Còn từ phương diện quản lý thì bảo vệ tàinguyên du lịch là việc xác định một cách có căn cứ các nguồn tài nguyên du lịchcần bảo vệ, xác định trách nhiệm của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Khoa Quản trị Du lịch – Nhà hàng – Khách sạn
BÁO CÁO CUỐI KỲ HỌC PHẦN: LUẬT DU LỊCH TÀI NGUYÊN DU LỊCH – KHU DU LỊCH – ĐIỂM DU LỊCH
Ngành: QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG VÀ DỊCH VỤ ĂN UỐNG
Giảng viên hướng dẫn : THs NGUYỄN LÊ PHƯƠNG ANH
Sinh viên thực hiện :
TP Hồ Chí Minh, 2021
Trang 2KHOA QTDL –
NH – KS
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN Họ và tên sinh viên:
MSSV:
Lớp:
Nhận xét chung:
Tp.HCM, ngày tháng năm 20
Giảng viên hướng dẫn ………
Trang 4MỤC LỤ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
NỘI DUNG 3
1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT DU LỊCH VIỆT NAM 3
1.1 Khái quát về du lịch và dịch vụ du lịch 3
1.2 Khái niệm về du lịch 3
2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH 5
2.1 Khái niệm của tài nguyên du lịch 5
2.2 Phân loại tài nguyên du lịch 5
2.3 Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch 8
2.4 Nội dung và nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch 10 3 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHU DU LỊCH 18
3.1 Khái niệm của khu du lịch 18
3.2 Điều khiện để trở thành khu du lịch 18
3.3 Phân loại khu du lịch 20
4 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỂM DU LỊCH 25
4.1 Khái niệm của điểm du lịch 25
4.2 Yếu tố cấu thành điểm du lịch 25
4.3 Hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận điểm du lịch 27
5 BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 29
Kết luận 30
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có nhu cầuđầy đủ về vật chất mà còn có nhu cầu được thỏa mãn về tinh thần như vui chơi, giảitrí và du lịch Do đó, du lịch là một trong những ngành có triển vọng Ngành du lịchViệt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế giới nhưng vai trò của nóthì không thẻ phủ nhận Du lịch là một ngành “công nghiệp không có khói”, manglại thu nhập GDP cho nền kinh tế, giải quyết mọi công ăn việc làm cho hàng vạn laođộng, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới Nhận thức được điềunày, Đảng và nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngànhkinh tế mũi nhọn
Khi du lịch đã trở nên cần thiết thì những điều luật mà nhà nước thành lập nêncũng dần dần triệt để Luật du lịch giúp cho ngành du lịch trở nên ổn định, an toàn
và dễ quản lý Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày
25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10, Luật này quy định
về du lịch.
Hiện nay Việt Nam đang bước vào tiến trình hội nhập, quá trình công nghiệphóa – hiện đại hóa diễn ra ngày càng sâu rộng hơn, nền kinh tế dần đạt được nhiềuthành tựu hơn Trong điều kiện đó, đời sống người dân đang được cải thiện theotừng ngày theo sau đó là nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi cũng vang lên Vì vậy luật dulịch trở nên vô cùng cần thiết và đã trở thành một trong những bộ luật quan trongcủa nhà nước Là một sinh viên tại giảng đường đại học, để hiểu biết thêm rõ về dulịch cũng như luật du lịch nên em đã quyết định nghiên cứu về luật du lịch của tàinguyên du lịch, khu du lịch và điểm du lịch
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích sau đây:
- Cung cấp một cái nhìn tổng quát cho sinh viên về luật trong vấn đề tàinguyên du lịch, khu du lịch và điểm du lịch
- Phân tích vai trò của luật du lịch trong đề tài
Trang 6- Giúp cho sinh viên hiểu biết hơn về các điều luật, mức phạt khi vi phạmnhững quy định có trong các điểm du lịch và trong bộ luật được ban hành của đảng
và nhà nước
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch, qua
đó góp phần hạn chế tác động tiêu cực đến tài nguyên du lịch của đất nước
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịchViệt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu
Nghiên cứu và xử lý tình huống những mức phạt và quy định của đề tài Tìmhiểu chuyên sâu về các giải pháp và các bộ luật của Nhà nước và Đảng đã ban hànhtrong bộ Luật du lịch
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩaMác – Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước tahiện nay về pháp luật du lịch Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp nghiêncứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, dự báo khoahọc để rút ra các kết luận mang tính chính xác, có ý nghĩa cho luận văn
Trang 71.2 Khái niệm về du lịch
Từ giữa thế kỉ XIX, du lịch phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiệntượng kinh tế xã hội phổ biến, một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống vănhóa xã hội của các quốc gia Đối với các nước đang phát triển du lịch được coi làcứu cách để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của các quốc gia Trước thực tế phát triểncủa du lịch, việc nghiên cứu thảo luận để đi đến thống nhất một số khái niệm cơ bản
về du lịch, trong đó khái niệm về du lịch là một đòi hỏi cần thiết
Thuật ngữ “du lịch” được bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi vòngquanh, là cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người dạo chơi Trong tiếng Anh “to tour”
có nghĩa là đi dã ngoại đến một nơi nào đó Mặt khác, theo nhà sử học Trần QuốcVượng: “du lịch” là từ Hán – Việt, có thể coi là từ ghép giữa “du” là đi chơi với
“lịch” là sự lịch lãm, hiểu biết Có quan niệm cho rằng, du lịch là một dạng hoạtđộng của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thờibên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất
và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêuthụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa
Ngày nay, du lịch được xem là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, baogồm các hoạt động khá đa dạng tư dịch vụ phòng nghỉ, ăn uống, mua bán đồ lưuniệm, hàng hóa… các dịch vụ này được gọi chung là hoạt động du lịch Trên cơ sởtổng hợp lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch tại Việt Nam trong nhiều năm trở lạiđây, Luật Du Lịch năm 2017 đã định nghĩa hoạt động du lịch “là hoạt động củakhách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân,cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch.” (Khoản 3, Luật Du Lịch 2017)
Trang 8Tại hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa – Canada (6/1991) đã đưa rađịnh nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trườngthường xuyên của mình trong một khoảng thời gian nhất định, mục đích của chuyến
đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”.Luật Du Lịch do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóaXIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2017 đưa ra định nghĩa tại khoản
1 Điều 3 như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của conngười ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhucầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kếthợp với mục đích hợp pháp khác”
Từ các khái niệm trên, tác giả cho rằng có rất nhiều khái niệm về du lịch vàđều được định nghĩa theo nghĩa rộng, không phải tất cả các hoạt động đi lại khỏi nơi
cư trú đều là du lịch, việc du lịch được giới hạn lại bởi không gian, thời gian, mụcđích như tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng ở nơi khác, có thời gian cụ thể,khi hết thời gian này thì chủ thể tham gia du lịch sẽ trở lại nơi xuất phát ban đầu(nơi thường trú) Các hoạt động như đi xa vì công việc, đi chữa bệnh, đi du học…đều không phải là du lịch Khái niệm du lịch theo quy định của pháp luật của ViệtNam được giới hạn hẹp với 4 mục đích chính là tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉdưỡng Hay nói cách khác du lịch là phát sinh từ nhu cầu của người đi, thực hiện sự
di chuyển ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, từ nơi này đến nơi khác bằng bất kỳphương tiện nào với mục địch tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng có thời gian
cụ thể và có sự trở về nơi xuất phát ban đầu
