Bài văn tự sự có sử dụng yếu tố đối thoại, độc thoại, nghị luận và miêu tả nội tâm: luyện viết bài văn tự sự theo các đề và dàn ý chi tiết sau: Đề 1: Đóng vai Trương Sinh kể lại Chuyện n
Trang 1ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I Năm học 2021 – 2022 Môn: Ngữ văn 9
A Cấu trúc đề (theo thống nhất của Tổ mạng lưới Ngữ văn Phòng GD và
ĐT thành phố Thủ Dầu Một)
I Đọc – hiểu (3.0 điểm)
Cho một văn bản (thơ/văn) có trong chương trình, đặt các câu hỏi về Văn bản và Tiếng Việt có liên quan đến văn bản đó theo các mức độ nhận thức sau:
- Nhận biết: 1 câu (0.5 điểm)
- Thông hiểu: 2 câu (1,5 điểm)
- Vận dụng: 1 câu (1 điểm)
II Tạo lập văn bản (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): viết đoạn văn dựa vào ngữ liệu ở phần Đọc - hiểu (nghị luận về 1 vấn đề tư tưởng đạo lí)
Câu 2 (5.0 điểm): viết bài văn (tự sự có sử dụng yếu tố đối thoại, độc thoại, nghị luận và miêu tả nội tâm)
B Nội dung ôn tập
I Đọc – hiểu
Ôn tập các văn bản trong chương trình, chú ý một số dạng câu hỏi thường gặp ở phần Đọc - hiểu như sau:
+ Cho biết tên tác phẩm, tên tác giả, tên nhân vật
+ Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích
+ Xác định ngôi kể, người kể
+ Nêu nội dung đoạn trích
+ Cho biết ý nghĩa của hình ảnh, chi tiết có trong đoạn trích
+ Xác định việc tuân thủ hay vi phạm phương châm hội thoại
+ Xác định lời dẫn có trong đoạn trích Cho biết đó là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp Chuyển từ lời dẫn trực tiếp sang lời dẫn gián tiếp và ngược lại
+ Tìm và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ có trong đoạn trích
+ Liên hệ các tác phẩm có cùng chủ đề, cùng thể loại
+ Nhận xét về nhân vật, nêu tình cảm đối với nhân vật
+ Nêu thông điệp của đoạn trích
+ Rút ra bài học cho bản thân
II Tập làm văn
1 Đoạn văn nghị luận xã hội: luyện viết đoạn văn nghị luận (khoảng 15
dòng) theo dàn ý sau:
- Giới thiệu vấn đề
- Triển khai vấn đề:
+ Giải thích
+ Nêu biểu hiện, dẫn chứng tấm gương tiêu biểu
+ Ý nghĩa
+ Phê phán việc làm trái với vấn đề
Trang 2- Kết thúc vấn đề: khẳng định tầm quan trọng của vấn đề, liên hệ bản thân
2 Bài văn tự sự (có sử dụng yếu tố đối thoại, độc thoại, nghị luận và
miêu tả nội tâm): luyện viết bài văn tự sự theo các đề và dàn ý chi tiết sau:
Đề 1: Đóng vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (từ đầu đến Bấy giờ chàng mới tỉnh ngộ, thấu nỗi oan của
vợ, nhưng việc trót đã qua rồi) và bày tỏ nỗi ân hận của mình.
* Mở bài:
- Lời giới thiệu của Trương Sinh về bản thân (tên, quê quán, gia cảnh…)
- Lời giới thiệu của Trương Sinh về người vợ của mình (tên, hình thức, tính tình )
- Lời giới thiệu của Trương Sinh về lỗi lầm của mình
* Thân bài:
- Trước khi đi lính:
+ Vừa xây dựng gia đình, cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc
+ Đất nước có chiến tranh, triều đình bắt đi lính đánh giặc Chiêm Tuy con nhà hào phú nhưng không có học nên phải ghi tên trong sổ đi lính, đi vào loại đầu
+ Xa gia đình trong cảnh mẹ già, vợ bụng mang dạ chửa
- Khi đi lính:
+ Phải đối mặt với nhiều khó khăn, nguy hiểm ở chiến trường, nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ vợ
+ Lúc này, Vũ Nương ở nhà sinh con và đặt tên là Đản
+ Mẹ già vì nhớ thương con mà sinh bệnh nặng, Vũ Nương hết sức thuốc thang, ngọt ngào, khôn khéo khuyên lơn; bà qua đời, nàng lo ma chay tế lễ chu đáo
- Khi trở về:
+ Mẹ đã mất, con trai đang tuổi học nói
+ Tin vào câu nói của con nên đã hiểu lầm vợ
+ Ghen tuông mù quáng nên đã đẩy người vợ đến cái chết oan ức
+ Sau đó, biết là mình đã nghi oan cho vợ nhưng việc trót đã qua rồi (bày
tỏ nỗi ân hận).
