Một cách khái quát, về pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD có một số công trình nghiên cứu như : “Hoàn thiện Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với Bí mật Kinh Doanh”
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ KIM HUẾ
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH
- PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã ngành : 603850
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và chính xác Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ KIM HUẾ
Trang 36 UBND : Ủy Ban nhân dân
7 TAND : Tòa án nhân dân
8 DN : Doanh nghiệp
9 HĐLĐ : Hợp đồng lao động
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .1 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH 1.1 Khái quát chung về bí mật kinh doanh và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bí mật kinh doanh 5 1.1.2 Sự cần thiết phải bảo hộ bí mật kinh doanh 9
1.1.3 Khái niệm về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh 17 1.1.4 Đặc điểm và bản chất của quyền SHCN đối với BMKD 19
1.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong pháp luật
1.2.1 Bảo hộ QSHCN đối với BMKD trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
28 1.2.2 Bảo hộ QSHCN đối với BMKD từ khi có Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOAN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 41 2.1 Thực trạng áp dụng các quy định về đối tượng và điều kiện bảo hộ quyền
Trang 52.2.1 Đối với hành vi tiếp cận, bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc BMKD mà
2.2.2 Đối với hành vi vi phạm Hợp đồng bảo mật thông tin 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
- Phiếu khảo sát về tình hình bảo vệ BMKD của doanh nghiệp
- Bản án số 21/2009DS-ST ngày 30/9/2009 của TAND Quận 1, TPHCM
- Bản án số 08/2010/LĐ-ST ngày 6/12/2010 của TAND Huyện Đức Hòa, Long An
- Bản án số 09/2010/LĐ-ST ngày 10/12/2010 của TAND Huyện Đức Hòa, Long An
Trang 6
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đã có những đổi mới không ngừng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực lập pháp Rất nhiều đạo luật ra đời để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó Luật Sở hữu trí tuệ là một bước tiến quan trọng trong việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo
hộ bí mật kinh doanh nói riêng
Ở nước ta, việc bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật cạnh tranh và một số văn bản hướng dẫn thực hiện Luật SHTT Tuy nhiên, so với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật về bảo
hộ BMKD của Việt Nam vẫn còn mới mẻ và đang bộc lộ những vấn đề pháp lý cần tiếp tục nghiên cứu đánh giá và hoàn thiện
Xuất phát từ thực tiễn nghề nghiệp và từ kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả cho rằng cần có sự nghiên cứu một cách cụ thể, hệ thống hơn về các quy định của pháp luật trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD Từ việc phân tích các quy định về bảo hộ BMKD Bộ luật dân sự năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ, Luật cạnh tranh, Luật lao động, các Hiệp định TRIPs, Công Ước Paris và các văn bản pháp luật liên quan đến việc đánh giá thực tiễn áp dụng để tìm ra các vướng mắc, hạn chế, thiếu sót và đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về bảo
hộ quyền SHCN đối với BMKD Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài : “Bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh - Pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực tiễn nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy từ khi có có Bộ luật dân sự cho đến nay, việc nghiên cứu quy định pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp dưới các cấp độ và góc độ là không ít, nhưng một nghiên cứu chuyên
Trang 7biệt, có tính hệ thống về bảo hộ BMKD và đặc biệt là một nghiên cứu dựa trên khảo sát thực tế về việc áp dụng quy định pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh thì chưa
có Một cách khái quát, về pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD có một số
công trình nghiên cứu như : “Hoàn thiện Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với Bí mật Kinh Doanh” của Thạc sĩ Nguyễn Thái Mai – khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại” - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa, năm
2001 của Tiến sĩ Nguyễn Thị Quế Anh (nghiệm thu 2002), và các bài viết khác cũng
của Tiến sĩ này như “Bí mật kinh doanh và các tiêu chí bảo hộ”, “Một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh doanh và hoàn thiện pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam”
Trong bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Thái Mai đã chỉ ra nhiều bất cập trong các quy định về phạm vi, điều kiện bảo hộ BMKD, các biện pháp bảo mật mà chủ sở hữu BMKD được quyền áp dụng và cả những điểm chưa rõ ràng trong tiêu chuẩn để xác định thế nào là BMKD Trong bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Thị Quế Anh phạm vi nghiên cứu rộng hơn, bao quát hơn nhưng chưa đi sâu vào phân tích kỹ đặc điểm của BMKD trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam vì vậy chưa có sự đề xuất cụ thể cho phù hợp Nhìn chung các tác giả trong các công trình nghiên cứu trên đã phát hiện ra những điểm bất cập, những khoảng trống trong các quy định của pháp luật về bảo hộ Quyền SHCN đối với BMKD, tuy nhiên do các công trình này thực hiện trước khi Luật SHTT năm 2005 được ban hành nên có nhiều điểm còn bất cập, không phù hợp với các quy định của Luật SHTT Những đề xuất của các tác giả trong các bài viết còn mang nặng tính lý thuyết, các biện pháp chỉ dừng lại ở việc sửa đổi các quy định pháp lý về mặt lý luận, chưa phân tích đi sâu vào khía cạnh áp dụng trong thực tiễn như thế nào Mặt khác, các tác giả chưa có một khảo sát hay thu thập ý kiến hoặc điều tra về tình hình thực tiễn áp dụng các quy định về bảo hộ BMKD tại Việt Nam một cách cụ thể
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trang 83.1 Mục đích của luận văn
Về mặt lý luận, trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo hộ quyền SHCN trong BMKD, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định pháp luật, phát hiện những tồn tại, hạn chế của các quy định này, luận văn hướng tới việc
đề ra giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ BMKD
Về mặt thực tiễn, tác giả mong muốn phần nào giúp chủ sở hữu BMKD nhận diện được một cách chính xác và rõ ràng các loại BMKD mà mình có, từ đó có biện pháp tự bảo vệ BMKD một cách hữu hiệu và thiết thực hơn
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích được khái niệm, đặc điểm của BMKD và sự cần thiết của việc bảo hộ BMKD trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay Sự phân tích này là cơ sở để phân tích quyền SHCN đối với BMKD từ đó phân tích cơ chế bảo hộ BMKD trong quy định pháp luật của Việt Nam
- Từ việc phân tích được thực trạng pháp luật về bảo hộ BMKD, thực tiễn giải quyết các tranh chấp và những vướng mắc đặt ra sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ BMKD
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn, phương pháp nghiên cứu
4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn
BMKD và phương thức bảo hộ BMKD là vấn đề mới và phức tạp trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng như thực tiễn áp dụng Vì vậy, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau :
- Giới hạn về các văn bản pháp luật : Tập trung nghiên cứu những quy định trong BLDS, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật cạnh tranh, Luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Mặc dù đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy định pháp luật Việt Nam về bảo hộ BMKD nhưng trong phạm vi nghiên cứu để đánh giá một cách
Trang 9đầy đủ tính phù hợp của các quy định pháp luật Việt Nam, bên cạnh việc đối chiếu với thực tiễn áp dụng, tác giả sẽ đặt các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này trong mối tương quan với Công ước Paris và Hiệp Định TRIPs
- Giới hạn về phạm vi lãnh thổ : Tác giả chỉ tiến hành khảo sát thực tiễn việc
áp dụng các quy định của pháp luật về bảo hộ BMKD của một số doanh nghiệp tại Tp.HCM và các tỉnh lân cận Từ các phiếu khảo sát tình hình thực tế của việc áp dụng các quy định pháp luật về BMKD và qua một số bản án xét xử tranh chấp lao động có liên quan đến hành vi xâm phạm BMKD tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy định về BMKD
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề luận văn đặt ra Trong quá trình nghiên cứu, luận văn bám sát các quan điểm cơ bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới để luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn được luận văn đề cập đến
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là những phương pháp nghiên cứu khoa học chung như tổng hợp, thống kê, phân tích, bình luận và không thể thiếu phương pháp so sánh pháp luật
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài :
Với những nội dung được trình bày trong đề tài hy vọng sẽ đem lại những đóng góp thiết thực cho việc hoàn thiện những quy định pháp luật trong lĩnh vực này, đồng thời góp phần xây dựng cơ chế hợp lý và hiệu quả hơn trong việc bảo hộ BMKD tại Việt Nam
Ngòai ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy và cho những người hoạt động thực tiễn trong ngành bảo vệ pháp luật
6 Kết cấu của Luận văn :
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của Luận văn gồm 2 chương :
Trang 10Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh và kiến nghị hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH 1.1 Khái quát chung về bí mật kinh doanh và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bí mật kinh doanh
Trước khi Luật SHTT năm 2005 được ban hành, chưa có định nghĩa chính thống
và trực tiếp về quyền SHTT Theo quan điểm của tiến sĩ Lê Nết thì “quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ”1 Khi luật SHTT được ban hành thì quyền SHTT được định nghĩa tại Điều 1 khoản 4 như sau :
“Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” Theo đó, BMKD cũng là một tài sản vô hình, cụ thể hơn là đối tượng của quyền SHCN được pháp luật bảo hộ theo khoản 1 điều 750 Bộ luật Dân sự năm 2005 và nội dung này đã Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009
quy định chi tiết tại khoản 2 điều 1 như sau: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được
từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”
Trước hết, BMKD là một dạng thông tin, một loại tài sản vô hình BMKD là bất
cứ thông tin nào mà một cá nhân hay một tổ chức thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, có thể sử dụng nó trong hoạt động kinh doanh của mình nhằm cung cấp các cơ hội nâng cao lợi thế cạnh tranh, duy trì tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và thường không được bên ngoài biết đến.
