Qũy tương hổKhái niệm: Các quỹ tương hỗ là các quỹ được điều hành bởi những công ty đầu tư để tạo điều kiệncho rất nhiều nhà đầu tư góp vốn và đầu tư vào một nhóm nhiều cổ
Trang 1Qũy tương hổ
Khái niệm:
Các quỹ tương hỗ là các quỹ được điều hành bởi những công ty đầu tư để tạo điều kiệncho rất nhiều nhà đầu tư góp vốn và đầu tư vào một nhóm nhiều cổ phiếu Những công tyđiều hành quỹ tương hỗ gây quỹ từ hàng ngàn (thậm chí hàng triệu) cổ đông để đầu tưvào cổ phiếu, trái phiếu hoặc những tài sản đầu tư khác Giá trị quỹ được chia nhỏ thànhcác cổ phần Giá của mỗi cổ phần được gọi là NAV (Net Asset Value - Giá trị tài sảnthuần), hay còn được gọi là Book Value
Cách thức hoạt động của một quỹ tương hỗ
(Nguồn: Tác giả)
Sơ lược về Quỹ Tương Hỗ:
Hiện nay trên thế giới có hàng ngàn quỹ đầu tư (trên 8500 quỹ) cho các nhà đầu tư lựachọn Mỗi quỹ có những đặc tính khác nhau Ví dụ, một số quỹ chỉ đầu tư vào một mảngnhư là công nghệ hoặc bán lẻ; một số quỹ đầu tư vào chỉ số vốn hóa của thị trường, hoặccác chỉ số tài chính quốc tế , một số khác thì cố gắng chọn những cổ phiếu tốt nhất trênthị trường để đầu tư Chỉ số quỹ đầu tư là một chỉ số rất rộng, và cơ hội lựa chọn dànhcho các nhà đầu tư hầu như là vô hạn
Trước khi muốn đầu tư vào một quỹ tương hỗ cần phải thực hiện việc nghiên cứu mộtcách kĩ lưỡng Đầu tiên cần đọc bản cáo bạch của quỹ đó, nơi mà phác thảo những mụctiêu đầu tư của quỹ để xem những mục tiêu đó có trùng lặp với mục tiêu của mìnhkhông Cũng cần phải nghiên cứu các trang web về tài chính, tại các trang web nàythường có một số danh sách quỹ tương hỗ và có sự so sánh sự thể hiện của các quỹ tươnghỗ này với nhau Khi tìm kiếm một quỹ đầu tư cần quyết định xem chúng ta thuộc loại
Trang 2nhà đầu tư nào: dài hạn, định hướng thu nhập hay là nhà đầu tư tích cực Tất cả các quỹtương hỗ đều có những khoản chi phí tương tự nhau, nhưng một số quỹ có chi phí lớnhơn số còn lại Cần chắc chắn rằng mình hiểu được tất cả các chi phí đó, bởi vì chúng sẽảnh hưởng đến quyết định đầu tư cuối cùng của mình.
Tất cả các quỹ tương hỗ được điều tiết bởi Ủy Ban giao dịch chứng khoán SEC (Securityand Exchange Commission), thị trường cổ phiếu và Sở giao dịch chứng khoán Hội sởđầu tư ICI (the Investment Company Institute) là một hiệp hội quốc gia mà có nhiều công
ty quỹ nhất, có website chính thức tại http://ici.org, nơi ta có thể tìm thêm thông tin vềcác quỹ tương hỗ
Lợi ích của quỹ tương hỗ
Với hầu hết tất cả mọi người, các quỹ tương hỗ là một cách đầu tư thông thái vào thịtrường cổ phiếu Các quỹ tương hỗ không chỉ cung cấp một lượng đa dạng các quỹ , mà
nó còn mang lại rất nhiều lợi ích khác:
- Quản lý danh mục: Khi ta mua một quỹ, ta cũng đã mua sự giám định của nhà quản lý
danh mục có kinh nghiệm Và sẽ không cần phải làm những công việc nghiên cứu haytốn thời gian tiếp tục giám sát số chứng khoán, những nhà quản lý sẽ làm điều đó thaychúng ta Điều này không có nghĩa là không nên theo dõi kết quả đầu tư quỹ một cáchđịnh kì Nếu quỹ này không thỏa mãn kì vọng thực tế của mình, có lẽ nên suy xét đếnviệc chuyển sang quỹ khác Nếu là người mới đầu tư và không muốn tiếp tục giám sátdanh mục, quỹ tương hỗ sẽ là sự lựa chọn đầu tư đúng đắn cho
- Sự đa dạng: Khi mua một quỹ tương hỗ, ta thực sự đã sở hữu một phần của tất cả cổ