* Kết bài:
- Ân hận vì mình đã mù quáng nghi oan cho vợ khiến gia đình tan nát
- Mong mọi người nhìn vào bi kịch của gia đình mình để rút ra bài học cho bản thân
Đề 2: Tưởng tượng mình gặp người lính trong bài thơ Đồng chí của
Chính Hữu hãy kể lại cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó (bài viết có sử dụng yếu
tố đối thoại, độc thoại, nghị luận và miêu tả nội tâm).
* Mở bài:
Giới thiệu tình huống gặp gỡ người cựu chiến binh đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp (thời gian, không gian, nhân vật)
* Thân bài: kể lại diễn biến cuộc gặp gỡ
Trang 3- Khắc họa hình ảnh người cựu chiến binh:
+ Người cựu chiến binh đứng tuổi, uy nghiêm trong bộ quân phục màu xanh có gắn nhiều quân hàm
+ Dáng đi có phần chậm chạp do tuổi tác
+ Mái tóc bạc trắng, khóe mắt có nhiều vết chân chim nhưng ánh nhìn vẫn
vô cùng trìu mến
…
- Kể lại cuộc trò chuyện với người cựu chiến binh:
+ Tôi hỏi ông về xuất thân của ông và những người đồng đội Ông cho tôi biết rằng họ đều là những người nông dân nghèo, gặp nhau trong đoàn quân cách mạng, từ xa lạ trở thành những người đồng chí thân thiết của nhau vì cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, cùng chung lý tưởng và chia sẻ với nhau
+ Tình cảm ấy được thể hiện qua việc họ luôn cùng nhau tâm sự, thấu hiểu những nỗi niềm và khó khăn, gian khổ của nhau:
• Vì nghĩa lớn sẵn sàng bỏ lại tất cả gia đình, ruộng nương để ra đi chiến đấu nhưng vẫn khôn nguôi nhớ về quê hương, gia đình, về giếng nước, gốc đa, mái rạ, bờ tre
• Cuộc sống và chiến đấu ở chiến trường nhiều gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nhưng họ vẫn cùng nhau chịu đựng, cùng nhau vượt qua tất cả, vẫn lạc quan yêu đời
-> Tình đồng chí sâu nặng thắm thiết (bày tỏ nội tâm, đưa yếu tố nghị luận).
+ Hình ảnh đẹp, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng họ, là biểu tượng cao đẹp
của những người lính là hình ảnh đầu súng trăng treo.
-> Người chiến sĩ cũng là người rất lãng mạn.
- Tâm trạng, suy nghĩ của em sau khi nghe kể? (bày tỏ nội tâm: kính
trọng, khâm phục, biết ơn sự hi sinh của các ông).
- Suy nghĩ của em về chiến tranh? (nghị luận: chiến tranh tàn phá cuộc
sống nhưng không thể giết chết những tình cảm cao đẹp, trong đó có tình đồng đội, đồng chí).
* Kết bài:
- Cuộc chia tay
- Cảm nghĩ về cuộc gặp gỡ
- Liên hệ bản thân (biết ơn các chiến sĩ, thấy được trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn hòa bình, học tập để xây dựng và phát triển đất nước ).
Đề 3: Tưởng tượng mình gặp lại người lính lái xe trong bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, hãy kể lại cuộc gặp gỡ và trò
chuyện đó (bài viết có sử dụng yếu tố đối thoại, độc thoại, nghị luận và miêu
tả nội tâm).