Ngoài ra, các thông tin chưa công bố, chưa thể áp dụng trực tiếp vào kinh doanh như các công trình nghiên cứu của các trường Đại học, viện nghiên cứu, hoặc các
1 Lê Nết, (2004), Quyền sở hữu trí tuệ -Tài liệu giảng dạy, tr 13
Trang 12kiểu dáng đang trong quá trình nộp đơn chưa được cấp văn bằng Ví dụ : có 10 mẫu thiết kế dự định đăng ký nhãn hiệu hàng hóa nhưng sau đó chỉ thấy 3 mẫu là có thể đăng ký vậy 7 mẫu còn lại tuy có thiết kế rồi chưa được công bố vẫn được coi là BMKD (Đ 111 Luật SHTT)
Tuy nhiên, không phải bất cứ thông tin bí mật nào cũng được bảo hộ Tại Điều
85 Luật SHTT đã liệt kê danh mục các loại thông tin không được bảo hộ với danh nghĩa BMKD bao gồm: “1 Bí mật về nhân thân; 2 Bí mật về quản lý nhà nước; 3
Bí mật về quốc phòng, an ninh; 4 Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh”
Các thông tin thu được từ họat động đầu tư tài chính, trí tuệ rất đa dạng, phong
phú và phức tạp nhưng không phải mọi thông tin “thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ” đều được coi là BMKD Các dạng thông tin này phải hội đủ ba điều
kiện quy định tại Điều 84 Luật SHTT và khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh Theo đó, BMKD là thông tin có đủ các điều kiện: Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng
sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được Tác giả sẽ phân tích, giải thích rõ ba điều kiện này tại phần đặc điểm của BMKD
Với quy định của pháp luật về điều kiện bảo hộ cho thấy đối với các bí mật kinh doanh không đáp ứng được những điều kiện luật quy định thì không thuộc đối tượng bảo hộ quyền SHCN Điều này cũng dễ hiểu vì để đảm bảo được sự công bằng giữa những chủ sở hữu nắm giữ thông tin có giá trị và đã áp dụng những biện pháp bảo vệ cần thiết sẽ được pháp luật bảo vệ hơn những chủ sở hữu thông tin có giá trị nhưng không áp dụng bất kỳ biện pháp nào Mặt khác, việc phân biệt thông tin nào thuộc đối tượng được bảo hộ quyền SHCN sẽ giúp cho những chủ sở hữu thông tin có giá trị biết cách tự bảo vệ mình trước Điều này cũng góp phần làm giảm những tranh chấp trong xã hội và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh
Trang 13Nếu không phải là BMKD thì những lọai thông tin bí mật khác có thể vẫn được bảo hộ theo một số quy định sau :
Các dữ liệu thử nghiệm nộp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng được pháp luật bảo vệ Do quá trình phê duyệt thường kéo dài, đặc biệt là những sản phẩm dược phẩm, tạo cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh có thể chiếm đọat một cách trái phép Vì thế pháp luật đã đưa ra một số quy định để bảo vệ cho chủ sở hữu dữ liệu và hạn chế những hành vi chiếm đoạt trái phép Tại điều 39.3 Hiệp định TRIPS
đã nêu : “Nếu các thành viên quy định rằng điều kiện để được cấp phép tiếp thị dược phẩm hoặc nông hóa phẩm có chứa các thành phần hóa học mới là phải nộp kết quả thử nghiệm hoặc các dữ liệu bí mật khác thu được từ sự nỗ lực lớn, thì phải bảo hộ các dữ liệu đó chống lại việc sử dụng thương mại không lành mạnh Ngoài ra, các thành viên phải bảo hộ các dữ liệu đó chống lại việc tiết lộ, trừ trường hợp cần bảo
vệ công chúng hoặc các biện pháp được thực hiện nhằm bảo đảm các dữ liệu đó được bảo vệ trước việc sử dụng trong thương mạnh cạnh tranh không lành mạnh” Quy
định quốc tế này đã được pháp luật Việt Nam cụ thể trong Luật SHTT tại điều 128 của Luật SHTT như sau: Trong trường hợp pháp luật có quy định người nộp đơn xin cấp phép kinh doanh, lưu hành dược phẩm, nông hoá phẩm phải cung cấp kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu nào khác là bí mật kinh doanh thu được do đầu tư công sức đáng kể và người nộp đơn có yêu cầu giữ bí mật các thông tin đó thì cơ quan có thẩm quyền cấp phép có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp cần thiết để các dữ liệu đó không bị sử dụng nhằm mục đích thương mại không lành mạnh và không bị bộc lộ, trừ trường hợp việc bộc lộ là cần thiết nhằm bảo vệ công chúng Kể từ khi dữ liệu bí mật trong đơn xin cấp phép được nộp cho cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản
1 Điều này đến hết năm năm kể từ ngày người nộp đơn được cấp phép, cơ quan đó không được cấp phép cho bất kỳ người nào nộp đơn muộn hơn nếu trong đơn sử dụng
dữ liệu bí mật nêu trên mà không được sự đồng ý của người nộp dữ liệu đó, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều 125 của Luật SHTT2
2 Luật SHTT, Điều 125 Quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
Trang 14Đồng thời, pháp luật cũng bảo vệ các chủ sở hữu các thông tin này bằng việc bảo mật đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trước khi công bố thông qua quy định chi tiết tại điều 111 Luật SHTT Theo đó, trước thời điểm đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp có trách nhiệm bảo mật thông tin trong đơn Đồng thời, cán bộ, công chức của cơ quan quản lý nhà nước
về quyền sở hữu công nghiệp làm lộ bí mật thông tin trong đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp thì bị xử lý kỷ luật; nếu việc làm lộ bí mật thông tin gây thiệt hại cho người nộp đơn thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
Xuất phát từ điều kiện bảo hộ thông tin được coi như là một BMKD đều mang 2 đặc điểm cơ bản nhất đó là tính bí mật và tính quyết định3
Tính bí mật của thông tin là phần quan trọng nhất, có tính quyết định nhất, chúng phải không được dễ biết hoặc dễ suy đoán Tất nhiên điều đó không có nghĩa là mỗi phần của thông tin phải là bí mật Sự bí mật có thể đơn thuần chỉ là sự kết hợp của tất cả những điều đã biết Chính vì tính bí mật mà việc soạn thảo một hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng BMKD rất phức tạp Bên chuyển giao muốn chuyển giao một bí mật, nhưng không thể biết bên nhận đã biết về bí mật đó chưa, mà cũng không thể mô tả bí mật rồi hỏi phía bên kia xem họ đã biết bí mật đó chưa, vì câu trả lời chắc chắn là “rồi” và giá trị của bí quyết cũng không còn nữa Ngược lại bên nhận
3 Chủ sở hữu bí mật kinh doanh không có quyền cấm người khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh
đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp;
b) Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Luật này;
c) Sử dụng dữ liệu bí mật quy định tại Điều 128 của Luật này không nhằm mục đích thương mại;
d) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra một cách độc lập;
đ) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thoả thuận khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng
3 Lê Nết (2004), Quyền sở hữu công nghiệp, Tài liệu giảng dạy, tr 153
Trang 15chuyển giao cũng không muốn quyết định mua giá bao nhiêu khi mà chưa biết bí quyết đó ra sao
Tính quyết định của BMKD có nghĩa là thông tin đó phải đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có tính nổi trội hoặc đặc biệt hơn so với các sản phẩm cùng lọai Như vậy, tính quyết định của BMKD sẽ giúp cho người nắm giữ được thông tin mang tính quyết định đó sẽ giúp nâng cao vị trí hoặc ưu thế cạnh tranh của người nắm giữ bí quyết
1.1.2 Sự cần thiết phải bảo hộ bí mật kinh doanh
Có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của quyền sở hữu trong nền kinh tế thị trường Theo lý thuyết của Adam Smith, nhà kinh tế học Scotland từ thế kỷ 18, quyền
sở hữu là cơ sở của quyền tự do kinh doanh4 Còn theo Diderot, nhà kinh tế học và triết học Pháp coi quyền sở hữu, đặc biệt là sở hữu trí tuệ là quyền cao quý, thể hiện cho sự tự do của chủ thể kinh doanh trên thị trường5 Tuy vậy các quan điểm trên hoàn toàn xem quyền sở hữu là quyền tự nhiên mà không đứng trên quan điểm luật thực định Nếu đứng trên quan điểm luật thực định, một câu hỏi cần giải đáp là: Tại sao lại cần phải có quyền sở hữu để đòi một tài sản, trong khi các bên tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau? Cách giải thích của Ronald Coase – người đoạt giải Nobel kinh tế 1993, thuyết phục được nhiều học giả hơn cả, nếu các bên thỏa thuận được với nhau, thì quy định về quyền sở hữu là không cần thiết6 Coase phát biểu