Trang 92 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
2.1 Khái niệm của tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị vănhóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đápứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tàinguyên du lịch văn hóa (khoản 4, điều 3, Luật Du Lịch 2017)
Tài nguyên du lịch được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và nhu cầu gián tiếp,
áp dụng vào việc sản xuất dịch vụ du lịch
Hiện nay du lịch đang là một trong những ngành có định hướng tài nguyênmột cách vô cùng rõ rệt Khi đó tài nguyên du lịch có vai trò như một yếu tố cơ bảnhay là điều kiện tiên quyết giúp hình thành cũng như phát triển về du lịch trong mộtđịa phương
Tùy thuộc vào từng số lượng tài nguyên, chất lượng và các mức độ kết hợpcủa chúng trên cùng địa bàn sẽ mang tới ý nghĩa khác nhau và đặc biệt đối với sựphát triển của du lịch Điều này cũng đồng nghĩa với việc sức hấp dẫn về du lịchcủa một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn tài nguyên du lịch có trongđịa phương đó
2.2 Phân loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch được chia thành 2 loại: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tàinguyên du lịch văn hóa (Điều 15, Luật du lịch 2017)
2.2.1 Khái niệm của tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và các yếu tố
có mức độ hấp dẫn cao, phản ánh môi trường địa lý của chúng và có thể được địnhgiá cho mục đích du lịch Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiênnhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tựnhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch (Khoản 1, Điều 15, Luật DuLịch 2017)
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:
- Tài nguyên địa hình – địa chất – địa mạo
- Tài nguyên khí hậu
Trang 10- Tài nguyên nước
- Tài nguyên sinh vật
2.2.1.1 Tài nguyên địa hình – địa chất – địa mạo
Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, là nơi diễn ra tất cả các hoạtđộng của con người Nó được hình thành từ quá trình địa chất, địa mạo lâu dài.Trong hoạt động du lịch, địa hình là cơ sở quan trọng để hình thành nên các loại tàinguyên du lịch khác Các dạng địa hình thích hợp cho sự phát triển các hoạt động
du lịch nổi bật như: địa hình đồng bằng, miền núi, địa hình vùng đồi, địa hình Karst,địa hình ven bờ biển
2.2.1.2 Tài nguyên khí hậu
Tài nguyên khí hậu được xác định nhằm mục đích khai thác phục vụ cho hoạtđộng du lịch bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất không khí, bức xạ mặttrời Khi khai thác tài nguyên khí hậu, ta cần đánh giá ảnh hưởng của nó đối với sứckhỏe của con người Thông thường, những khu vực có khí hậu ảnh hưởng tích cựcđến sức khỏe con người sẽ được nhiều du khách ưa thích và lựa chọn làm nơi nghỉngơi
2.2.1.3 Tài nguyên nước
Tài nguyên nước bao gồm nước ngầm và nước mặt Trong đó, nước mặt baogồm đại dương, biển, suối, thác nước là nguồn tài nguyên có ý nghĩa rất lớn đối vớihoạt động du lịch Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm cũng rất thích hợp cho các hoạtđộng du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh
2.2.1.4 Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật bao gồm nguồn động, thực vật có khả năng sử dụng nhằmmục đích phát triển du lịch Trong hoạt động du lịch, tài nguyên sinh vật có ý nghĩađặt biệt do tính đa dạng sinh học, tạo ra nhiều phong cảnh đẹp, sinh động Tàinguyên sinh vật bao gồm nhiều loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái, du lịch bềnvững, du lịch nghỉ dưỡng
2.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa
Trang 11Tài nguyên sinh vật bao gồm nguồn động, thực vật có khả năng sử dụng nhằmmục đích phát triển du lịch Trong hoạt động du lịch, tài nguyên sinh vật có ý nghĩađặt biệt do tính đa dạng sinh học, tạo ra nhiều phong cảnh đẹp, sinh động Tàinguyên sinh vật bao gồm nhiều loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái, du lịch bềnvững, du lịch nghỉ dưỡng (Khoản 2, Điều 15, Luật Du Lịch 2017).