* Mở bài:
Giới thiệu tình huống gặp gỡ (thời gian, không gian, nhân vật)
VD1: Nhân ngày Thương binh liệt sĩ 27/7, trường em tổ chức đi thăm nghĩa trang liệt sĩ
VD2: Nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân VN 22/12, trường em có mời đoàn cựu chiến binh đến thăm trường
Trang 4* Thân bài: kể lại diễn biến cuộc gặp gỡ
- Khắc họa hình ảnh người chiến sĩ lái xe:
+ Ông có dáng người cao lớn, khuôn mặt già dặn, từng trải nhưng vẫn có nét hóm hỉnh, yêu đời
+ Giọng nói trầm ấm nhưng tiếng cười ha hả, sảng khoái
+ Khoác trên mình bộ đồ lính oai nghiêm, đĩnh đạc
- Kể lại cuộc trò chuyện với người chiến sĩ:
+ Tôi hỏi ông về cuộc kháng chiến chống Mĩ và công việc của các ông + Người lính ấy kể lại những năm đánh Mĩ gian khổ, ác liệt
+ Bom Mĩ tàn phá dữ dội (người và của trong đó có những chiếc xe) + Tiểu đội của ông không chỉ có một chiếc xe mà có đến mười mấy chiếc nhưng tất cả đều bị hư hỏng
+ Thời tiết vô cùng khắc nghiệt
+ Tuy vậy, trên tuyến đường Trường Sơn, các đoàn xe vẫn ngày đêm nối đuôi nhau ra tiền tuyến tiếp tế lương thực, vũ khí, sức người, sức của
+ Họ bất chấp gian khổ, khó khăn vượt qua với tinh thần lạc quan (ung dung ngồi trong buồng lái, gặp nhau thấy bụi dính đầy tóc thì cười ha ha, mặc
kệ mưa tuôn mưa xối, cứ tiếp tục lái và nghĩ khi mưa ngừng, gió lùa sẽ khô thôi ).
+ Tình đồng đội anh em ruột thịt (dùng chung bát đũa, gặp nhau, bắt tay nhau qua cửa kính vỡ, kể chuyện cho nhau nghe trong những lúc nghỉ ngơi ) đã
tiếp thêm sức mạnh cho họ
+ Trái tim người chiến sĩ, trái tim của tuổi trẻ sôi nổi, lạc quan, yêu nước, căm thù giặc luôn hướng về miền Nam
- Tâm trạng, suy nghĩ của em sau khi nghe kể? (bày tỏ nội tâm: kính
trọng, khâm phục các ông).
- Suy nghĩ của em về chiến tranh? (nghị luận: chiến tranh tàn phá cuộc
sống).
* Kết bài:
- Cuộc chia tay
- Cảm nghĩ về cuộc gặp gỡ
- Liên hệ bản thân (biết ơn các chiến sĩ, thấy được trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn hòa bình, học tập để xây dựng và phát triển đất nước ).
Đề 4: Tưởng tượng mình là người cháu trong bài thơ Bếp lửa của
Bằng Việt, hãy kể lại những kỉ niệm của 2 bà cháu (bài viết có sử dụng yếu
tố đối thoại, độc thoại, nghị luận và miêu tả nội tâm).
* Mở bài:
- Giới thiệu về bản thân (là Bằng Việt, 22 tuổi, đang theo học ngành Luật
ở Liên Xô ).
- Giới thiệu về hoàn cảnh gợi nhớ bếp lửa và hình ảnh người bà (trong cái lạnh giá buốt của mùa Đông Liên Xô, chợt nhớ đến hình ảnh bếp lửa chờn vờn trong sương sớm, ấp iu nồng đượm gắn liền với người bà kính yêu).
* Thân bài: lần lượt kể lại nội dung các khổ thơ theo thứ tự
Trang 5- Lên bốn tuổi đã quen mùi khói Nạn đói năm 1945 xảy ra khiến hơn 2 triệu người chết đói, gia đình cũng không ngoại lệ, cũng đói mòn đói mỏi Ấn tượng về mùi khói rất sâu đậm
- Giặc Pháp quay lại cướp nước, bố mẹ đi công tác, 8 năm ròng ở với bà, được bà cưu mang, đùm bọc, chăm sóc, dạy dỗ, khi nghe tu hú kêu càng thương
bà, biết ơn bà (độc thoại).