định lý : “việc bảo vệ quyền sở hữu sẽ không cần thiết nếu chi phí giao dịch bằng không hoặc nhỏ Nếu chi phí giao dịch quá lớn, các bên không thể thỏa thuận được với nhau, mỗi bên sẽ phải dùng quyền sở hữu để bảo vệ quyền lợi của mình” 7 Theo
nhận định của Tiến sĩ Lê Nết thì định lý này không chỉ đúng với giao dịch giữa các
4 Smith, A dam (1776), The Wealth of Nations ( reprinted by New York : Modern Library 1937)
5 Davies, G (1994), Copyright and Public Interest IIC Studies, Max- Planck Institue 14:9
Trang 16bên, mà còn đúng trong quan hệ giữa các quốc gia, trong đó chủ quyền của mỗi nước tương đương với quyền sở hữu8
Khái niệm về sở hữu mà Coase đưa ra cũng có thể áp dụng như cơ sở kinh tế cho việc xác lập quyền sở hữu cho các đối tượng sở hữu trí tuệ - trong đó có BMKD BMKD là một tài sản vô hình – thành quả lao động sáng tạo – là tài sản có giá trị lớn
Vì vậy, rất nhiều người muốn chiếm hữu tài sản ấy, dù hợp pháp hay không Việc sử dụng BMKD khó bị phát hiện (chủ sở hữu BMKD ít khi biết được lúc nào tài sản của mình bị “đánh cắp”) Vì thế, khả năng bảo vệ và thực thi quyền sở hữu với BMKD nếu không có pháp luật hỗ trợ là rất khó Chính việc tự bảo vệ BMKD của chủ sở hữu gặp nhiều khó khăn nên đã làm tăng “chi phí giao dịch ”cho chủ sở hữu BMKD “Chi phí giao dịch” tăng làm phát sinh nhu cầu bảo hộ thành quả lao động sáng tạo dưới dạng quyền sở hữu
Mặt khác, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể sẽ dẫn đến tình trạng độc quyền Nhiều nhà kinh tế học đã chứng minh rằng lợi thế độc quyền cũng làm tăng chi phí giao dịch Cụ thể là các chủ thể độc quyền sẽ đẩy giá thành sản phẩm lên cao, khiến người tiêu dùng phải thiệt hại Các chi phí giao dịch do độc quyền gây ra nên là một trong các yếu tố mà các nhà kinh tế học gọi là yếu tố externalities (ngoại lai) Nói cách khác, độc quyền cũng gây thiệt hại cho xã hội (social cost)9 Như vậy quyền sở hữu đối với BMKD cũng tạo cho xã hội những thách thức nhất định và phải được cân nhắc trong hoạt động lập pháp nhằm đảm bảo cân bằng, dung hòa quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội, chủ sở hữu và người sử dụng
Các nhà kinh tế không phải là không nhận thấy những nhược điểm này, song họ coi đó là những static inefficiency (ảnh hưởng ngắn hạn), cái giá phải trả để có những dynamic efficiency (lợi ích dài hạn)10 Lợi ích dài hạn của sở hữu trí tuệ là việc tăng năng suất lao động dựa trên các cơ chế khuyến khích sáng tạo Nhà kinh tế Áo J Shumpeter cho rằng trong nền kinh tế thị trường, innovation (tính sáng tạo) và
8
Lê Nết (2004), Quyền sở hữu trí tuệ - tài liệu giảng dạy (2004) , tr 20
9 Stigliz, J & Driffill, J (2000) Economic Norton Corp
10 Stiglitz, J (1997) Wither Socialism? MIT Press, Cambridgre MA
Trang 17entrepreneurship (tính năng động) là hai động lực căn bản nhất Ông thậm chí còn cho rằng độc quyền là xu thế phát triển tất yếu của xã hội, vì khi các phát minh sáng chế ngày càng phức tạp, thì chỉ có những công ty lớn mới có đủ chi phí để nghiên cứu phát triển sản phẩm Các công ty đã bỏ chi phí nghiên cứu này cần phải được độc quyền có nghĩa là không có cạnh tranh Các công ty được độc quyền hôm nay phải liên tục sáng tạo để không bị tụt hậu bởi các công ty mới khác sáng tạo hơn Động lực thúc đẩy sáng tạo của mọi công ty, cho dù công ty đó có độc quyền hay không, được Schumpeter gọi là creative destruction (quá trình tự đào thải của sự sáng tạo) Nếu so sánh với triết học Marx, thì creative destruction là hiện tượng phủ định của phủ định, cái sau ra đời phủ định cái trước, song không trở lại vị trí ban đầu, mà đưa sự vật phát triển lên một mức cao hơn
Điều cần bàn đến là khi độc quyền trở thành xu thế thì tính năng động của các công ty vừa và nhỏ sẽ giảm sút vì họ không thấy cơ hội để sáng tạo và thu hồi vốn Như vậy, tuy các công ty lớn vẫn năng động và sáng tạo, nhưng họ không còn cảm thấy sức ép như khi họ còn là công ty nhỏ Đó là chưa kể đến bộ máy quản trị cồng kềnh, quan liêu là những vật cản đáng kể của sự năng động và sáng tạo Điều này triệt tiêu dần hai động lực là năng động và sáng tạo của nền kinh tế thị trường, dẫn đến nền kinh tế suy thoái Khi kinh tế suy thoái, các công ty dù lớn, dù nhỏ, sẽ bị sức ép và phải phát huy tính năng sáng tạo, năng động, vì thế nền kinh tế sẽ dần thoát khỏi suy thoái Schumpeter gọi đó là business cycle (chu kỳ kinh tế)11
Bảo hộ QSHCN đối với BMKD là bảo hộ một loại tài sản vô hình, có giá trị, dễ
bị xâm phạm và khó bảo vệ Quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với BMKD nói riêng có thể làm phát sinh độc quyền và các hệ lụy xã hội, tuy nhiên nó có thể là động lực để phát huy tính năng động và sáng tạo, hai động lực cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường Mặt khác, độc quyền do quyền sở hữu trí tuệ tạo ra cũng có thể là vật cản của tính năng động sáng tạo dẫn đến suy thoái kinh tế Như vậy, một câu hỏi khó đặt ra là : khi nào thì quyền sở hữu trí tuệ trở thành vật cản, khi nào thì nó là động
11 Scherer.F (1986) Innovation and Growth – Schumpeterrian Perspectives MIT Press
Trang 18lực của sự sáng tạo? Vật cản đối với chủ thế nào và động lực đối với chủ thể nào? Chủ thể của BMKD phải hành xử quyền của mình thế nào để không gây trở ngại đến tính năng động sáng tạo của các chủ thể khác? Trả lời thấu đáo được các câu hỏi trên
sẽ tạo một thế cân bằng và kiểm soát giữa các chủ thể : chủ sở hữu BMKD, người sử dụng BMKD và xã hội Điều này cũng chính là đảm bảo sự cân bằng giữa bảo hộ và cạnh tranh
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới – nền kinh tế dựa vào tri thức, trong đó giá trị của tài sản trí tuệ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong giá thành của sản phẩm Ở một quốc gia có nền kinh tế phát triển, giá trị của sản phẩm trí tuệ chứa trong mỗi sản phẩm quyết định rất lớn đến tính cạnh tranh và là yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công của doanh nghiệp trên thương trường
Mặc dù trong thực tế, các tổ chức, cá nhân vẫn có những bí mật công nghệ, những bí quyết gia truyền được lưu giữ và truyền lại từ đời này qua đời khác nhưng trong rất nhiều năm, BMKD tại Việt Nam chưa được pháp luật quy định và bảo hộ Ngày nay, vấn đề bảo hộ BMKD càng ngày càng được pháp luật quy định một cách chi tiết và hệ thống hơn Điều này xuất phát từ nhiều yếu tố trong đó không thể thiếu yếu tố là do tầm quan trọng của BMKD trong hoạt động sản xuất kinh doanh Chính
từ tầm quan trọng của BMKD mà Nhà nước đã xây dựng một hệ thống các quy định pháp luật để bảo hộ BMKD Sự cần thiết của việc bảo hộ này xuất phát từ lợi thế và nhược điểm của BMKD Tác giả xin đi sâu để phân tích nội dung này như sau :
Thứ nhất, BMKD được bảo hộ sẽ tạo ra nhiều lợi thế mang tính chất thương mại cho chủ sở hữu
Giá cả và chất lượng là hai yếu tố mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm nhiều nhất Trong thời đại phát triển mạnh mẽ về thông tin và kỹ thuật số hiện nay, thì ai là người nắm nhiều thông tin quan trọng tạo những bí quyết kinh doanh chính là người chi phối về giá cả và chất lượng sản phẩm nhiếu nhất Mức độ cạnh tranh về thông tin và giá cả trên thị trường ngày càng khốc liệt nên các đối thủ cạnh
Trang 19tranh không muốn chia sẻ thông tin cho nhau.Tại Việt Nam, BMKD tuy còn mới mẻ nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn rất coi trọng việc bảo vệ BMKD Theo số liệu trong các báo cáo của Sở Khoa học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh 12và trong một số bài phóng sự điều tra, khảo sát về tình hình bảo
vệ BMKD ở một số doanh nghiệp 13 cho thấy một thực tế như sau:
Đối với những công ty lớn có tên tuổi như : Công ty rượu và nước giải khát Anh Đào, Giám đốc điều hành cho biết để giữ bí quyết kinh doanh, công ty đã xây dựng một quy trình bảo mật và chia thành nhiều phần Phần công thức và quy trình công nghệ được giao cho phòng kỹ thuật đảm trách Bộ phận này có nhiệm vụ giữ tuyệt đối