Một dân tộc sẽ tiêu vong khi đánh mất bản sắc văn hóa Giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc không chỉ để phát triển du lịch Đó còn là cách tốt nhất để bảo vệ độclập và chủ quyền lãnh thổ mà tổ tiên người Việt đã làm rất tốt mấy ngàn năm nay
Văn hóa là khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hành vi, ứng xử của con người trongcuộc sống trong đó có du lịch
Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (World Wide Fund For Nature WWF), Việt Nam xếp 30/140 quốc gia về tài nguyên văn hóa Tổ chức giải thưởng
-du lịch thế giới (World Travel Awards - WTA) đề cử Việt Nam là điểm đến văn hóahàng đầu của du lịch toàn cầu Đa phần du khách, cả trong nước và quốc tế, đềumong muốn được trải nghiệm những khác biệt về văn hóa Việt Nam và chưa đượcthỏa mãn
2.2.2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh
Du lịch tâm linh (Spiritual tourism) bản chất là một loại hình du lịch văn hóanên còn được gọi là du lịch văn hóa tâm linh
Loại hình này khai thác yếu tố văn hóa tâm linh làm cơ sở và mục tiêu đápứng nhu cầu tâm linh của con người Nói cách khác, đó là những hoạt động du lịch
về các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử, giá trị về tín ngưỡng, tôngiáo và những giá trị tinh thần đặc biệt khác
Du lịch văn hóa tâm linh được thể hiện qua việc con người di chuyển tới cácđịa điểm, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng để tham quan, cúng bái, cầu nguyện hoặc tìmhiểu về các triết lý, giáo phái
Trong giai đoạn vừa qua, Du lịch Việt Nam chứng kiến giai đoạn tăng trưởngmạnh mẽ với tỷ lệ ấn tượng trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS
2003 và suy thoái kinh tế thế giới 2009) Năm 2012, với 6,8 triệu lượt khách quốc
tế, 32,5 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt 160.000 tỷ đồng 10 tháng đầunăm 2013 số khách quốc tế đạt 6,12 triệu lượt, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm
2012 Với tốc độ đó, ước tính 2013 Việt Nam sẽ đạt mốc 7,4 triệu lượt khách quốc
Trang 12tế và 35 triệu lượt khách nội địa, tổng thu sẽ đạt 195.000 tỷ đồng (tương đương 9 tỷUSD) Như vậy, chỉ sau 4 năm phục hồi suy thoái, lượng khách quốc tế đến ViệtNam đã tăng gấp 2 lần, tổng thu du lịch tăng trên 2,2 lần Với những chỉ tiêu tổngthể đó thì mục tiêu chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2015 đã về đíchtrước 2 năm Đạt được kết quả tăng trưởng đó có sự đóng góp tích cực của du lịchtâm linh với những kết quả đáng ghi nhận
2.3 Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch
Xã hội loài người ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống ngày càng tăng kéotheo nhu cầu khai thác tài nguyên phục vụ cho các hoạt động phát triển cũng ngàycàng tăng cao Mỗi ngành nghề khác nhau lại có yêu cầu khác nhau trong khai thác,
sử dụng các nguồn tài nguyên, nên việc phân chia các nhóm nguồn tài nguyên phục
vụ cho từng lĩnh vực cũng có xu hướng ngày càng cụ thể, chi tiết hơn Sự phân biệt
rõ chức năng của mỗi nguồn tài nguyên phù hợp với từng lĩnh vực là nhằm giúp chocông tác quản lý các nguồn tài nguyên được thuận lợi, hiệu quả hơn và tài nguyên
du lịch cũng được tiếp cận theo hướng đó
Từ những phân tích trên cho thấy tài nguyên du lịch có giá trị quan trọng vàrất cần thiết cho sự phát triền và nâng cao chất lượng cuộc sống của các quốc giatrong đó có Việt Nam Để phát huy ở mức cao nhất các tác dụng của tài nguyên dulịch thì việc bảo vệ nguồn tài nguyên này vừa là đòi hỏi mang tính khách quan vừa
là yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch
Theo cách hiểu phổ thông thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc chống lại mọi
sự hủy hoại, xâm phạm đến các loại tài nguyên du lịch để giữ cho tài nguyên du lịchđược nguyên vẹn đúng như giá trị của nó Còn từ phương diện quản lý thì bảo vệ tàinguyên du lịch là việc xác định một cách có căn cứ các nguồn tài nguyên du lịchcần bảo vệ, xác định trách nhiệm của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cánhân trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng vàbảo đảm phát triển du lịch bền vững Nói cách khác, bảo vệ tài nguyên du lịch làviệc áp dụng đồng bộ các giải pháp về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, pháp lý nhằm bảotồn, giữ gìn và pháy huy có hiệu quả cao nhất giá trị của các tài nguyên du lịch Bảo
vệ tài nguyên du lịch là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, của các tổchức cá nhân
Trang 132.3.1 Khái niệm về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch
Như đã đề cập, bảo vệ tài nguyên du lịch là nhu cầu cần thiết, khách quan, gópphần bảo đảm phát triền kinh tế đất nước Bảo vệ tài nguyên du lịch có thể đượcthực hiện bằng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau, như biện pháp tuyên truyền,giáo dục ý thức vảo vệ tài nguyên du lịch cho người dân, biện pháp khuyến khíchđầu tư phát triển tài nguyên du lịch và các biện pháp pháp lý về bảo vệ tài nguyên
có thể đưa ra khái niệm pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch như sau: Pháp luậtbảo vệ tài nguyên du lịch dịch là tổng thể những quy phạm pháp luật, điều chỉnh cácquan hệ xã hội khi phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình tác động lên cảnh quanthiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, trong trình lao động sáng tạocủa con người và các giá trị nhân văn khác nhằm bảo vệ chúng khỏi sự xâm phạmlàm ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nói riêng và sự phát triền kinh tế, xã hội nóichung
So với pháp luật bảo vệ các nguồn tài nguyên khác, pháp luật bảo vệ tàinguyên du lịch có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch là một bộ phận quan trọngtrong pháp luật về du lịch Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản,điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch Số lượng tài nguyên vốn có,chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên khác có ý nghĩa đặcbiệt đối với sự phát triển du lịch Hiện nay, một số loại tài nguyên du lịch đã vàđang bị xâm hại nghiêm trọng Theo đó, để bảo vệ tài nguyên du lịch cần phải cónhững quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh Pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch baogồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bảo vệ các tàinguyên du lịch nhằm làm cho ngành du lịch phát triển bền vững, trở thành ngành
Trang 14kinh tế mũi nhon của đất nước Chính vì vậy, nó không thể tách rời với pháp luật dulịch.
Thứ hai, phạm vị điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch rấtrộng, liên quan đến nhiều loại tài nguyên du lịch khác nhau, nhiều chủ thể khácnhau trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch và được thể hiện trong nhiều văn bản quyphạm pháp luật khác nhau Chẳng hạn : Luật Di sản văn hóa năm 2013 quy định vềcác hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, xác định quyền và nghĩa vụ củacác tổ chức cá nhân đối với di sản văn hóa, Luật Lâm Nghiệm 2017 quy định về bảo
vệ các khu rừng đặc dụng, các vườn quốc gia, khu bảo tôn cảnh quan, quy định vềquyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ di sản thiênnhiên,… giữa các văn bản trên luôn có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhautạo thành hệ thống pháp luật chung bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch, từ tàinguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn
Thứ ba, các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch điềuchỉnh rất đa dạng bao gồm: nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác và sửdụng tài nguyên du lịch, nhóm quan hệ hình thành trong hoạt động của các cơ quanquản lý nhà nước về tài nguyên du lịch, nhóm quan hệ hình thành giữa các tổ chức,
cá nhân khác trong bảo vệ tài nguyên du lịch, nhóm quan hệ về các biện pháp xử lýđối với những hành vi xâm hại đến tài nguyên du lịch Các chủ thể liên quan đều cótrách nhiệm bảo vệ các tài nguyên du lịch Đối với từng nguồn tài nguyên du lịch cụthể còn có các quy định cụ thể về bảo vệ tài nguyên du lịch đó
2.4 Nội dung và nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên
du lịch
Xuất phát từ tính đa dạng của của các loại tài nguyên du lịch, đa dạng về cácchủ thể trong quan hệ bảo vệ tài nguyên du lịch nên pháp luật về bảo vệ tài nguyên
du lịch cũng có khá nhiều nội dung
Những nội dung có tính nguyên tắc của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch
là những nội dung mang tính tu tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng và tổ chức thựchiện các quy định cụ thể của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch
Bảo vệ tài nguyên du lịch được hiểu là luôn giữ gìn nguyên vẹn các nguồn tàinguyên du lịch trong quá trình diễn ra các hoạt động của con người tác động vàochúng, đưa ra các biện pháp phòng, chống nhằm ngăn chặn những tác động từ thiên
Trang 15nhiên có thể xâm hại đến tài nguyên du lịch, đấu tranh và xử lý nghiêm minh đốivới những thành phần gây hại đến các nguồn tài nguyên du lịch Còn quá trình tôntạo tài nguyên du lịch là một trong những hình thức thiết yếu trong việc duy trì sựtồn tại của các nguồn tài nguyên du lịch Tôn tạo là việc sửa chữa những chỗ bị hưhỏng, mai một của một tài nguyên du lịch nào đó, khôi phục lại những giá trị vốn cócủa tài nguyên du lịch khiến cho tài nguyên du lịch đó được bảo lưu lâu dài hơn,bền vững hơn.