phiếu, trái phiếu hoặc các loại đầu tư khác trong quỹ đó Dựa vào loại quỹ, khoản đầu tưnày có thể thuộc một ngành công nghiệp đơn lẻ hoặc là thuộc một khu vực thị trườngrộng lớn hơn
- Số vốn cần bỏ ra là nhỏ: Một khoản đầu tư nhỏ nhất thường là $2,500, mặc dù một số
quỹ tương hỗ sẽ chấp nhận một khoản tối thiểu chỉ với $250 hoặc $500 Ta cũng có thểtiếp tục tăng thêm khoản đầu tư của mình bằng cách sử dụng một kế hoạch được gọi là
“mua cổ phiếu trung bình giá”: Mua vào, Bán ra và Nghiên cứu cho một sự tích lũy dàihạn đều đặn và lớn hơn
- Dễ dàng mua và bán cổ phần: Chúng ta có thể mua hoặc bán cổ phiếu quỹ qua một
broker (nhân viên môi giới), ngân hàng hoặc là giao dịch online dựa trên giá trị tài sảnthuần (NAV, net asset value) – được tính vào thời điểm kết thúc của mỗi ngày giao dịch,trừ đi chi phí quản lý
Mô hình của quỹ tương hỗ
Quỹ tương hỗ có thể ở mô hình mở (open-ended) hoặc ở mô hình đóng (close-ended) Đasố các quỹ đều ở mô hình mở Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản của 2 loại quỹ trên:
Trang 3Quỹ mở (Open-ended Fund)
- Một quỹ mà tiếp tục tạo ra những cổ phần mới khi có nhu cầu (mặc dù nhà quản lý cóthể đóng cổ phần đó lại nếu họ nghĩ rằng quỹ này đang trở lên quá lớn)
- Ta có thể mua cổ phiếu tại giá trị tài sản thuần (NAV) Và có thể bán chúng hoặc mualại chúng bất kỳ lúc nào tại giá trị tài sản thuần này trực tiếp từ quỹ đầu tư
- Các giao dịch thường được thực hiện ở thời điểm kết thúc của ngày thị trường
- Có thể có hoặc không có tiền hoa hồng đi kèm
Trang 4Vinawealth (thuộc VinaCapital) và MB Capital (thuộc Ngân hàng Quân đội MBB) là hai
quỹ mở ở Việt Nam (Nguồn: Internet)
Quỹ đóng (Close-Ended Fund)
- Một quỹ có số lượng cố định cổ phiếu
- Thường được phát hành trên sàn giao dịch cổ phiếu Ta có thể chủ động mua hoặc bánchúng
- Bởi vì cổ phiếu quỹ này được giao dịch trên thị trường, chúng có thể được mua hoặcbán bất kỳ lúc nào trong phiên giao dịch
- Bởi vì đây là một cổ phiếu, nó luôn có một tỷ lệ hoa hồng đi kèm với nó
Trang 5Ở Việt Nam, VinaCapital là một trong những quỹ đóng hàng đầu
(Nguồn: Internet)
Chi phí của một quỹ tương hỗ
Khi đầu tư vào những quỹ tương hỗ, cần phải hiểu về tất cả những chi phí liên quan Có 2loại chính là: Load Funds và No Load Funds Tuy nhiên, nó không chỉ đơn giản như vậy.Phải đào sâu hơn nữa để hiểu được tất cả các loại chi phí Dưới đây, chúng tôi xin giớithiệu một số thuật ngữ mà ta sẽ bắt gặp Ta cũng có thể sẽ phải trả chỉ một loại phí, hoặcmột sự kết hợp của các loại phí Mình hãy kiểm tra kĩ trong bản cáo bạch của quỹ màmình định đầu tư một lần nữa để tìm hiểu thêm về các loại chi phí mình phải trả
Các loại chi phí cơ bản trong quỹ hỗ tương
(Nguồn: Internet)
Trang 6Quỹ không tính phí (No Load Funds): Những quỹ được bán trực tiếp ra công chúng.
Những quỹ này không tốn tiền hoa hồng Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không cóphí tổn kèm theo Giống như Load Funds, chúng cũng được quản lý và có khả năng cónhững phí tổn khác
Quỹ có tính phí (Load Funds): Được bán qua sự môi giới của các brokers với những
khoản hoa hồng kèm theo Dưới đây là các loại phí
- Phí đầu vào (Front-End Loads): Tiền hoa hồng được trả khi mua một cổ phiếu.