bí mật Ngoài ra, công ty cũng áp dụng nguyên tắc hạn chế tối đa khách thăm quan khu vực kỹ thuật, thậm chí ngay cả cán bộ của công ty nếu không được phép cũng không được ra vào Trong quy trình công nghệ, công ty đã tách hẳn công đoạn quan trọng nhất và chỉ một mình giám đốc nắm giữ công thức này Đây cũng chính là khâu tạo nên sự khác biệt của rượu Anh Đào so với các loại rượu khác trên thị trường Công thức chế biến cà phê Trung Nguyên cũng được bảo vệ rất kỹ lưỡng Tổng giám đốc của công ty cũng xây dựng một quy trình gìn giữ BMKD một cách rất tỉ mỉ Theo đó, từng công đoạn, từ hương liệu, nhiệt độ cho tới khâu tẩm ướp nguyên liệu được giao cho nhiều người nắm giữ Ban đầu giám đốc chịu trách nhiệm quản lý công đoạn quan trọng nhất trong bảy bước chế biến, song công việc ngày càng bận rộn khiến tổng giám đốc phải lựa chọn người có uy tín để chuyển giao Việc chọn người
để nắm giữ các khâu quan trọng trong quy trình công nghệ được tổng giám đốc đặc biệt quan tâm Đó phải là những người có tài, có đức và biết coi trọng chữ tín Ngoài
ra, Công ty Trung Nguyên cũng thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về
Trang 20sở hữu trí tuệ và tăng cường ý thức trách nhiệm của người lao động đối với việc gìn giữ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp
Còn tại công ty ô tô VinaXuki, công ty này cho rằng với những doanh nghiệp lớn, công nghệ sản xuất chính là BMKD Do đó việc chuyển giao công nghệ được thực hiện rất chặt chẽ Trước khi hợp tác với công ty VinaXuki, tập đoàn ô tô Hoa Thần Trung Quốc cử chuyên gia sang khảo sát năng lực nhà máy tại Việt Nam, ngoài
ra VinaXuki còn phải cử nhiều đoàn kỹ sư sang Trung Quốc thuyết trình phương án sản xuất tiếp nhận công nghệ Ngoài số tiền lên tới hàng triệu đô la trả cho đối tác Trung Quốc, hiện nhà máy vẫn phải thuê chuyên gia nước ngoài sang thực hiện những khâu quan trọng mà phía Việt Nam chưa thể đảm nhận được
Với những cơ sở sản xuất nhỏ, việc bảo vệ BMKD thường nằm ở quy mô gia đình, cha truyền con nối Chủ một xưởng sản xuất hàng kỹ nghệ tại Hà Tây, chuyên sản xuất hàng sơn mài, cẩn trứng, sơn tre xuất khẩu, mỗi nhân công làm thuê được hướng dẫn một vài công đoạn, việc hoàn thiện sản phẩm cuối cùng thường do người trong gia đình của chủ cơ sở đó đảm nhiệm để đảm bảo giảm thiểu việc tiết lộ bí quyết cho người ngoài
Từ thực tế trên cho thấy, tùy từng quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ và tùy vào ngành nghề sản xuất mà mỗi doanh nghiệp có BMKD khác nhau, từ đó họ có những cách thức rất khác nhau để bảo vệ BMKD Những doanh nghiệp có tuổi đời càng cao thì càng ý thức được lợi thế mà BMKD mang lại vì vậy họ càng quan tâm trong việc giữ gìn BMKD của mình
Thứ hai, thời hạn bảo hộ BMKD lâu dài sẽ tạo sức cạnh tranh và tính độc quyền rất cao cho sản phẩm
Đối với các sáng chế dạng sản phẩm nhà sản xuất cho rằng nếu bán ra thị trường thì người khác sẽ bắt chước làm được cho nên họ đều tiến hành đăng ký bảo hộ sáng chế Cho dù chỉ được bảo hộ 20 năm, thì sau 20 năm sản phẩm đó đã có thể thống lĩnh thị trường, đã tạo lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, đối với sáng chế dạng quy trình thì ngoài vấn đề gặp khó khăn trong việc đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp,
Trang 21thì các nhà sản xuất muốn tận dụng lợi thế của thời hạn bảo hộ đối với BMKD Vì BMKD được bảo hộ rất lâu dài, thậm chí là vô thời hạn cho đến khi nào mà bí mật đó vẫn đáp ứng các điều kiện được pháp luật bảo hộ Cho nên, các nhà sản xuất lớn đã chọn bảo hộ các sáng chế dạng quy trình hay những bí quyết kinh doanh thông qua hình thức bảo hộ BMKD
Ví dụ : Công ty Cocacola bảo vệ công thức phối liệu của Coca-cola dưới tài liệu dạng giấy được lưu trữ tại kho bảo đảm trong Ngân hàng tín thác ở Atlanta Kho này chỉ có thể mở khi có một Nghị quyết của Ban giám đốc Công ty Chính sách của công
ty là vào bất cứ thời điểm nào cũng chỉ có hai người trong công ty biết được công thức này và chỉ những người đó mới có thể giám sát việc chuẩn bị sản xuất mặt hàng này trên thực tế Quy trình bảo vệ công thức của Coca-cola được coi như một “bí mật kinh doanh được giữ gìn cẩn trọng nhất trên thế giới”14
Nếu công ty Cocacola muốn bảo hộ độc quyền sáng chế dạng quy trình của công thức này thì phải tuân theo thủ tục công bố để được bảo hộ, nhưng việc bảo hộ độc quyền cũng chỉ trong vòng 20 năm Khi công bố như vậy, các đối thủ sẽ có thể bắt chước một sản phẩm tương tự Điều này sẽ làm mất tính độc quyền của sản phẩm Mặt khác, việc bảo hộ thông qua hình thức bảo hộ sáng chế chỉ có hiệu lực trong một thời hạn nhất định, nếu hết thời hạn mà không gia hạn thì các nhà sản xuất khác đều có quyền sử dụng Điều này cũng làm mất tính cạnh tranh của sản phẩm Với việc tự mình bảo vệ BMKD bằng cách giữ gìn tính bí mật và đảm bảo các điều kiện để được pháp luật bảo hộ, Cocacola có thể giữ thế độc quyền và sức cạnh tranh của công thức tạo ra sản phẩm trong vòng 40, 50 năm thậm chí là mãi mãi
Thứ ba, sự cần thiết bảo hộ BMKD xuất phát từ chính nhược điểm của BMKD là dễ dàng bị tiết lộ và đánh cắp
Có thể nói quyền sở hữu trí tuệ nói chung rất dễ bị xâm phạm xuất phát từ giá trị kinh tế cùng với đặc tính vô hình của chúng Đối với BMKD lợi thế thương mại và
14 http://www.noip.gov.vn/html/panorama/ip/04/
Trang 22lợi thế cạnh tranh từ việc nắm giữ công nghệ càng tăng thêm nguy cơ xâm phạm đối với loại tài sản này
Chủ thể thường tiếp cận và hay có những hành vi xâm phạm BMKD là những
người lao động Trong nền kinh tế thị trường, người lao động có quyền lựa chọn và
thay đổi nơi làm việc Họ mang theo thông tin đến nơi làm việc mới và đây thường là các đối thủ cạnh tranh của công ty cũ Thực tế tại Việt nam, đã xảy ra nhiều vụ tranh chấp lao động mà người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải vì có hành vi tiết lộ BMKD,
ăn cắp tài sản trí tuệ của người sử dụng lao động Tác giả sẽ dẫn chứng phân tích kỹ hơn một số vụ án về tranh chấp lao động liên quan đến vấn đề này trong Chương II Các hành vi gián điệp kinh tế thường diễn ra khá phức tạp vì họ thường phục vụ lợi ích cho người thứ ba làm hại đến chủ doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh Để giữ được tính mới của các giải pháp công nghệ thì các ý đồ sản xuất kinh doanh, mẫu
mã, kiểu dáng, các bí quyết không được phép để tiết lộ vì đó là sự sống còn của các nhà sản xuất kinh doanh Các đối tượng cấm tiết lộ là các hồ sơ tài liệu, các qui định, quy trình sản xuất, các công thức kỹ thuật, bí quyết công nghệ Theo đó, những người lao động là các chuyên gia, các nhà kỹ thuật, những người đề xuất các quy trình, công nghệ mang lại lợi ích kinh tế cao, chính là những chủ thể dễ làm lộ tính mới, làm lộ bí mật kinh doanh Việc này, có thể do vô tình hoặc cố ý Họ ăn cắp tính mới, tiết lộ các
bí quyết nhằm chiếm địa vị độc tôn, phá rối thị trường hoặc với nhiều mục đích khác nhau Kinh nghiệm chống các hoạt động gián điệp ăn cắp tính mới, ăn cắp bản quyền, tiết lộ bí quyết của các nước trên thế giới như Áo và Thuỵ Sĩ làm khá tốt Ở các nước nói trên, nhân viên thuộc các tổ chức không được phép làm lộ tính mới hoặc có hành
vi phản bội hoặc tò mò tìm hiểu các bí mật của cơ quan mình làm việc, người nào vi phạm các qui định nêu trên sẽ bị cơ quan theo dõi, áp dụng các hình thức kỷ luật và bị các cơ quan chức năng xử lý theo qui định của pháp luật15 Đây là một kinh nghiệm
mà Việt Nam cũng nên tìm hiểu và học hỏi Việc tiết lộ BMKD đã gây những thiệt
15
Letter, G Gregory (2001) Basics of International Intellectual Property Law, Ardsley, N.Y , Transnational
Publishers, (Bản dịch do Chương trình hợp tác EC- Asean về Sở hữu trí tuệ (ECAP II ) cung cấp
Trang 23hại to lớn và khó lường Nhiều doanh nghiệp chịu trả chi phí rất cao cho việc bảo vệ BMKD của mình và phải mất rất nhiều thời gian, vì các đối thủ luôn tìm mọi cách để chiếm giữ Nhưng để xử lý tốt được các trường hợp gián điệp kinh tế như các nước này, thì ngoài việc quy định chặt chẽ và cụ thể hơn đối với luật chuyên ngành thì Nhà nước ta cũng cần quy định thống nhất trong các luật liên quan, đặc biệt là luật Lao động, nếu không sẽ dẫn đến sự khập khiễng, mâu thuẫn trong chính các quy định pháp luật
Một rủi ro rò rỉ bí mật kinh doanh khác là những người về hưu, những người nghỉ việc khi ra khỏi cơ quan, các BMKD, các bí quyết vẫn còn ghi nhớ trong đầu họ