Không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch một cách thụđộng, các hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên du lịch cũng cần được chú ý.Khai thác hợp lý tài nguyên du lịch là việc con người sử dụng các nguồn tài nguyênvào mục đích phục vụ cho phát triền kinh tế du lịch, song cần khai thác sử dụng nómột cách khoa học, trên cơ sở vừa sử dụng đủ và đúng mục đích nhưng vẫn giữnguyên vẹn giá trị của nguồn tài nguyên du lịch đó, để việc sử dụng được diễn rabền vững, ổn định, tránh tình trạng lạm dụng khai thác triệt để, tài nguyên khôngkịp phục hồi hay bị mất hẳn Có thể thấy bên cạnh công tác bảo vệ tài nguyên dulịch thì luôn cần có sự có mặt của cộng tác tôn tạo và các hành động khai thác hợp
lý tài nguyên du lịch Chỉ có như thế thì việc bảo vệ tài nguyên du lịch mới đạt đượchiệu quả cao Những hành động bảo vệ, tôn tạo, khai thác hợp lý tài nguyên du lịchđược thể hiện trước hết ở các văn bản pháp luật có hiệu lực thi hành, cùng với đó lànhững hành động cụ thể của toàn dân
Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước Nộidung này cũng được xem là mang tính nguyên tắc của bảo vệ tài nguyên du lịch.Chủ nghĩa Mác đã nhấn mạnh:
Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy môtương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều chỉnh những hoạtđộng cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động củatoàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp vàpháp luật Nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình đối với xã hội bằng phápluật Các lợi ích kinh tế, chính trị và xã hội được thể chế hóa bằng pháp luật và đượcpháp luật bảo vệ Do đó mà pháp luật luôn do nhà nước ban hành và đảm bảo thựchiện, nó là công cụ điều chỉnh các quy tắc xử sự, hành vi của con người có hiệu lực
Trang 16nhất Mặt khác pháp luật quy định những biện pháp nhằm ngăn chặn, trừng phạtnhững hành vi trái các quy định mà pháp luật quy định Chính vì thế mà quản lý nhànước đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đời sống xã hội nói chung, bảo
vệ tài nguyên du lịch nói riêng Trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên du lịch, vai trò củaquản lý nhà nước càng trở nên quan trọng và cần thiết, vì xét cả từ khía cạnh bảnchất tự nhiên và bản chất pháp lý, tài nguyên du lịch được xem là một loại “hànghóa công cộng”, phục vụ đời sống tinh thần của đông đảo người dân nên Nhà nước
là đại diện “đương nhiên” trong việc quản lý nguồn tài nguyên này
Tính thống nhất trong quản lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên du lịch được thểhiện qua việc Nhà nước ban hành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật vềbảo vệ tài nguyên du lịch thống nhất, mang tính bắt buộc chung trong toàn xã hội;thành lập một hệ thống thống nhất các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ tàinguyên du lịch từ trung ương đến địa phương; xác định thống nhất các nội dung,cách thức, biện pháp quản lý tài nguyên du lịch
Bảo vệ tài nguyên du lịch vừa là mục tiêu, vừa là nội dung cơ bản của sự pháttriển bền vững ngành Du lịch Như đã phân tích ở trên, bảo vệ tài nguyên du lịch có
ý nghĩa quyết định đối với phát triển du lịch nói chung, phát triển ngành Du lịch nóiriêng Điều này có ý nghĩa là mọi đường hướng phát triển ngành Du lịch đều coinhiệm vụ bảo vệ tài nguyên du lịch là trọng tâm Mọi chiến lược, dự án, quy hoạch
về phát triển du lịch đều phải có nội dung bảo vệ tài nguyên du lịch cũng như việcthực hiện chiến lược, dự án, quy hoạch phát triển du lịch phải căn cứ vào các quyđịnh pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch
Bảo vệ tài nguyên du lịch phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chếtác động xấu đối với tài nguyên du lịch là chính, kết hợp với khắc phục những hậuquả của việc xâm phạm đến tài nguyên du lịch; kết hợp với đầu tư của Nhà nước vớiđẩy mạnh nguồn lực trong xã hội trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch Cũng nhưcác nguyên tắc chung về bảo vệ môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiênnhiên, phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với tài nguyên du lịch bao giờ cũngtiết kiệm hơn, bền vững hơn so với khắc phục hậu quả gây ra đối với tài nguyên dulịch Nhiệm vụ của pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch là phải quy phạm hóa cácbiện pháp phòng ngừa ngay từ khâu lập kế hoạch, phân vùng phát triển du lịch đếnviệc khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch… Bên cạnh đó, việc xã hội hóa các
Trang 17nguồn lực bảo vệ tài nguyên du lịch cũng được xem là biện pháp góp phần hiệnthực hóa nguyên tắc “bảo vệ tài nguyên du lịch là sự nghiệp của toàn dân”
Bảo vệ tài nguyên du lịch là quyền lợi và nghĩa vụ của các cơ quan quản lýnhà nước, cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân, là biểu hiện của nếp sống có vănhóa, đạo đức là tiêu chí đánh giá quan trọng của xã hội văn minh
Bên cạnh những yêu cầu mang tính pháp lý về bảo vệ tài nguyên du lịch như
đã phân tích ở trên (trong đó quy định cụ thể phạm vi quyền, quyền lợi, nghĩa vụcủa người dân, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành của Nhà nước
về bảo vệ tài nguyên du lịch), bảo vệ tài nguyên du lịch còn là những đòi hỏi mangtính đạo đức, thể hiện cách ứng xử văn hóa, văn minh của con người đối với nhữnggiá trị nhân văn của tài nguyên du lịch Chương trình “Đi xuyên Việt để bảo vệrừng” do Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam tổ chức; Chương trình
“Một triệu cây xanh cho Việt Nam” do Tổng cục Môi trường phát động; Chươngtrình “Hành động giai đoạn 2014 - 2020 triển khai thực hiện Quyết định số1570/2013/QĐ-TTg ngày 6/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệtChiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa lànhững ví dụ điển hình về cách ứng xử đầy tính nhân văn đối với tài nguyên du lịch.2.4.1 Quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ tàinguyên du lịch
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội nói chung, quản lýtài nguyên du lịch nói riêng Bên cạnh việc ban hành các quy định pháp luật về quản
lý tài nguyên du lịch là việc hình thành tổ chức bộ máy thực hiện các chức năng,nhiệm vụ theo quy định
Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp là những cơ quan có thẩm quyềnchung trong lĩnh vực quản lý bảo vệ tài nguyên du lịch Trong những năm qua, nhờ
sự chỉ đạo thường xuyên, chiến lược phát triển đúng đắn của Chính phủ và Ủy bannhân dân các cấp mà lĩnh vực du lịch nói chung, bảo vệ tài nguyên du lịch nói riêng
ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn
Với tư cách là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhấtcủa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ chịu trách nhiệm trướcQuốc hội về hoạt động du lịch trên cả nước, đồng thời đề ra các chủ trương biện
Trang 18pháp hiệu quả để khai thác và phát triển du lịch Việt Nam Chính phủ sẽ quyết địnhchính sách cụ thể về bảo vệ tài nguyên du lịch, phân công nhiệm vụ, quyền hạn củacác bộ, ngành liên quan đến bảo vệ tài nguyên du lịch, quyết định xếp hạng các ditích quốc gia đặc biệt Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thành lập bảo tàngquốc gia, bảo tàng chuyên ngành; quyết định việc cho phép đưa các bảo vật quốcgia ra nước ngoài, quyết định phê duyệt các kế hoạch quy hoạch tổng thể phát triểnngành, vùng, địa bàn du lịch trọng điểm, khu du lịch quốc gia Trước đó, Luật LâmNghiệp 2017 cũng có quy định về trách nhiệm của Chính phủ trong việc quản lýnhà nước về bảo vệ và phát triển rừng: “Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, tổ chứcquản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm các diện tích rừng có chủ” (Khoản 1, Điều 24, LuậtLâm Nghiệp 2017) Việc quy định rõ chức năng, trách nhiệm riêng biệt của từngcấp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch thực sự trở thành nền kinh tế mũi nhọn, mởrộng và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch trong nước và phát triển du lịch quốctế.
