảo hiểm: Người được bảo hiểm chính là

người có tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản, tráchnhiệm dân sự được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảohiểm Theo quy định của pháp luật, trường hợp người đượcbảo hiểm khi được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảohiểm về tính mạng, sức khỏe, tuổi thọ, tài sản hoặc tráchnhiệm dân sự nếu trong thời gian bảo hiểm mà rơi vàotrường hợp bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải cónghĩa vụ chi trả bảo hiểm như đã cam kết trong hợp đồngbảo hiểm Theo quy định của pháp luật, nếu trong hợp đồngbảo hiểm mà người mua bảo hiểm không đồng thời làngười được bảo hiểm thì người mua bảo hiểm phải có quyền

Trang 34

lợi đối với đối tượng được bảo hiểm Quy định này nhằmtránh tình trạnh trục lợi trong bảo hiểm

* Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm: Đây là chủ

thể sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả bảo hiểm khiđối tượng bảo hiểm rơi vào trường hợp bảo hiểm Ngườiđược hưởng quyền lợi bảo hiểm có thể là người được chỉđịnh trong hợp đồng và cũng có thể là người thừa kế theoquy định của pháp luật Theo quy định hiện hành, pháp luậtkhông quy định điều kiện về chủ thể được hưởng quyền lợibảo hiểm, điều này có nghĩa rằng, doanh nghiệp bảo hiểmphải trả tiền bảo hiểm cho người được hưởng quyền lợi bảohiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng dù người đó có đủnăng lực hành vi dân sự hay không Trường hợp, người đượchưởng quyền lợi bảo hiểm vì một lý do nào đó mà khôngtrực tiếp đến doanh nghiệp bảo hiểm để nhận tiền bảohiểm được thì có thể ủy quyền bằng văn bản cho ngườikhác thay mình nhận tiền bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểmcó thể căn cứ vào giấy ủy quyền có chứng thực của Ủyban nhân dân quận, huyện để trả tiền bảo hiểm

* Doanh nghiệp bảo hiểm: Là doanh nghiệp có đủ điều

kiện thành lập theo quy định của pháp luật nói chung vàLuật kinh doanh bảo hiểm Theo quy định của pháp luật, doanhnghiệp bảo hiểm là chủ thể có tư cách pháp nhân, tự chịutrách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của mình.Trong hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm cungcấp thì người ký kết phải có thẩm quyền, là người đạiđiện pháp nhân hoặc người được chủ thể là đại diện phápnhân ủy quyền ký kết hợp đồng bảo hiểm

II- NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM.

1- Các điều khoản chủ yếu Theo quy định tại Đ13 luật kinh

doanh bảo hiểm, nội dung của hợp đồng bảo hiểm thươngmại phải có đầy đủ các điều khoản sau:

Trang 35

- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảohiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;

- Đối tượng bảo hiểm;

- Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối vớibảo hiểm tài sản;

- Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm;

- Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

- Thời hạn bảo hiểm;

- Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

-Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

- Các quy định giải quyết tranh chấp;

- Ngày tháng năm giao kết hợp đồng

* Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm (điều 31; 40; 52

Luật KDBH)

Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm bao gồm con người, tàisản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác theo quyđịnh của pháp luật

Điều 201 Bộ luật hàng hải quy định:

“1- Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ quyềnlợi vật chất nào có liên quan đến các hoạt động hàng hảimà có thể quy ra tiền, bao gồm: tàu biển, hàng hóa, tiềncước vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách, tiềnthuê tàu, tiền thuê mua tàu, tiền lãi ước tính của hànghóa, các loại hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệmdân sự và các khoản tiền được bảo đảm bằng tàu, hànghóa hoặc tiền cước vận chuyển

2- Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là tàu đang đóng.”

* Số tiền bảo hiểm.

Số tiền bảo hiểm là trị giá được ghi trong hợp đồng bảohiểm trên cơ sở lợi ích bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là mức trách nhiệm cao nhất mà doanhnghiệp bảo hiểm phải gánh chịu khi tổn thất xảy ra thuộcphạm vi bảo hiểm và cũng là cơ sở để tính phí bảo hiểm

Trang 36

Tùy theo loại hợp đồng bảo hiểm có cách xác định số tiềnbảo hiểm khác nhau:

- Đối với bảo hiểm tài sản: là số tiền do bên mua bảo

hiểm yêu cầu bảo hiểm cho tài sản trên cơ sở trị giá thựctế Theo ý muốn của người mua bảo hiểm thì số tiền bảohiểm có thể thấp hơn trị giá của đối tượng bảo hiểm (bảohiểm dưới giá trị), điều này có nghĩa là người được bảohiểm tự bảo hiểm cho phần còn lại Tuy nhiên, số tiền bảohiểm không được vượt quá trị giá thực tế của tài sản(khoản 1 Điều 42 Luật KDBH), vì người người được bảo hiểmkhông có lợi ích trên phần trị giá vượt quá đó Do đó, phầnvượt quá trong hợp đồng bảo hiểm coi như không có hiệu lựcvà không được bồi thường Người được bảo hiểm cũngkhông được hoàn trả phần phí bảo hiểm đã trả cho trị giávượt quá ngoại trừ trường hợp do lỗi vô ý của người đượcbảo hiểm Quy định này nhằm tránh nguy cơ về đạo đức từngười được bảo hiểm là cố ý tăng thêm yếu tố không antoàn hay không thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chếtổn thất hoặc cố ý gây ra tai nạn để được bồi thường