và được hoàn thiện một cách tốt hơn Họ có thể trao bán cho những người khác mà cơ chế pháp luật khó có thể ngăn cấm được phương thức này Để chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì cán bộ công nhân viên của các đơn vị học sinh học nghề hoặc những người làm hợp đồng do tiếp xúc với công việc, do sự phân công hoặc do
sự tin cậy mà biết được các bí quyết, các BMKD, tính mới của các đối tượng sở hữu công nghiệp thì họ không được tiết lộ các bí mật đó để tư lợi, hoặc làm lợi cho người khác gây thiệt hại cho chủ sở hữu
Với 3 nội dung phân tích trên cho thấy nhu cầu và sự cần thiết của việc bảo hộ BMKD Đây là điều không thể phủ nhận trong hoạt động kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế tri thức ngày nay
1.1.3 Khái niệm về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với Bí mật kinh doanh
Quyền sở hữu là quyền tự nhiên của con người Con người tạo ra rất nhiều tài sản khác nhau: hữu hình và vô hình Quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu với tài sản
vô hình được pháp luật quy định và bảo hộ Hoạt động trí tuệ của con người tạo ra tài sản đặc biệt Hệ thống pháp luật SHTT bên cạnh các quy định về xác lập, nội dung quyền của các chủ thể của quyền SHTT còn có các quy định liên quan đến bảo vệ quyền SHTT Bảo vệ quyền SHTT được hiểu theo hai nghĩa :
Trang 24Theo nghĩa rộng : bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là các biện pháp tác động bằng pháp luật lên hành vi và xử sự của các chủ thể, qua đó đảm bảo cho các chủ thể của quyền SHTT thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với các đối tượng quyền SHHTT Theo nghĩa hẹp : Bảo vệ quyền SHTT là những biện pháp cụ thể được áp dụng
để xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm Phạm
vi của khái niệm này chỉ giới hạn ở các biện pháp áp dụng khi có hành vi xâm phạm quyền SHTT đã được thực hiện trên thực tế
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm bảo vệ quyền SHTT lần đầu tiên quy định trong phần thứ V Luật SHTT 2005 và Nghị định 105/2006 Trước khi Luật SHTT được ban hành, những khái niệm được sử dụng thường xuyên hơn là “bảo hộ quyền SHTT” và “thực thi quyền SHTT”
Bảo hộ quyền SHTT là việc Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về quyền SHTT nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu như tác giả, chủ sở hữu văn bằng bảo hộ và những chủ thể khác liên quan đến việc sử dụng quyền SHTT
Như vậy bảo hộ quyền SHTT bao gồm ba nội dung : (i) Ban hành các văn bản pháp luật về quyền SHTT, (ii) Xác lập quyền sở hữu các đối tượng của quyền SHTT cho các chủ thể khác nhau (hoạt động cấp văn bằng bảo hộ); (iii) Bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chủ văn bằng (hoạt động thực thi quyền)
Thực thi quyền SHTT được hiểu là nhà nước và chủ sở hữu các đối tượng quyền SHTT dùng các phương thức pháp lý để bảo vệ quyền SHTT, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền SHTT của mình16
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “bảo hộ quyền SHTT”, “thực thi quyền SHTT và “bảo vệ quyền SHTT” Thực tế của ba hoạt động này cho thấy chúng
có những điểm khác biệt cơ bản Bảo hộ quyền SHTT chủ yếu liên quan đến các thủ tục hành chính trong việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hành vi
16 Lê Văn Kiều- Bộ KHCN (2004), Thực thi quyền, giải quyết tranh chấp, giải quyết khiếu nại và tố cáo về
quyền SHCN, Hà Nội
Trang 25nhằm xác lập quyền SHTT và bảo vệ quyền cho chủ thể quyền Trong khi đó, khái niệm thực thi quyền SHTT lại được hiểu là các hành vi của các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ quyền SHTT Còn đối với bảo vệ quyền SHTT theo nghĩa rộng thì ngoài việc công nhận quyền cho chủ thể, đảm bảo quyền của chủ thể đối với các đối tượng của quyền SHTT, Nhà nước còn cho phép hoặc áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền của chủ thể hưởng quyền SHTT trên thực tế 17
Tại Điều 3 Luật SHTT quy định đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các đối tượng về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Như vậy quyền sở hữu công nghiệp là một thể loại trong quyền sở hữu trí tuệ
và bảo hộ quyền SHCN cũng mang những đặc điểm của bảo hộ quyền SHTT nói chung
Tại khoản 4 Điều 4 Luật SHTT quy định : Quyền sở hữu công nghiệp là quyền
sở hữu của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giải pháp hữu ích, thiết kế, bố trí mạch tích hợp bán dẫn, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
Luật SHTT không có khái niệm về bảo hộ quyền SHTT nói chung hay bảo hộ quyền SHCN nói riêng Căn cứ vào nội dung các quy định trong Luật SHTT có thể thấy khái niệm bảo hộ quyền SHCN được hiểu theo hai nghĩa : nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng khái niệm bảo hộ quyền SHCN là bao gồm các quy định pháp luật nhằm thể chế hóa chính sách nhà nước về lĩnh vực SHTT như quy định về điều kiện bảo hộ, căn cứ xác lập quyền, quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, nội dung và giới hạn quyền, quy định về chuyển giao quyền SHCN và quy định về bảo vệ quyền SHCN Theo nghĩa hẹp, bảo hộ quyền SHCN chính là quy định về bảo vệ quyền SHCN
Như vậy bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD theo nghĩa hẹp có thể hiểu là các quy định để bảo vệ quyền SHCN đối với BMKD Bảo vệ BMKD nếu hiểu theo Luật SHTT là hành vi của các cá nhân, tổ chức áp dụng các phương thức để bảo vệ đối với
17 Lê Đình Nghị, Vũ Thị Hải Yến (2010), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Giáo dục, tr 168
Trang 26BMKD mà mình nắm giữ Nhà nước quy định cụ thể thông qua năm biện pháp bảo bệ quyền SHTT nói chung và BMKD nói riêng: tự bảo vệ, bảo vệ bằng biện pháp hành chính, dân sự, hình sự và biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến
sở hữu trí tuệ Nội dung này sẽ được tác giả phân tích kỹ hơn trong mục 1.2
1.1.4 Đặc điểm và bản chất quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
1.1.4.1 Đặc điểm của quyền SHCN đối với BMKD
BMKD cũng là một trong những đối tượng của quyền SHTT nên BMKD sẽ mang đầy đủ đặc điểm chung của quyền SHTT nói chung:
- Đặc điểm về căn cứ phát sinh và xác lập quyền : Quyền SHTT phát sinh một cách tự nhiên như quyền tác giả, và nhóm quyền phát sinh trên cơ sở đăng ký như quyền đối với nhãn hiệu, sáng chế
- Đặc điểm về nội dung quyền : Quyền SHTT là một loại quyền khuyết quyền năng chiếm hữu, chỉ bao gồm quyền sử dụng và quyền định đoạt Trong đó quyền năng sử dụng là quyền độc quyền của chủ sở hữu trí tuệ
- Đặc điểm về giới hạn quyền : tại Điều 7 của Luật SHTT quy định về nguyên tắc giới hạn quyền Theo đó quyền SHTT bị giới hạn bởi lợi ích của cộng đồng, bị giới hạn về không gian (lãnh thổ) được bảo hộ Đồng thời, nó còn bị giới hạn bởi các quyền lợi chính đáng của người khác hoặc bởi lợi ích cộng đồng và bị giới hạn bởi chính các nghĩa vụ mà chủ
sở hữu phải thực hiện như nghĩa vụ nộp lệ phí duy trì hiệu lực văn bàng bảo hộ tài sản trí tuệ
Tuy nhiên, xuất phát từ đặc tính của BMKD nên quyền SHCN đối với BMKD
có những đặc thù riêng biệt trong xác lập quyền cũng như giới hạn và sử dụng quyền như sau:
Quyền SHCN đối với BMKD được bảo hộ một cách tự nhiên, không cần đăng ký bảo hộ
Trang 27Trong số các đối tượng của sở hữu trí tuệ thì BMKD mang tính chất đặc thù hơn Khi doanh nghiệp muốn được bảo hộ quyền SHCN đối với kiều dáng công nghiệp, sáng chế hay nhãn hiệu hàng hóa, thì doanh nghiệp đó phải tiến hành thủ tục đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo trình tự luật định, nhưng để được bảo hộ Quyền SHCN đối với BMKD thì chủ sở hữu không phải nộp đơn mà có thể tự mình tiến hành quy trình quản lý, bảo vệ Vì thế, BMKD được bảo hộ mà chủ sở hữu không cần tốn chi phí vế đăng ký, không phải công bố thông tin và lảm thủ tục đăng ký
Quyền SHCN đối với BMKD được bảo hộ ngay khi thông tin đáp ứng được đủ điều kiện
để trở thành BMKD
Khi một thông tin đáp ứng đồng thời 3 điều kiện nêu tại Điều 84 LSHTT thì trở thành BMKD và nó tự động được bảo hộ ngay lập tức Nghĩa là Nhà nước không xác định quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với BMKD bằng việc thực hiện các thủ tục đăng ký để được cấp các văn bằng bảo hộ mà chỉ quy định các điều kiện bảo hộ và đối tượng bảo hộ