Những khoản phí này khá đa dạng, dựa vào từng loại quỹ Phí tổn này cũng có thể thayđổi theo quy mô, chi phí giảm khi khoản đầu tư lớn hơn Chi phí này được tính dựa trênkhoản gia tăng của sự đầu tư (phí hoa hồng được lấy ra trước) Điều này có nghĩa là, nếu
ta đầu tư $1000 và chi phí là 3% ($30), nó sẽ được trừ đi đầu tiên, vì thế khoản đầu tư củamình vào quỹ này thực sự chỉ là $970
- Phí đầu ra (Back-End Loads)(hay còn gọi là: phí mua lại – Redemption Fees hoặc phí
trì hoãn việc bán ra – Deferred Sales Fee): Đây là những khoản phí mà có thể bị trừ đi từtài khoản đầu tư chính thức, nếu ta bán cổ phần trong một khoản thời gian nhất định(được mô tả trong bản cáo bạch).Nói chung, chi phí này sẽ giảm qua thời gian, và đôi lúc
nó được trì hoãn lại tất cả nếu mình nắm giữ cổ phiếu quỹ trong một khoảng thời gianđịnh rõ Ví dụ, chi ví là 4% nếu bán trong năm đầu tiên, và nó giảm xuống còn 3% nếubán sau 2 năm Phí này dùng để ngăn cản việc các nhà đầu tư thay đổi quỹ thường xuyên
- Phí quản lý: Tất cả các quỹ tương hỗ đều phải trả phí quản lý Nó là một khoản phí
ngang bằng hoặc là một lệ phí dựa vào giá trị của danh mục quỹ Tuy nhiên, một số phíquản lý thực sự sẽ tăng lên nếu nhà quản lý đưa ra một điểm mốc xác định trước mộtcách chính xác hoặc là phí sẽ giảm nếu họ theo một đường mòn xác định trước Hãy nhớrằng, phí quản lý tách biệt hoàn toàn với phí bán hàng
- Phí marketing: Rất nhiều quỹ trừ đi chi phí quảng cáo và marketing từ tài sản của quỹ
thay vì việc đặt chúng vào phần chi phí quản lý Dù cho họ đặt khoản phí này vào đâu,cuối cùng cũng phải trả số chi phí này cho họ Số phí tồn này được gọi là phí 12-b-1.Những phí này có thể rất đa dạng, tuy nhiên, nếu phí 12-b-1 cao hơn 0.25% một năm, nó
có thể sẽ không được gọi là “no-load” fund nữa
- Chi phí quản tri: Phí từ tất cả những giấy tờ liên quan đến việc quản lý quỹ, chi phí
liên quan đến pháp luật, chi phí của công việc kế toán, việc luân chuyển giấy tờ,
Một cách để tính toán chi phí phải trả của 1 quỹ được gọi là tỉ lệ chi phí (Expense Ratio)
Đó là một tỉ lệ phần trăm của tài sản quỹ Nó bao gồm tất cả các khoản chi phí, trừ đi chi phí bán hàng (chi phí trả trước) Tỉ lệ này càng cao thì những cổ đông càng được trả ít đi.Thông thường, ta cần tránh việc trả phí bán hàng và cần tìm một quỹ có tỉ lệ chi phí thấp
Cách tính giá tri NAV
Trang 7NAV (hay còn được gọi là Book Value) là giá trị tài sản của một quỹ tương hỗ (giá trị thịtrường của tất cả các chứng khoán được nắm giữ bởi quỹ đó cộng với tiền mặt và các tàisản có giá trị ngang bằng với tiền) trừ đi các khoản chi phí và công nợ của quỹ, sau đóchia cho tổng số cổ phiếu lưu hành.