- Giặc Pháp đi đến đâu thì tàn phá đến đó, đốt làng đốt xóm, sau những ngày tản cư, hàng xóm giúp hai bà cháu dựng lại nhà, bà dặn có viết thư đừng kể
với bố (xây dựng đối thoại) -> Bà thật cao cả và giàu lòng hi sinh -> Tôi càng
yêu quý bà
- Cuộc sống gian khổ, cơ cực, thiếu thốn nhưng bà cháu vẫn vững lòng vượt qua, bà luôn ấp ủ trong lòng ngọn lửa yêu thương, ngọn lửa niềm tin
- Cuộc đời bà gian nan, lận đận Hình ảnh bà gắn với bếp lửa hồng, bếp lửa sưởi ấm lòng tôi, khơi dậy những tâm tình tuổi nhỏ -> Biết ơn bà sâu sắc
(bày tỏ nội tâm, nghị luận).
* Kết bài:
Đã trưởng thành, được học hành, được tiếp nhận nhiều điều mới lạ, được sống sung sướng nhưng không bao giờ quên được hình ảnh bếp lửa và người bà kính yêu
Đề 5: Đóng vai bé Thu kể lại đoạn trích Chiếc lược ngà của Nguyễn
Quang Sáng (từ lúc bé Thu gặp ba đến lúc chia tay, bài viết có sử dụng yếu
tố đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm, nghị luận).
* Mở bài:
- Giới thiệu mình là bé Thu (xác định người kể, ngôi kể)
- Giới thiệu khái quát nội dung câu chuyện
VD:Tôi tên là Thu Lúc nhỏ mọi người thường gọi tôi là bé Thu Từ lúc lọt lòng cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn khao khát được gặp lại người ba thân thương của mình Đó là niềm hạnh phúc lớn nhất cuộc đời tôi.Vậy mà có lần niềm hạnh phúc ấy hiện ra trước mặt tôi mà tôi chẳng nhận ra để giờ đây hạnh phúc ấy chỉ còn là hư vô bởi ba tôi đã đi về một nơi rất xa rồi Tôi vô cùng hối hận Ký ức về cuộc gặp mặt và chia tay ba mãi mãi sẽ là hồi ức theo tôi đến cuối đời Chuyện là thế này
* Thân bài: đảm bảo được các ý sau
- Ba tôi đi kháng chiến khi tôi chưa đầy 1 tuổi, tôi chỉ biết mặt ba qua tấm ảnh chụp chung với má
- Khi tôi lên tám tuổi, ba tôi trở về với gương mặt có một vết thẹo dài
- Tôi lạnh lùng, xa lạ, nhất định không nhận ba (nêu các sự việc lúc gặp
ba ở bờ sông, lúc má kêu gọi ba vào ăn cơm, lúc má nhờ trông nồi cơm vào ngày
hôm sau, trong bữa cơm, xây dựng đối thoại)
- Sau 3 ngày phép, ba tôi trở lại chiến khu Đó cũng là lúc tôi kịp nhận ra
ba Tình ba con trỗi dậy mãnh liệt Tôi không cho ba đi Nhưng vì nhiệm vụ ba không thể ở nhà với tôi Tôi dặn khi trở về ba nhớ mua cho tôi một cây lược
- Chiến tranh kéo dài mãi Ba tôi không về Ba đã hi sinh ở chiến trường
Trang 6- Khi tôi đã là một cô giao liên, tôi gặp lại bác Ba, người bạn thân của ba tôi ngày trước Bác trao cho tôi cây lược được làm bằng ngà voi và kể lại quá trình ba tôi làm nó cho tôi nghe cùng lời trăng trối cuối cùng của ba Tôi vô cùng
xúc động và yêu thương ba biết nhường nào (bày tỏ nội tâm, nghị luận).
* Kết bài:
Cảm nghĩ về hình ảnh người ba yêu quý và lời hứa với vong linh người ba kính yêu
VD: Tiếp bước ba, tôi đi theo con đường cách mạng,tôi đã trở thành cô giao liên dũng cảm,kiên cường.Tôi không đơn độc,lẻ loi bởi luôn có ba bên cạnh,ba là nguồn sáng soi đường tôi đi,là ánh lửa sưởi ấm cái giá lạnh ở rừng núi Có ba,tôi có niềm hạnh phúc lớn nhất đời mình