Để giải thích cặn kẽ hơn các điều kiện để một thông tin được coi là BMKD, tác giả lần lượt phân tích từng điều kiện như sau :
- Điều kiện thứ nhất : Không phải là hiểu biết thông thường
Thông tin không phải là hiểu biết thông thường có nghĩa là thông tin đó không phải là những hiểu biết hoặc là những kiến thức thông dụng, bình thường, phổ biến
mà ai cũng có thể biết đến Nói cách khác, có thể gọi những thông tin này là những thông tin “hiếm” Mặt khác thông tin này phải chưa được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, chưa được nhiều người biết đến Ví dụ các thông tin sau mang tính : “hiểu biết thông thường” như các thông tin trong tài liệu của một công ty, được phát hành công khai (kể cả bằng tiếng nước ngoài), các kiến thức phổ thông có trong sách giáo khoa, sách báo thông thường,… sẽ không được coi là BMKD Tuy vậy, nếu một ai đó, trên cơ sở những thông tin đã được công bố công khai này họ tổng hợp lại, thêm vào và tạo ra những thông tin mới và thông tin mới này thỏa mãn điều kiện để được là BMKD Ví dụ: danh sách khách hàng được công
Trang 28bố công khai trên tất cả các tài liệu của công ty như website, prochure, catalog, thì không phải là BMKD Nhưng sau đó, một người đã biên tập lại và bổ sung thêm những thông tin cá nhân của từng khách hàng như : nhu cầu, sở thích, tình trạng tài chính, thân nhân, nghề nghiệp, …thì trong trường hợp này, có thể được xem như là BMKD của riêng họ
- Điều kiện thứ hai : Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó
Điều kiện này thể hiện ở hai nội dung :
- BMKD phải có giá trị sử dụng trong kinh doanh : Điều này có nghĩa là, mặc
dù thông tin được các chủ thể nắm giữ là thông tin “có giá trị” nhưng không có khả năng sử dụng bởi người chủ sở hữu thông tin hoặc người kiểm soát thông tin đó thì cũng không được bảo hộ
- BMKD phải mang lại lợi thế cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ
sở hữu hoặc người kiểm soát hợp pháp thông tin đó Tùy thuộc vào tính chất, nội dung của BMKD, các lợi thế mà BMKD mang lại cho người nắm giữ rất đa dạng, phong phú :
+ Các lợi ích kinh tế (ví dụ như lợi nhuận) mà thông tin mang lại cho công việc kinh doanh trong hiện tại hoặc trong tương lai đối với chủ sở hữu BMKD
+ Các lợi thế cạnh tranh, các thuận lợi trong sản xuất kinh doanh mà BMKD
đó đã mang lại cho chủ sở hữu so với các đối thủ không biết hoặc không
sử dụng BMKD đó
+ Lợi thế về giá cả hoặc thị phần của sản phẩm
+ Các “cơ hội” mà chủ sở hữu BMKD có được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình do BMKD mang lại
Trang 29Để minh họa cho cách hiểu về tiêu chí bảo hộ đối với BMKD, tác giả đưa ra hai
ví dụ sau đây được trích dẫn trong một tài liệu về BMKD 18 để minh họa thêm cho điều kiện này:
Vụ kiện 1 : A trao đổi với B mở nhà xe tại điểm X, để tìm sự hợp tác nhưng B
từ chối Sau đó B lại thông báo vị trí địa điểm này với bên C, hợp tác với C A kiện, Tòa bác yêu cầu bên nguyên, vì việc kinh doanh ngành xe là hiểu biết thông thường,
ai cũng có thể biết; vị trí thuận lợi X thì có thể nhiều người cũng nhận ra, không được coi là BMKD
Vụ kiện 2 : Công ty A kinh doanh lĩnh vực xây dựng dân dụng A xây dựng cho
B một nhà tiền chế Hai bên có ký một cam kết bảo mật rằng B không được tiết lộ, sử dụng những bản vẽ đó với bên thứ ba Sau khi hoàn thành Hợp đồng với A, B dùng những bản vẽ này xây dựng một nhà tiền chế theo thiết kế của A cho C A tiến hành khởi kiện B lý luận trước tòa rằng : bản vẽ cấu trúc nhà tiền chế đó nếu bất kỳ ai mở
ra xem ai cũng có thể biết được, bất kỳ ai khi đã mua và sử dụng đều có thể biết về thông số kỹ thuật đó Nên không coi là BMKD của A nữa Tòa xét rằng : bất kỳ ai muốn sản xuất kinh doanh, phải tái lập bản vẽ và những thông số tính toán liên quan đến bản vẽ Vì thế, các thông tin này không coi là hiểu biết thông thường Mặt khác, muốn có được các bản vẽ, thông số kỹ thuật đó phải tiêu tốn những chi phí nhất định
Vì vậy nó tạo ra lợi thế của A Hơn nữa, hai bên cũng đã giao kết về bảo mật, B đã vi phạm nghĩa vụ về bảo mật, qua đó đã đặt A với các công ty khác vào thế cạnh tranh bất bình đẳng Tòa tuyên B đã có hành vi xâm phạm BMKD của A và đình chỉ việc B xây dựng nhà tiền chế khi sử dụng mẫu của công ty A
- Điều kiện thứ ba : Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được
18
Black (1996), M Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights : A Cosie Guide to the TRIPS
Agreement, Sweet&Maxwell, London
Trang 30Một yếu tố quan trọng để trả lời câu hỏi “Thông tin nào là bí mật kinh doanh?” chính là việc những thông tin đó được chủ sở hữu bảo vệ đến đâu và ở mức độ như thế nào
Có nghĩa là việc tiếp cận những thông tin đó trên thực tiễn hoàn toàn không đơn giản Điều kiện này thể hiện tính “bí mật” của thông tin Đối với các chủ thể không phải là chủ sở hữu hoặc không phải là người kiểm soát hợp pháp thông tin nếu muốn biết thì phải rất khó khăn mới có khả năng tiếp cận được
Ví dụ : các bí quyết gia truyền trong việc nấu phở, pha chế một loại thuốc quý đang bán rất “chạy” ngoài thị trường (đây là loại BMKD rất quan trọng của doanh nghiệp, cá nhân) Để biết được những thông tin này thì chủ thể khác (đặc biệt là đối thủ cạnh tranh) phải tìm cách nghiên cứu sản phẩm thực tế đang bán trên thị trường,
để rồi từ đó tìm ra công thức tạo ra sản phẩm (hay gọi là quá trình phân tích ngược) Công việc này được xem là hợp pháp, tuy nhiên tốn kém rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc và nhiều khi vẫn không tìm ra được công thức chính xác của chủ sở hữu BMKD đó Một cách khác cũng được một số đối thủ cạnh tranh sử dụng khá phổ biến
đó là : ăn trộm, xúi giục người khác tiết lộ, mua chuộc người nắm giữ tiết lộ, hoặc sử dụng gián điệp kinh tế để tiếp cận, chiếm đoạt công thức sản sản phẩm của chủ sở hữu
Ngược lại, đối với các thông tin mà các nhà chuyên môn, đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực đều dễ dàng tiếp cận thì không coi là BMKD Ví dụ như các thông báo công khai về tình hình sản xuất kinh doanh (bản cáo bạch khi niêm yết trên thị trường chứng khoán) là thông tin mà mọi người có thể tiếp cận công khai thì không được coi là BMKD
Một BMKD muốn được bảo hộ thì chủ sở hữu BMKD đó phải thể hiện rõ là họ
đã và đang chủ động áp dụng các biện pháp để nhằm ngăn chặn việc tiết lộ hoặc sử dụng bất hợp pháp BMKD Và các biện pháp này phải phù hợp với nội dung, tính chất và đặc điểm của từng loại BMKD mà người chủ sở hữu đang chiếm giữ
Trang 31Ví dụ : đối với BMKD là một mã nguồn (source code) của một website thì phải lưu thành file trong máy tính có cài đặt password Còn đối với BMKD thể hiện dưới dạng văn bản thì phải đóng dấu mật hoặc tuyệt mật và để trong két sắt có khóa cẩn thận
Thông thường, các biện pháp bảo mật thích hợp được chủ thể nắm giữ BMKD
áp dụng những biện pháp để hạn chế việc tiếp cận, nắm giữ trái phép thông tin và biện pháp ngăn ngừa việc bộc lộ thông tin cho người khác nếu không được phép các chủ thể đó Các biện pháp này có thể là các biện pháp cảnh báo về BMKD, kiểm soát, cất giữ BMKD Các biện pháp chống việc bộc lộ thông tin có thể thực hiện dưới dạng Hợp đồng bảo mật, hoặc các điều khoản cam kết trong Hợp đồng lao động, trong đó quy định cụ thể trách nhiệm và nghĩa vụ của người biết hoặc tiếp cận thông tin mà mình được tiếp cận Việc áp dụng các biện pháp bảo mật sẽ không bị giới hạn về thời gian (trong trường hợp chủ sở hữu của BMKD đó vẫn có nhu cầu giữ “bí mật”) Khác với các đối tượng quyền SHCN khác như nhãn hiệu, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích dẫn, quyền SHCN đối với BMKD được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp BMKD và thực hiện việc bảo mật BMKD đó Theo điểm c khỏan 1 điều 6 Luật SHTT, quyền SHCN đối với BMKD được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó Vậy chủ sở hữu BMKD ngoài việc chứng minh mình có được hợp pháp BMKD thì chủ sở hữu phải chứng minh được rằng mình đã dùng các biện pháp để tự bảo vệ BMKD đó
Quyền SHCN đối với BMKD được bảo hộ cho đến khi nào BMKD còn đáp úng điều kiện bảo hộ
Trong khi đa số các đối tượng của Quyền SHTT khác được giới hạn về thời hạn bảo hộ như văn bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích
có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến năm năm hoặc hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn (Điều 93 Luật SHTT), thì BMKD được bảo hộ một cách lâu dài, không xác định thời hạn kết thúc BMKD sẽ được bảo hộ cho đến khi nào vẫn đáp ứng đủ 3 điều kiện
Trang 32bảo hộ Như vậy BMKD có thể được bảo hộ mãi mãi, chỉ khi nào BMKD mất đi một điều kiện thì BMKD đó mới không còn được bảo hộ nữa
Ví dụ : Một công ty A ký hợp đồng tư vấn với bên B Bên B vô tình lộ công thức cho bên C, bên C công bố thông tin đó thì bí mật đó đã trở thành hiểu biết thông thường vì thế không còn được bảo hộ nữa
Những đối tượng sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng) khi chưa đăng ký bảo hộ thì chúng có thể tồn tại với hình thức là BMKD Nhưng tuỳ thuộc tình hình phát triển công nghệ trên thị trường, BMKD được đăng ký sẽ trở thành một đối tượng
sở hữu công nghiệp cụ thể
BMKD được thể hiện trên bao bì sản phẩm và trong chính sản phẩm, khi đưa sản phẩm ra thị trường thì bằng công nghệ ngược, đối thủ cạnh tranh có thể tìm ra những thông tin đó và họ có thể sản xuất loại hàng hoá tương tự Hành vi này được coi là không vi phạm quyền SHCN đối với BMKD
1.1.4.2 Bản chất của quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
Trong quan hệ quyền sở hữu trí tuệ, các chủ thể vừa có quyền nhân thân vừa có các quyền tài sản đối với các thành quả sáng tạo hay uy tín kinh doanh được pháp luật bảo hộ Điều này cũng lý giải tại sao các quy định về sở hữu trí tuệ không được gộp chung trong phần 2 của BLDS về sở hữu Trong phần 2, khi nhắc đến quyền sở hữu, chúng ta chỉ nhắc đến quyền sở hữu, BLDS chỉ nhắc đến khía cạnh quyền tài sản mà không nhắc đến quyền nhân thân Trong khi đó, trong phần 6, khi nhắc đến quyền SHTT, BLDS nhiều lần đề cập đến quyền nhân thân của tác giả, thí dụ như quyền đặt tên tác phẩm, hay quyền của tác giả sáng chế được ghi tên mình trong văn bằng bảo
hộ độc quyền Đó là quyền nhân thân không thể tách rời của các tác giả
Bản chất thứ hai của quyền sở hữu trí tuệ là tính độc quyền19 Điều này có nghĩa
là không ai được sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ nếu chưa được chủ thể quyền cho phép (trừ một số trường hợp ngoại lệ theo luật định)
19 Lê Nết (2004), Quyền sở hữu trí tuệ, tài liệu giảng dạy, tr 227- 229
Trang 33Tuy nhiên, phạm vi độc quyền của từng đối tượng sở hữu trí tuệ rất khác nhau Đối với quyền tác giả, phạm vi độc quyền chỉ gói gọn trong hình thức ttrình bày tác phẩm Chủ sở hữu quyền tác giả văn học được độc quyền trong việc cho hay không cho người khác sao chép, cải biên tác phẩm của mình Tuy nhiên, chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền cấm người khác xuất bản tương tự, nếu tác phẩm đó được sáng tạo một cách độc lập (có tính nguyên gốc), không hề sao chép từ tác phẩm đầu tiên, và sự trùng lặp chỉ là ngẫu nhiên Đối với quyền sở hữu công nghiệp, phạm vi độc quyền rộng lớn hơn Nếu một chủ sở hữu sáng chế chưa được cấp bằng nhưng đã nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ, thì bất kỳ người nào khác, dù sáng tạo độc lập, không ăn cắp ý tưởng của người đã nộp đơn, cũng không được bảo hộ độc quyền như người nộp đơn đầu tiên nữa Chính vì vậy, trong chế định về quyền sở hữu công nghiệp có khái niệm về ngày ưu tiên và quyền ưu tiên, một khái niệm mà chế định về quyền tác giả không có
Tuy nhiên, riêng BMKD không được bảo hộ độc quyền một cách toàn bộ 20 Cụ thể như chủ sở hữu BMKD không được quyền cấm các chủ thế khác thực hiện các hành vi được liệt kê tại khoản 3 Điều 125 Luật SHTT như tác giả đã phân tích ở mục 1.1.1 trên
Sau cùng, một đặc điểm cần lưu ý là độc quyền của SHTT được pháp luật thực thi thông qua một hệ thống bảo hộ Việc bảo hộ quyền SHTT nói chung và BMKD nói riêng phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
- Bảo hộ có mục đích : như giải phóng sức lao động, khuyến khích sáng tạo,
có khả năng đem lại lợi ích cho xã hội, có khả năng ứng dụng trong các ngành kinh tế - xã hội
- Bảo hộ có điều kiện : nghĩa là việc bảo hộ phải không đi ngược lại với lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích của chủ thể khác
20 Lê Nết (2004), Quyền sở hữu trí tuệ, tài liệu giảng dạy, tr 154
Trang 34- Bảo hộ có chọn lọc : nghĩa là để bảo hộ, các đối tượng phải được chọn lọc
kỹ thông qua việc kiểm tra các tiêu chuẩn bảo hộ Khi tiêu chuẩn bảo hộ không cao, cần có cơ quan kiểm tra tiêu chuẩn bảo hộ
Tóm lại, độc quyền trong sở hữu trí tuệ là độc quyền có giới hạn về không gian, thời gian và nội dung Nguyên nhân giới hạn việc bảo hộ là do pháp luật muốn hạn chế những mặt tiêu cực của độc quyền Bảo hộ tạo ra độc quyền Về mặt tích cực, độc quyền khuyến khích lao động sáng tạo Để có một thành quả lao động sáng tạo, tác giả phải bỏ biết bao công sức Song các thành quả này dễ dàng bị đánh cắp, hay bị
sử dụng thậm chí tác giả không thể biết về điều này Chỉ có các chế định bảo hộ độc quyền mới có thể hạn chế cạnh tranh, mà chính cạnh tranh cũng là một động lực để phát triển lao động sáng tạo Vì thế, khi nào độc quyền còn phát huy tác dụng làm khuyến khích lao động sáng tạo, giải phóng sức sản xuất thì pháp luật còn bảo vệ độc quyền Khi vai trò tích cực của độc quyền chấm dứt thì cũng là lúc phải hạn chế bảo
hộ độc quyền21
Sở hữu BMKD là sở hữu một tài sản vô hình BMKD là những thông tin, không chạm, không cầm nắm được nhưng lại có thể mang lại giá trị thặng dư được tính thành tiền Hiện nay, tài sản có giá trị lớn của một tổ chức danh tiếng không phải chiếm tỷ trọng ở tài sản hữu hình mà lại ở những tài sản vô hình như BMKD, như bí quyết công nghệ hoặc trong giá trị thương hiệu
Mặt khác, BMKD là một tài sản vô hình tạo ra giá trị không phải nhờ vào các giá trị “thuộc tính vật chất” mà nhờ vào “nội dung trí tuệ” của nó Vì thế, quyền sử dụng là quyền quan trọng nhất trong việc sở hữu một BMKD
1.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong pháp luật Việt Nam
21
Kessie, F-K (1999) “Developing Countries and the world Trade Organization – What has Changed ?” World
Competition 22 (2) : 94
Trang 35Trên thế giới, vấn đề bảo hộ Quyền SHCN đối với BMKD đã được chú ý đến từ năm 1883, khi Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp có hiệu lực Sau đó, năm
1994, “Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) ra đời cũng đã quy định việc bảo hộ BMKD tại Điều 39 Mục 7 Tại Việt Nam, mãi sau khi Hiến pháp 1992 được ban hành thì pháp luật về SHTT mới chính thức được thể hiện Từ đây cơ chế bảo hộ và thực thi Luật SHTT tại Việt Nam đã được thiết lập Với sự hình thành và phát triển của pháp luật SHTT, những quy định pháp luật về BMKD từng bước được hình thành và hoàn thiện Theo đó,
được chia ra làm 2 giai đoạn sau :
1.2.1 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trước khi có Luật sở hữu trí tuệ năm 2005
Trước khi Luật SHTT năm 2005 ra đời, các quy định pháp luật về quyền SHTT nói chung còn rất hạn chế và chung chung Đặc biệt, khái niệm về BMKD thậm chí
chưa được quy định trong BLDS 1995 Tại Điều 780 BLDS 1995: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đối với tên gọi
xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy
định”
Nhằm đáp ứng và giải quyết tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có chiều hướng phổ biến, phức tạp cũng như phù hợp với các Điều ước quốc tế như Hiệp Định TRIPS và Hiệp định thương mại Việt Hoa Kỳ (Bilateral Trade Agreement – BTA), Nghị định 54/2000/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 3/10/2000 đã được ban hành
Nghị định 54/2000/NĐ-CP đã làm rõ hơn “các đối tượng khác” quy định tại
điều 780 BLDS 1995, trong đó khái niệm BMKD mới được định nghĩa tại khoản 3
Điều 4 và khoản 1 điều 6 của Nghị định như sau: “ Bí mật kinh doanh được bảo hộ
là thành quả đầu tư dưới dạng thông tin có đủ điều kiện sau đây : a) Không phải là hiểu biết thông thường; b) Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm
Trang 36giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; c) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được.”