NAV là giá cả cổ phiếu mà ta có thể mua hoặc bán một quỹ tương hỗ NAV được tínhtoán hàng ngày ở thời điểm thị trường đóng cửa (ngoại trừ quỹ giao dịch ngoại hối –Exchange Trade Funds, loại quỹ này được tính toán như là những cổ phiếu thường và cóthể được mua ở bất kỳ thời gian nào trong ngày giao dịch của quỹ giao dịch ngoại hối –Exchange Trade Funds
Hình minh họa cách tính NAV (Nguồn: Investopedia)
Ví dụ dưới đây là cách giúp bạn tìm được NAV trên mỗi cổ phiếu cơ bản của quỹ tươnghỗ Imaginary High Five với 3 triệu cổ phiếu đã được ban hành
Tài sản (gồm có chứng khoán cơ bản, các sản phẩm có giá trị
Trang 8Tổng giá trị của cổ phiếu $52 +$10 -$2 =$60
Các loại quỹ tương hỗ (dựa theo kênh đầu tư)
Như chúng tôi đề cập bên trên, có rất nhiều loại quỹ tương hỗ mà ta có thể đầu tư vào.Dưới đây là một sự mô tả tóm tắt một số loại quỹ tương hỗ Khi trong một quỹ có đề cậpđến trái phiếu, cần tìm hiểu thêm về trái phiếu
Quỹ cổ phiếu (Stock Funds):Đầu tư vào cổ phiếu Các quỹ này có thể ở U.S, ở các nước
khác hay là có sự kết hợp giữa chúng Chúng có thể đi theo chủ nghĩa bảo thủ (đầu tư vàonhững công ty đã được thành lập lâu đời), hoặc theo chủ nghĩa tích cực (đầu tư theohướng đi có nhiều rủi ro và nhiều lợi nhuận)
Quỹ trái phiếu (Bond Funds): Quỹ đầu tư vào những trái phiếu chính phủ và trái phiếu
của các tập đoàn Một số rất bảo thủ, chỉ đầu tư vào những trái phiếu có chất lượng cao,rủi ro thấp và mang lại ít lợi nhuận Một số khác thì đầu tư vào những trái phiếu có chấtlượng thấp và có rủi ro cao
Quỹ trái phiếu đia phương (Municipal Bond Funds): Những khoản trái phiếu không
mất thuế được ban hành bởi địa phương hay bởi chính phủ
Quỹ trái phiếu tập đoàn chất lượng cao (High Quality Corporate Bonds):Chỉ đầu tư
vào trái phiếu của những tập đoàn có mức xếp hạng cao với những cơ hội lớn nhất đểđược trả lãi và gốc đúng hạn Ngược lại,Quỹ trái phiếu có lợi nhuận cao (High yield bondfunds) đầu tư vào những công ty có mức xếp hạng thấp, lợi nhuận cao và có mức rủi rorất lớn Những cổ phiếu này còn được gọi là cổ phiếu rác (junk bonds)
Quỹ cân bằng (Balanced Funds): Quỹ mà đầu tư vào cả cổ phiếu (cổ phiếu thường và
cổ phiếu ưu đãi) và đầu tư vào cả trái phiếu Hướng đầu tư của những quỹ này sẽ đượcthể hiện trong bản thông cáo Đa phần họ sở hữu nhiều cổ phiếu hơn là trái phiếu
Quỹ phát triển:Có hướng đi chậm nhưng vững chắc trong dài hạn Quỹ đầu tư vào
những công ty lớn và làm ăn ổn định
Quỹ phát triển tích cực (Aggressive Growth Funds): Quỹ này tìm kiếm các cơ hội để
tối đa hóa lợi nhuận Quỹ này đầu tư vào những công ty mới, thường có những tiềm năng
Trang 9rất lớn nhưng chưa rõ ràng, như là những công ty phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO Initial Public Offering)
-Quỹ thu nhập và tăng trưởng (Growth & Incom Funds):Kết hợp lợi ích của quỹ tăng
trưởng và quỹ thu nhập Quỹ hướng đến việc đầu tư vào những công ty phát hành tốt vànhững công ty cung cấp cổ tức thu nhập
Quỹ chỉ số (Index Funds):Quỹ mà đầu tư vào một lượng lớn cổ phiếu được chọn, cố
gắng để bằng với chỉ số quỹ của thị trường
Quỹ có danh mục linh động (Flexible Portfolio Funds): Quỹ mà trao quyền tự do cho
những nhà quản lý quỹ Số lượng cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt hoặc các khoản đầu tưkhác tiếp tục biến chuyển dựa trên suy nghĩ của nhà quản lý, nơi nào hoặc cái gì có thểmang lại lợi nhuận lớn nhất cho quỹ đó
Quỹ toàn cầu:Đầu tư vào cả cổ phiếu trong nước và cổ phiếu quốc tể Trong quỹ toàn