Ủy ban nhân dân các cấp với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước ở địaphương nên cũng có vai trò không nhỏ trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch Tráchnhiệm quản lý, bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch của các cơ quan quản
lý nhà nước, Ủy ban nhân dân được quy định ở Luật Du lịch năm 2017, theo đó “Cơquan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy bannhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý tài nguyên du lịch, phối hợp trong việc bảo
vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch” (Khoản 1, Điều 17,Luật Du Lịch 2017)
Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình vàtheo sự phân cấp của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhànước về du lịch tại địa phương, cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế,chính sách phát triển bảo vệ tài nguyên du lịch phù hợp với thực tế ở địa phương và
có biện pháp bảo đảm an toàn, trật tự, an toàn xã hội tại khu du lịch, điểm du lịch,
đô thị du lịch, tuyến du lịch Bên cạnh Luật Du Lịch 2017, Luật Lâm Nghiệp 2017cũng có nhiều quy định về quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnhvực bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân các cấp: “ Cơ quan nhà nước, tổchức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ rừng theo quyđịnh của Luật này, pháp luật về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường, đa
Trang 19dạng sinh học, bảo vệ va kiểm dịch thực vật, thú y và quy định khác của pháp luật
có liên quan” (Khoản 1, Điều 43, Luật Lâm Nghiệp 2017)
Cụ thể hơn là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn có quyền tổ chức, lập quy hoạchtổng thể phát triển du lịch của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trình Hội đồngnhân dân cùng cấp quyết định sau khi có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về dulịch ở trung ương, xác định quỹ đất dành cho công trình, kết cấu hạ tầng du lịch, cơ
sở vật chất - kỹ thuật du lịch trong đô thị, công bố khu du lịch địa phương, điểm dulịch địa phương, tuyến du lịch địa phương sau khi có quyết định công nhận, Chủtịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc thực hiện tổ chức lập hồ sơ khoa học disản văn hóa phi vật thể ở địa phương để bảo vệ và phát triển giá trị Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm kê di tích ở địa phương và lựa chọn, lập hồ sơ khoahọc để quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh, trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchxếp hạng di tích quốc gia
Bên cạnh các cơ quan có thẩm quyền chung thì các cơ quan có thẩm quyềnchuyên môn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch Ởcấp Trung ương đó chính là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan chuyên môn trựcthuộc Bộ Nghị định số 76/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2013 của Chính phủquy định về nhiệm vụ, quyền hạn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với lĩnh vực
du lịch, gồm: Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định về thành lập bảo tàng quốcgia, bảo tàng chuyên ngành thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; xếp hạng vàđiều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt; phê duyệt chủ trương,nhiệm vụ và đồ án quy hoạch tổng thể di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia cóquy mô đầu tư lớn, xếp hạng di tích quốc gia, bảo tàng hạng I, điều chỉnh khu vựcbảo vệ đối với di tích quốc gia, hướng dẫn thủ tục đăng ký di vật, cổ vật, điều kiệnthành lập và hoạt động của cơ sở giám định cổ vật, chủ trì, phối hợp với các cơquan, tổ chức liên quan xây dựng cơ chế chính sách huy động, quản lý, sử dụng cácnguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa (7, Điều 2)
2.4.2 Quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo bệ tài nguyên
du lịch
Theo Luật Di sản văn hóa năm 2013, tổ chức, cá nhân quản lý trực tiếp di sảnvăn hóa có các quyền và nghĩa vụ: bảo vệ, giữ gìn di sản văn hóa, thực hiện cácbiện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại di sản văn hóa,