Tài liệu dùng để ôn tập thi kết thúc học phần và thi kiểm tra giữa kì cho môn Phương pháp nghiên cứu khoa học. tài liệu trả lời những câu hỏi cơ bản về khoa học, nghiên cứu khoa học, đối tượng nghiên cứu khoa học, mục đích nghien cứu khoa học và cách thức tiến hành một bài luận về nghiên cứu khoa học.
Trang 1Nội dung ôn tập môn PPNCKH.
Câu 1: khái niệm khoa học.
Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo ra và hệ thống hóa những
tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội, tức là toàn
bộ những tri thức khách quan làm nền tảng cho một bức tranh của thế giới Từ “khoa học” cũng có thể biểu thị những lĩnh vực tri thức chuyên ngành nhằm miêu tả, giải thích
và dự báo các quá trình, các hiện tượng của thực tiễn dựa trên những quy luật mà nó khám phá
Khoa học được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật, hiện
tượng và vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý, các giải pháp tác động vào các sự vật hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng
Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy với những quy luật phát
triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện ấy, phát hiện ra những mối liên hệ của các sự kiện, vũ trang cho con người những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp
dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống (Theo tác giả Nguyễn Văn Lê (1997) Phương pháp luận NCKH giáo dục, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh).
Khoa học là tổng hợp các tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy trong quá trình lịch
sử hướng đến mục đích cơ bản của nó là xây dựng lý luận để giải thích và tiên đoán các hiện tượng, nhằm thực hiện chức năng xã hội của nó là phục vụ cho các hoạt động thực
tiễn (Theo tác giả Dương Thiệu Tống (2002), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý, NXB Khoa học xã hội).
Từ các định nghĩa trên có thể rút ra những điểm cơ bản của khoa học là:
Thứ nhất: Khoa học là hệ thống những tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội
và tư duy được tích lũy trong lịch sử.
Khoa học có nguồn góc sâu xa từ trong thực tiễn lao động sản xuất, những hiểu biết (tri thức) ban đầu thường được tồn tại dưới dạng kinh nghiệm
Trang 2- Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày, nhờ đó con người hình dung ra được sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong quan hệ xã hội Tuy chưa đi sâu vào bản chất sự vật, song những tri thức kinh nghiệm làm cơ sở cho sự hình thành các tri thức khoa học
- Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống và được khái quát hóa nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học Nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm mà là sự khái quát hóa thực tiễn, sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc thành hệ thống các tri thức bản chất về các sự vật hiện tượng Các tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các bộ môn khoa học
- Như vậy, khoa học ra đười từ thực tiễn và vận động, phát triển cùng với sự vận động, phát triển của thực tiễn Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thậm trí nó vượt lên trước hiện thực hiện có Vai trò của khoa học ngày càng gia tăng và đang trở thành động lực trực tiếp của phát triển kinh tế xã hội
Thứ hai: Khoa học là một quá trình nhận thức
- Tìm tòi, phát hiện các quy luật của sự vật, hiện tượng và vận dụng các quy luật đó
để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật hoặc hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng Khoa học chỉ tìm thấy chân lý khi áp dụng được lý thuyết của mình vào thực tiễn một cách có hiệu quả
Thứ ba: Khoa học là một hình thái ý thức xã hội
Một bộ phận hợp thành của ý thức xã hội, nó tồn tại mang tính độc lập tương đối và phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng, hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt Nhưng nó có mối quan hệ đa dạng và phức tạp với các hình thái ý thức xã hội khác tác động mạnh mẽ đến chúng Ngược lại, các hình thái ý thức xã hội khác cũng có những ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, đặc biệt đối với sự truyền bá, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào đời sống
Thứ tư: Khoa học là một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp xã hội đặc thù
Là hoạt động sản xuất, tinh thần mà sản phẩm của nó ngày càng tham gia mạnh mẽ
và đầy đủ vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là sản xuất vật chất thông qua đổi mới hình thức, nội dung, trình độ kỹ thuật, công nghệ và làm thay đổi chính cả bản thân
Trang 3con người trong sản xuất Xuất phát từ đó, xã hội yêu cầu phải tạo ra cho khoa học một đội ngũ những người hoạt động chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn nhất định, có phương pháp làm việc theo yêu cầu của từng lĩnh vực khoa học
Hệ thống các khoa học được chia thành nhóm khoa học tự nhiên, nhóm khoa học kỹ thuật và nhóm khoa học xã hội
Câu 2: Khái niệm nghiên cứu khoa học.