cầu và quỹ quốc tế, một nhân tố mới được thêm vào sẽ tạo sự chuyển động của giá trị tiềntệ (điều này có thể làm cho quỹ tăng hoặc giảm giá trị)
Quỹ trái phiếu toàn cầu (Global Bonds Funds): Quỹ này mua trái phiếu được ban hành
bởi những công ty ở Mỹ và những công ty nước khác Bởi vì đây là một quỹ toàn cầu, nócũng bị ảnh hưởng bởi tỷ giá hối đoái
Quỹ quốc tế (International Funds): Một quỹ mà đầu tư tất cả tài sản của nó bên ngoài
nước Mỹ và có trụ sở chính bên ngoài nước Mỹ
Quỹ trái phiếu quốc tế (International Bond Funds):Quỹ đầu tư vào những công ty có
trụ sở bên ngoài nước Mỹ Đôi lúc, những quỹ này đầu tư tập trung đầu tư vào 1 khu vựcnhư là thị trường sát nhập ở Thổ Nhĩ Kỳ hoặc là Brazil
Quỹ đầu tư vào một lĩnh vực công nghiệp đơn lẻ (Single Industry Funds): Những quỹ
này chỉ đầu tư vào một ngành công nghiệp nhất định Họ đánh cuộc tất cả vào mảng này
mà không thâm nhập vào mảng khác
Quỹ che chở cộng đồng (Socially Screened Funds): Quỹ có một ý thức xã hội Đầu tư
vào những công ty thân thiện với môi trường Có những lá chắn hợp pháp để chống lạiviệc đầu tư vào những công ty mà hoạt động ở những đất nước vi phạm quyền con người
Quỹ tiền tệ thi trường (Money Market Funds): Những quỹ này theo pháp luật thì phải
đầu tư vào những chứng khoán có rủi ro thấp Họ đầu tư vào những giao ước nợ chỉ trongthời gian ngắn (1 ngày cho đến 1 năm) như là: Treasury Bill, Certificate of Deposit vànhững giấu tờ thương mại của công ty tài chính (những giấy tờ ghi nợ ngắn hạn được banhành bởi một công ty tài chính lớn, có giá trị thấp nhất là $25, trong khoảng thời gian từ30-270 ngày) Nhân tố NAV là không đổi, có giá trị $1/cổ phiếu, nhưng tỷ lệ lãi thì thayđổi Nó không được bảo đảm bởi FDIC, nhưng rủi ro ở đây là thấp Quỹ tiền tệ thị trường
Trang 10là một trong những loại quỹ tương hỗ an toàn nhất Mục tiêu của nó là để bảo toàn tiềngốc và có số cổ tức nhỏ.
Quỹ trái phiếu chính phủ Mỹ (U.S Government Bonds Funds): Những quỹ này được
đầu tư do sự ban hành chứng khoán của ngân khố Mỹ và cả ở những cơ quan liên bang(những nơi không hoàn toàn là của chính phủ, nhưng luôn được cho là an toàn)
Tỷ trọng các kênh đầu tư của các quỹ
(Nguồn: Internet)
Chọn lựa quỹ tương hỗ
Như ta đã biết, có rất nhiều sự lựa chọn Dưới đây là một vài điều cần xem xét khi chọnmột quỹ tương hỗ Hãy luôn lưu ý rằng, trong bản thông cáo của các quỹ thường khôngnói cho ta biết họ đang thực sự sở hữu chứng khoán nào Để tìm ra nó, ta phải yêu cầuđược xem bản báo cáo quý hoặc báo cáo thường niên hàng năm của họ Hãy nhớ rằng nó
có thể thay đổi từ thời gian nó được in ra đến thời gian ta nhận được nó
- Mục tiêu đầu tư:Vùng đầu tư rộng hay hẹp, tích cực hay bảo thủ, là một số mô tả của
quỹ được tìm thấy trong bản thông cáo
- Phong cách đầu tư: Quỹ đầu tư vào công ty lớn hay nhỏ, công ty trong nước hay quốc
tế, hay cả 2; đầu tư vào một mảng hay nhiều mảng, đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu
Trang 11- Ghi chép về kết quả hoạt động: Bạn cần biết rằng quỹ này đã thể hiện như thế nào so
với: 1 Thị trường nói chung, và 2 Những quỹ tương đương Hãy nhìn vào tổng cộng những gì kiếm được (Giá thay đổi + số tiền kiếm được từ việc đầu tư lại) trong nhiều năm
- Chi phí:Trước khi mua, hãy chắc chắn rằng mình đã ý thức được tất cả những khoản
phí liên quan đến quỹ tương hỗ như là: phí bán hàng và phí quản lý, phí marketing và phí quản trị
- Dich vụ:Việc đầu tư vào quỹ và rút vốn ra, hoặc là chuyển từ một quỹ này sang một
quỹ khác của cùng một công ty có dễ dàng không? Họ có những trợ giúp khi mình gọiđến không? Những bản ghi chép của họ có dễ đọc không?