- Đối với bảo hiểm con người: số tiền bảo hiểm và phương

thức xác định số tiền bảo hiểm được bên mua bảo hiểmvà doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận (Điều 32 LuậtKDBHVN) Một số loại hình bảo hiểm con người thường hạnchế mức trách nhiệm tối đa, vì vậy hợp đồng bảo hiểmphải có sự thỏa thuận rõ ràng về mức hạn chế này.Trường hợp xảy ra rủi ro bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểmphải trả tiền theo đúng thỏa thuận Việc xác định số tiềnbảo hiểm con người phải thỏa đáng để tránh các hành vitiêu cực nhằm trục lợi bảo hiểm Chẳng hạn, khi số tiềnbảo hiểm quá lớn, người tham gia bảo hiểm có thể tự hủyhoại cơ thể, lập hồ sơ giả, tạo hiện trường giả để trục lợi

Trang 37

bảo hiểm, thậm chí có thể làm hại người thân để lấy tiềnbảo hiểm.

- Đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự: là số tiền mà

doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểmtheo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm (Điều 54 LuậtKDBH)

* Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm.

Phạm vi bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm gánh vác rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm thay cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra được quy định trong hợp đồng bảo hiểm Các rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm phải hội đủ các điều kiện sau:

- Rủi ro phải có khả năng xảy ra

- Rủi ro xảy ra không xác định trước được thời điểm, mứcđộ tổn thất

- Rủi ro chưa xảy ra Nếu rủi ro của đối tượng bảo hiểm đãxảy ra thì hợp đồng bảo hiểm không có hiệu lực

Hợp đồng bảo hiểm phải đính kèm điều kiện bảo hiểm,điều khoản bảo hiểm do Bộ tài chính ban hành, phê chuẩnhoặc cho đăng ký

* Phí bảo hiểm và phương thức đóng phí bảo hiểm.

Phí bảo hiểm là khỏan tiền mà bên mua bảo hiểm phảiđóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phươngthức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng (Khoản 11 điều 3Luật KDBH)

Đối với các loại hình bảo hiểm bắt buộc, phí bảo hiểmthường được pháp luật quy định trên số tiền bảo hiểm tốithiểu Các bên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện

* Thời hạn bảo hiểm.

Trang 38

Thời hạn bảo hiểm là một khoảng thời gian được xác địnhtừ thời điểm này đến thời điểm khác mà trong khỏangthời gian đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận trách nhiệm bảohiểm.

Hợp đồng bảo hiểm phải ghi rõ thời hạn bảo hiểm Chỉ khinào rủi ro bảo hiểm hay sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thờihạn bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm mới nhận tráchnhiệm bồi thường

Có hai cách tính thời hạn bảo hiểm:

- Tính theo thời hạn

- Tính theo chuyến hay vụ việc

Trong thời hạn bảo hiểm, trách nhiệm bảo hiểm chỉ phátsinh khi hội đủ các điều kiện sau:

- Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc có bằngchứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm

- Bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm

Tuy nhiên, việc đóng phí bảo hiểm có thể được các bênthỏa thuận khác như đóng phí làm nhiều kỳ, doanh nghiệpbảo hiểm cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm …

* Điều khoản loại trừ.

Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm có mục đích giảitrừ trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.Điều khỏan này quy định trường hợp nào doanh nghiệp bảohiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Các hành vi trục lợi bảo hiểm đều bị loại trừ theo pháp luậtcủa các quốc gia Sự cố ý của người được bảo hiểm gây ra

Trang 39

tổn thất, thiệt hại cho đối tượng được bảo hiểm không phảilà rủi ro bất ngờ, bất khả kháng

Điều 224 Bộ luật hàng hải quy định: “Người bảo hiểmkhông chịu trách nhiệm đối với những tổn thất xảy ra dohành động cố ý hoặc quá cẩu thả của người được bảohiểm”

Trong các loại hình bảo hiểm về tài sản, pháp luật cho phépngười được bảo hiểm loại trừ trách nhiệm đối với nhữngtổn thất phát sinh do tính chất riêng của hàng hóa, nhữngkhuyết tật vốn có của phương tiện và những hao hụt tựnhiên ở mức độ thông thường của hàng hóa

Điều 226 Bộ luật hàng hải quy định: “Khi bảo hiểm hànghóa, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các tổnthất phát sinh do: tính chất tự nhiên của hàng hóa; hàng bịrò chảy, hao hụt hoặc hao mòn tự nhiên …”

Điều 45 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Doanh nghiệpbảo hiểm không chịu trách nhiệm bảo hiểm trong trườnghợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất do hao mòn tự nhiênhoặc do bản chất vốn có của tài sản, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm”

Điều khỏan loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quyđịnh rõ trong hợp đồng bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểmphải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợpđồng Tuy nhiên, không được áp dụng điều khỏan loại trừtrong một số trường hợp sau:

- Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý Nghĩa là,điều khoản loại trừ đối với các tổn thất do việc vi phạmpháp luật gây ra chỉ được áp dụng khi việc vi phạm đó là

do chủ tâm của bên mua bảo hiểm

Ngày đăng: 25/01/2022, 14:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w