Khái niệm nghiên cứu khoa học được nhìn nhận theo nhiều quan điểm thuộc các phạm vi khác nhau như:
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều
mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học
về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới
Nghiên cứu khoa học theo Tiến sỹ Dương Thiệu Tống “Là một hoạt động tìm hiểu
có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng” Nó lad một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập, những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặt các
dữ liệu lại với nhau rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường quy nạp và diến dịch Đồng quan điểm trên Vũ Cao Đàm cho rằng nghiên cứu khoa học nói chung là nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là:
+ Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng.
+ Phát hiện quy luật của sự vật hiện tượng.
+ Vận dụng quy luật để sáng tạo ra giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng.
Như vậy, nghiên cứu khoa học là một hoạt động đặc biệt của con người Đây là một hoạt động có mục đích có kế hoạch, được tổ chức chặt chẽ của một đội ngũ các nhà khoa học với những phẩm chất đặc biệt, được đào tạo ở trình độ cao.
Khái niệm nghiên cứu khoa học được phát biểu như sau: Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích
Trang 4những điều mà con người chưa biết đến hoặc biết chưa đầy đủ, tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới có giá trị mới về nhận thức mới hoặc phương pháp.
Vậy nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức hướng vào:
+ Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng;
+ Phát hiện các quy luật vận động vốn có của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và
xã hội nhằm phát triển nhận thức khoa học về thế giới
Nghiên cứu khoa học là hoạt động trí tuệ sáng tạo góp phần cải tạo hiện thực: + Vận dụng quy luật để sáng tạo các giải pháp tác động vào sự vật hiện tượng + Tạo dựng các nguyên lý hoàn toàn mới về “công nghệ” nhằm phục vụ cho công cuộc chế biến vật chất và thông tin
Kết luận: Vậy bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới và tạo ra hệ thống trí thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới
Câu 3: Các chức năng của nghiên cứu khoa học.
Hai mục đích cơ bản của nghiên cứu khoa học: nhận thức và cải tạo thế giới được thực hiện thông qua các chức năng sau:
Mô tả:
Nhận thức khoa học thường được bắt đầu bằng sự mô tả sự vật (đối tượng nghiên cứu) Người nghiên cứu đưa ra hệ thống tri thức về nhận dạng đối tượng nghiên cứu: tên gọi, hình thái, động thái, cấu trúc, chức năng của nó; mô tả định tính nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của đối tượng, mô tả định lượng nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của đối tượng…giúp phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa đối tượng nghiên cứu với
sự vật khác Kết quả của sự mô tả là khái niệm được phát biểu lên bằng kinh nghiệm Giải thích:
Giải thích trong nghiên cứu khoa học là làm roc căn nguyên dẫn đến sự hình thành, phát triển và quy luật chi phối quá trình vận động của đối tượng nghiên cứu; đưa ra thông tin
lý giải về bản chất của đối tượng (khẳng định bản chất được phát biểu dưới dạng tính chất, chứng minh tính quy luật của những gì đã khẳng định về bản chất của đối tượng) Người nghiên cứu đưa ra những thông tin giải thích về nguồn gốc hình thành, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả của tác động, quy luật chung chi phối quá trình vận động của
Trang 5đối tượng nghiên cứu – đó là những thông tin về thuộc tính bản chất của đối tượng
nghiên cứu giúp nhận dạng không chỉ những biểu hiện bên ngoài mà còn cả những thuộc tính bên trong của đối tượng nghiên cứu Kết quả của sự giải thích là tri thức đạt đến trình
độ tư duy lý luận
Tiên đoán:
Tiên đoán về sự vật là sự nhìn trước quá trình hình thành, phát triển, tiêu vong, sự vận động và những biểu hiện của sự vật trong tương lai Nhờ hai chức năng: mô tả, giảu thích
mà người nghiên cứu có khả năng ngoại suy, nhìn trước xu thế vận động, quá trình hình thành, phát triển, và sự biểu hiện của đối tượng nghiên cứu trong tương lai Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học mọi phép ngoại suy và dự báo đều phải chấp nhận độ sai lệch nhất định Sự sai lệch trong các kết quả dự báo có thể do nhiều nguyên nhân: nhạn thức ban đầu của người nghiên cứu chưa chuẩn xác, sai lệch do quan sát, sai lệch do những luận cứ bị biến dạng trong sự tác động của những sự vật khác, môi trường cũng luôn có thể biến động.v.v
Sáng tạo:
Ngiên cứu khoa học không bao giờ dừng lại ở chức năng: mô tả, giải thích và tiên đoán,
mà sứ mệnh có ý nghĩa lớn lao của nghiên cứu khoa học là sáng tạo các giải pháp để cải tạo thế giới Hơn nữa, nghiên cứu khoa học luôn hướng tới cái mới đòi hỏi sự sáng tạo và nhạy bén của tư duy
Câu 4: các loại hình nghiên cứu khoa học.