Nói tóm lại, cả những nhà đầu tư mới bắt đầu và những nhà đầu tư chuyên nghiệp đềucần tìm hiểu một cách kỹ lưỡng trước khi mua một quỹ tương hỗ và cần có những chiếnlược đúng đắn để xây dựng và duy trì một danh mục đầu tư hiệu quả
Trong khi cách xếp hạng cổ phiếu là dựa vào số lượng của quyền biểu quyết trên mỗi cổ phiếu, cách xếp hạng của quỹ tương hỗ lại dựa vào các loại chi phí và số lượng phí phải trả cho các cổ phần trong một quỹ.Có 3 loại chính khi xếp hạng quỹ tương hỗ là A, B, và C Bài viết này sẽ đưa ra ưu nhược điểm của các hạng trong quỹ tương hỗ để các nhà đầu tư dễ dàng xem xét và lựa chọn.
Trong việc đầu tư vào quỹ tương hỗ, câu châm ngôn “tiền nào của nấy” đã không còn phản ánh sự thật Không có một bằng chứng nào nói rằng nếu ta trả một khoản phí cao hơn thì sẽ thu lời nhiều hơn cả Trong mọi trường hợp, nhà quản lý quỹ đầu tư với chi phícao hơn sẽ phải chịu nhiều rủi ro hơn để cố gắng tạo ra một khoản lợi nhuận cao hơn –và,tất nhiên, khoản lợi nhuận này không phải là một điều chắc chắn đạt được Vì vậy, nếu những khoản đầu tư nguy hiểm của nhà quản lý không giảm xuống, các nhà đầu tư vào quỹ tương hỗ không chỉ phân tán nhiều tiền bạc vào các khoản chi phí, mà còn thấy giá trị danh mục đầu tư của mình chìm đắm trong các khoản lỗ
Để tránh việc trả khoản phí quá cao và chịu đựng những khoản lỗ vốn, và để tối đa hóa lợi nhuận từ việc đầu tư, việc quan trọng cần làm là tìm hiểu xem hạng quỹ tương hỗ nào
là phù hợp với mình, và những loại phí nào cần phải trả khi đầu tư vào một quỹ tương hỗ
Ở đây, chúng tôi đưa ra một cái nhìn tổng quan về những hạng quỹ tương hỗ khác nhau:
Xếp hạng quỹ tương hỗ:
Trong khi cách xếp hạng cổ phiếu là dựa vào số lượng của quyền bầu phiếu trên mỗi cổ phiếu, cách xếp hạng của quỹ tương hỗ lại dựa vào các loại chi phí và số lượng chi phí phải trả cho các cổ phần trong một quỹ
Trang 12Mặc dù các quỹ tương hỗ có thể có rất nhiều hạng cổ phần, nhưng có 3 loại chính khi xếphạng quỹ tương hỗ là A, B, và C Mỗi loại trên đều có những lợi ích và hạn chế khác nhau Sau đây, chúng ta sẽ đi vào nội dung chi tiết của từng hạng.
Xếp hạng cổ phần dựa vào chi phí phải trả
(Nguồn: Internet)
Hạng A
Ở hạng A,ta phải trả một khoản phí đầu vào (front-end load) được lấy từ khoản tiền đầu
tư ban đầu của mình
Trang 13Ở cổ phần hạng A, số vốn đầu tư ban đầu bị giảm bớt bởi các khoản phí
(Nguồn: Internet)
Ưu điểm
Khoản phí 12b-1 thấp hơn: Phí 12b-1 là khoản phí để duy trì hoạt động đầu tư Cổ phần ở hạng A thường có chi phí 12b-1 thấp hơn, vì vậy nếu có kế hoạch nắm giữ những cổ phần này trong vài năm, một khoản phí đầu ra thấp sẽ có ích trong dài hạn
Tận dụng điểm phá vỡ (Breakpoint):Ở hạng A, sẽ có một tỷ lệ giảm giá (discount rate) thường xuyên dành cho phí đầu vào khi mà khoản đầu tư của mình tăng đến một khoản nhất định Nếu điểm breakpoint đầu tiên là ở mức $25000, ta có thể đầu tư số tiền
đó để nhận được những khoản discount đầu tiên