Có nhiều cơ sở để phân loại nghiên cứu khoa học Trong phần này chỉ đề cập hai cơ
sở phân loại thường dùng
2.4.1 Phân loại theo chức năng nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả: Là trình bày bằng ngôn ngữ hình ảnh chung nhất của sự vật,
cấu trúc, trạng thái, sự vận động của sự vật Nhờ nghiên cứu khoa học mà sự vật được mô
tả một cách chân thực, phù hợp với quy luật vận động như nó tồn tại
Mục đích: đưa ra một hệ thống tri thức về sự vật, giúp cho con người một công cụ nhận dạng thế giới, phân biệt được sự khác biệt về bản chất giữa một sự vật này với một
sự vật khác Nội dung mô tả bao gồm:
+ Mô tả hình thái bên ngoài của sự vật từ hình thể trạng thái vật lý đến hình thức tồn tại xã hội, các trạng thái tâm lý, xã hội và chính trị của sự vật
Trang 6+ Mô tả cấu trúc của sự vật, tức là mô tả các bộ phận cấu thành và mối liên hệ nội tại giữa các bộ phận đó, như mô tả hệ thống cơ cấu của một hệ thống khái niệm, cơ cấu của một hệ thống kỹ thuật, cơ cấu xã hội, cơ cấu kinh tế, cấu trúc vật lý
+ Mô tả động thái của sự vật trong quá trình vận động, ví dụ xu thế biến động của một hệ thống giáo dục, quá trình phát triển của một công nghệ…
+ Mô tả tương tác giữa các yếu tố cấu thành sự vật, ví dụ tương tác giữa hai ngành kinh tế, tương tác giữa hai nhóm xã hội
+ Mô tả tác nhân gây ra sự vận động của sự vật, ví dụ động cơ làm việc của con người
+ Mô tả hậu quả của những tác động vào sự vật hiện tượng ở đây có sự tác động tích cực (dương tính) và có tác động tiêu cực (âm tính), và có những hậu quả ngoài ý muốn (ngoại biên)
+ Mô tả quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật hiện tượng
+ Mô tả định tính (chỉ rõ các đặc trưng về chất của sự vật hiện tượng)
+ Mô tả định lượng (chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật hiện tượng)
Ví dụ: Đề tài nghiên cứu “Tính tích cực học tập của sinh viên khối Sư phạm Trường
Đại học Thủ đô Hà Nội”
- Nghiên cứu giải thích: Là làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và quy luật
chi phối quá trình vận động của sự vật Nhằm trả lời đúng câu hỏi “tại sao”, “vì sao”, nguyên nhân….vv
- Mục đích: Đưa ra những thông tin thuộc về thuộc tính bản chất của sự vật để có thể nhận dạng không chỉ những biểu hiện bên ngoài mà còn cả những thuộc tính bên trong của sự vật Bao gồm:
+ Giải thích nguồn gốc;
+ Giải thích quan hệ;
+ Giải thích tác nhân;
+ Giải thích mối liên hệ;
+ Giải thích hậu quả;
Trang 7Ví dụ: Nghiên cứu những lý do mà sinh viên Việt Nam hiện nay có xu hướng thích
đi du học hơn là chọn học trong nước
- Nghiên cứu dự báo: nhằm chỉ ra xu hướng vận động của các hiện tượng, sự vật
trong tương lai
Ví dụ: Nghiên cứu các xu hướng lựa chọn ngành, nghề của học sinh trong 5 năm
tới
- Nghiên cứu sáng tạo: nhằm tạo ra các qui luật, sự vật mới hoàn toàn, hoặc các
phương pháp, các giải pháp
2.4.2 Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ bản: Là nghiên cứu nhằm phát hiện về bản chất và qui luật của
sự vật hoặc hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, con người Kết quả của nghiên cứu cơ bản
là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, những định luật, những phát minh mới
Nghiên cứu cơ bản được phân làm 2 loại: Nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng
+ Nghiên cứu cơ bản thuần tuy: là những nghiên cứu chỉ mới nhằm mục đích duy nhất là tìm ra bản chất và qui luật của tự nhiên và xã hội để nâng cao nhận thức, chưa có
sự vận dụng nào vào một hoạt động cụ thể của con người
+ Nghiên cứu cơ bản định hướng: là nghiên cứu đã dự kiến trước mục đích ứng dụng
+ Sản phẩm của hoạt động nghiên cứu cơ bản: gồm các phát hiện, phát kiến, công thức, phát minh và thường dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau
Ví dụ: Phát hiện lý thuyết tiến hóa của Darwin, chính là những kết quả nghiên cứu
cơ bản Nghiên cứu cơ bản của các nhà nghiên cứu thế hệ sau có thể bổ sung, sửa đổi hoặc, thậm chí, thay thế kết luận của các nhà nghiên cứu đi trước
- Nghiên cứu ứng dụng: Là sự vận dụng các qui luật từ nghiên cứu cơ bản (thường
là nghiên cứu cơ bản định hướng) để đưa ra nguyên lý về các giải pháp có thể bao gồm
Trang 8công nghệ, sản phẩm, vật liệu thiết bị, nghiên cứu áp dụng các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào trong một môi trường mới của sự vật và hiện tượng
- Sản phẩm nghiên cứu: có thể là một giải pháp mới về tổ chức, quản lý, xã hội hoặc công nghệ, vật liệu, sản phẩm…
Lưu ý: Mặc dù gọi là nghiên cứu ứng dụng nhưng kết quả của nó thì chưa thể ứng
dụng ngay được Để có thể đưa kết quả của nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong thực
tế thì còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác nữa, gọi là nghiên cứu triển khai
- Nghiên cứu triển khai: vận dụng các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng để tổ chức
triển khai, thực hiện ở qui mô thử nghiệm
Ví dụ: Áp dụng các giải pháp nhằm nâng cao tính tích cực học tập của sinh viên
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Lưu ý: Kết quả triển khai thì chưa triển khai được vì sản phẩm của hoạt động triển
khai mới chỉ là những vật mẫu, hình mẫu có tính khả thi về kỹ thuật nghĩa là chỉ mới được khẳng định không còn xác suất rủi ro về mặt kỹ thuật trong áp dụng Điều này chưa hoàn toàn có nghĩa đã có thể áp dụng ngay vào thực tế Bởi vì, để áp dụng được vào một điều kiện kinh tế hoặc xã hội nào đó, cần phải tiến hành nghiên cứu tính khả thi về tài chính, khả thi về kinh tế, khả thi về môi trường, khả thi về xã hội và chính trị mới đem ứng dụng vào một địa chỉ cụ thể được
Hoạt động triển khai được phân chia thành các loại hình sau: Triển khai trong phòng thí nghiệm; Triển khai bán đại trà (pilot); Triển khai đại trà
Câu 5: các quan điểm tiếp cận nghiên cứu khoa học giáo dục.
Với 2 nguyên lý (Mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển); 3 quy luật (Đấu tranh thống nhất giữa các mặt đối lập, Phủ định của phủ định, Lượng đổi chất đổi); 6 cặp phạm trù (Bản chất – Hiện tượng; Cái chung – Cái riêng; Tất nhiên – Ngẫu nhiên; Nội dung – Hình thức; Khả năng – Hiện thực; Nguyên nhân – Kết quả)
Quan điểm thực tiễn: tính ứng dụng của vấn đề nghiên cứu Xem xét sự vật trong những hoàn cảnh cụ thể
Trang 92.2 Quan điểm hệ thống – Cấu trúc trong nghiên cứu khoa học giáo dục
Quan điểm hệ thống – cấu trúc là quan điểm quan trọng nhất của logic biện chứng, yêu cầu xem xét đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển, với việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy luật vận đông của đối tượng
2.3 Quan điểm lịch sử - logic trong trong nghiên cứu khoa học giáo dục
Quan điểm lich sử - logic trong nghiên cứu khoa học giáo dục là quan điểm hướng dẫn tiến trình tìm tòi sáng tạo khoa học Thực hiện quan điểm này một mặt cho phép ta nhìn thấy hoàn cảnh sự xuất hiện, sự phát triển, diễn biến và kết thúc của các đối tượng khách quan, mặt khác giúp ta phát hiện quy luât tất yếu của sự phát triển đối tượng, điều cần đạt tới trong công trình nghiên cứu
Quan điểm lich sử - logic trong trong nghiên cứu khoa học giáo dục chính là việc thực hiện quá trình nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử Tìm hiểu phát hiện
sự nẩy sinh phát triển của giáo dục trong những thời gian và không gian cụ thể, với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để phát hiện cho được quy luật tất yếu của quá trình sư phạm, quá trình giáo dục và dạy học Nghiên cứu giáo dục phải thống nhất của cái lịch
sử và cái logic – từ lịch sử tìm ra logic, cái logic trên cơ sở của cái lịch sử khách quan + Nguyên tắc lịch sử trong trong nghiên cứu khoa học giáo dục thực hiện nhiều chức năng:
- Dùng các sự kiện lịch sử để minh họa, chứng minh, làm sáng tỏ các luận điểm
khoa học, các nguyên lý sư phạm hay kết quả của các công trình trong nghiên cứu khoa học giáo dục
- Dùng các tài liệu lịch sử theo một chuẩn mực, để đánh giá những kết luận sư phạm, đánh giá chân lý khoa học
- Dựa vào các kết luật lịch sử - với các quy luật tất yếu, các logic khách quan mà xây dựng các giả thuyết trong khoa học giáo dục và chứng minh các giả thuyết đó
- Dựa vào xu thế phát triển của lịch sử giáo để nghiên cứu thực tiễn giáo dục, tìm ra những khả năng mới dự đoán các khuynh hướng phát triển của các hiện tượng giáo dục
Trang 10- Dựa vào lịch sử để thiết kế mô hình các biện pháp Các hình thức giáo dục mới, thiết kế triển vọng phát triển của quá trình giáo dục
- Sưu tập, xử lý thông tin, kinh nghiệm giáo dục để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục, để ngăn ngừa và tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm có thể lặp lại trong tương lai
Câu 6: Các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục.
o 3.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
o 3.1.1 Phân tích và tổng hợp lý thuyết
o Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông
lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng
o 3.1.2 Phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
o Phân loại là sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Hệ thống hóa
là sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm
sự hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn.
o 3.1.3 Mô hình hóa
o Mô hình hóa là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng và quá trình giáo
dục vào mô hình của chúng, là sự nghiên cứu gián tiếp đối tượng giáo dục.
o Đặc tính quan trọng là mô hình luôn tương ứng với nguyên bản Mô hình
thay thế đối tượng và bản thân nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu, nó phục vụ cho việc nhận thức đối tượng.
o Mô hình trong nghiên cứu lý thuyết có nhiệm vụ cấu trúc cái mới chưa có
trong hiện thực tức là mô hình các chưa biết đề nghiên cứu chúng, tạo nên
mô hình giả thuyết
o 3.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
o 3.2.1 Quan sát sư phạm
o Quan sát sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dục,
trên cơ sở tri giác trực tiếp các loại hoạt động sư phạm, cho ta những tài liệu sống về thực tiễn giáo dục để có thể khái quát ra những quy luật nhằm chỉ đạo quá trình tổ chức giáo dục thế hệ trẻ tốt hơn.