Cùng với việc đưa ra khái niệm về BMKD một cách rõ ràng và cụ thể hơn, Nghị định 54/2000/NĐ-CP đã quy định được căn cứ, điều kiện xác lập và cách thức chuyển giao SHCN đối với BMKD tại Điều 5, 7 và 9 Đặc biệt tại các điều 18, 21 và 23 đã nêu được các hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền SHCN đối với BMKD và trình tự
xử lý đối với các hành vi xâm phạm này
Tuy vậy, sau khi có Nghị định 54/2000/NĐ-CP, các quy định liên quan đến bảo
hộ Quyền SHCN đối với BMKD cũng không có bước tiến rõ nét nào về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quyền SHT, khiến cho việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn vẫn còn những khó khăn không nhỏ
1.2.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh từ khi có Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đến nay
Xuất phát từ những yêu cầu trên, BLDS 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 đã quy định cụ thể hơn so với BLDS 1995 Theo đó quyền SHCN đối với BMKD của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc hoàn toàn vào việc các cá nhân, tổ chức này có được BMKD một cách hợp pháp và tiến hành việc bảo mật thông tin đó (Khoản 2 Điều 751 BLDS 2005)
Nội dung này đã được Luật về SHTT năm 2005 sau đó được bổ sung, sửa đổi năm 2009 (sau đây gọi chung là Luật SHTT) đã quy định một cách thống nhất, toàn diện và chi tiết hơn về cơ chế bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD
Trước tiên, khái niệm BMKD đã được mở rộng hơn so với Nghị định 54/2000 :
“Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”
Tiếp đó, căn cứ xác lập quyền SHCN đối với BMKD đã cụ thể và rõ ràng hơn vì
dựa trên hai cơ sở “có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó” (điểm c khoản 3 Điều 6 Luật SHTT)
Trang 37Mặt khác, Luật SHTT có quy định chi tiết hơn các điều kiện để bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD, các quy trình thực hiện việc bảo hộ và các hành vi bị coi là xâm phạm BMKD Tại điều 127 Luật SHTT năm 2005 đã quy định năm loại hành vi xâm phạm quyền đối với BMKD Ngoài ra, nếu không thực hiện nghĩa vụ bảo mật quy định tại Điều 128 của Luật SHTT cũng bị xem như là xâm phạm quyền đối với BMKD
Do biện pháp bảo vệ là một trong những nội dung quan trọng nhất của cơ chế bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD, cho nên sau đây, tác giả sẽ đi sâu vào phân tích các biện pháp : tự bảo vệ, dân sự, hành chính, và hình sự được áp dụng để xử lý các hành vi xâm phạm BMKD Được quy định cụ thể tại phần thứ năm của Luật SHTT từ điều 198 đến 219 và các văn bản áp dụng pháp luật liên quan
1.2.2.1 Biện pháp tự bảo vệ
Trong cơ chế bảo vệ quyền SHCN đối với BMKD thì quyền tự bảo vệ có một ý nghĩa rất quan trọng Quyền tự bảo vệ xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của pháp luật Việt Nam, được ghi nhận tại Điều 9 và Điều 255 Bộ luật dân sự và được cụ thể hóa tại Điều 198 Luật SHTT Theo đó, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:
a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;
c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật SHTT và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Trang 38Biện pháp tự bảo vệ xuất phát từ nhu cầu của các chủ sở hữu BMKD nhằm bảo
vệ và ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến BMKD Biện pháp tự bảo vệ được thể hiện trước hết ở hành vi tiến hành các thủ tục cần thiết để xác lập quyền sở hữu đồng thời áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa các hành vi xâm phạm đến BMKD gồm
cả các biện pháp công nghệ như sử dụng các mật mã để bảo vệ chương trình máy tính, khóa tủ hồ sơ hoặc lập các cam kết bảo mật thông tin, v.v
Tuy nhiên, các biện pháp ngăn ngừa này trên thực tế cũng không phát huy được tối đa hiệu quả bảo hộ Bởi vậy, khi có hành vi xâm phạm BMKD, chủ thể quyền có thể lựa chọn các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu BMKD của mình như : yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành xâm phạm, yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý hành vi xâm phạm hoặc kiện ra Tòa
án hoặc yêu cầu trọng tài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Có thể nói rằng biện pháp tự bảo vệ là biện pháp thể hiện cao nhất sự tự định đoạt của chủ sở hữu BMKD Việc tự bảo vệ là một nhu cầu thiết yếu trong mọi phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản nói chung và đặc biệt rất có ý nghĩa vì nó rất phù hợp với đặc điểm của BMKD Trong đó, một trong những điều kiện để BMKD được bảo hộ là chủ sở hữu phải chứng minh rằng mình đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được (Điều
84 Luật SHTT) Điều này đã được tác giả phân tích kỹ ở mục 1.1.4 trên
Với biện pháp tự bảo vệ, chủ sở hữu BMKD thể hiện sự chủ động trong việc áp dụng các biện pháp mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào Trong quá trình giải quyết tranh chấp liên quan đến BMKD, các chủ thể có thể hòa giải, thương lượng với nhau để chấm dứt tranh chấp vào bất cứ thời điểm nào Bên cạnh đó, biện pháp này còn có ưu điểm là các chủ thể có thể dễ dàng áp dụng mà không phụ thuộc vào sự cho phép của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giúp nhanh chóng ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm trong một chừng mực nhất định Hơn nữa, biện pháp tự bảo vệ
có tính kinh tế cao nhất, tiết kiệm thời gian trong việc giải quyết tranh chấp Trong khi việc giải quyết tranh chấp bằng việc khởi kiện vừa mất thời gian do trình tự tố
Trang 39tụng kéo dài, vừa tốn chi phí cho việc thẩm định và tham gia tố tụng Chính vì thế, biện pháp tự bảo vệ mang lại hiệu quả nhanh chóng và hạn chế được sự xâm phạm trở nên nghiêm trọng Tuy nhiên, do tính chất của biện pháp này là không có tính cưỡng chế nhà nước, nên trong trường hợp người có hành vi xâm phạm BMKD không tự nguyện chấm dứt hành vi xâm phạm thì biện pháp này chưa phát hiệu quả trên thực
tế22
Vì thế, ngoài quyền tự bảo vệ, chủ sở hữu BMKD còn được pháp luật bảo vệ thông qua các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự quy định tại Điều 127,128 Luật SHTT
1.2.2.2 Bảo vệ bí mật kinh doanh bằng biện pháp hành chính
Biện pháp hành chính cũng được quy định chi tiết trong Luật SHTT và áp dụng mức xử phạt theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 Bên cạnh đó, Nghị định 106/2006/NĐ-CP của chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT, những quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi xâm phạm BMKD
Theo quy định của Luật SHTT các cơ quan sau đây có thẩm quyền áp dụng biện pháp hành chính: Cơ quan Thanh tra khoa học công nghệ, Cơ quan Quản lý thị trường, Cơ quan Công an, Cơ quan Hải quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và UBND cấp huyện có thẩm quyền Trong quá trình bảo vệ QSHTT nói chung và Bảo vệ BMKD nói riêng không phải bất kỳ cơ quan nào cũng có thẩm quyền ngoại trừ những
cơ quan này
Tại điều 27 Luật SHTT năm 2009 đã sửa đổi bổ sung điều 211 Luật SHTT năm
2005 và Nghị định 2006/NĐ-CP đã quy định các hành vi liên quan trực tiếp đến BMKD bị xử phạt vi phạm hành chính : như vi phạm nghĩa vụ bảo mật dữ liệu thử nghiệm khi nộp đơn xin cấp phép kinh doanh, lưu hành dược phẩm, nông hóa phẩm (Điều 10 Nghị định 2006/NĐ-CP); cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm bí mật
22 Lê Đình Nghị, Vũ Thị Hải Yến (2010), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, tr 184, Nhà xuất bản Giáo dục
Trang 40kinh doanh trong lĩnh vực SHCN (Điều 16 Nghị định 2006/NĐ-CP) Hành vi xâm phạm BMKD bị xử lý bằng biện pháp hành chính là hành vi xâm phạm lần đầu, lỗi vô
ý, chưa ảnh hưởng nhiều cho xã hội, chưa gây thiệt hại nghiêm trọng cho chủ thể quyền SHTT, vẫn có khả năng khắc phục được
Tại điều Điều 28 Luật SHTT 2009 bổ sung Điều 214 Lụât SHTT 2005 và khỏan
1 Điều 3 Nghị định 2006/NĐ-CP thì các cá nhân tổ chức có xâm phạm quyền SHTT buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp dụng là cảnh cáo, phạt tiền Mức phạt tiền mà các cá nhân, tổ chức xâm phạm bị ấn định là ít nhất bằng giá trị hàng hóa vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hóa vi phạm đã phát hiện
Bên cạnh đó, tùy theo tính chất mức độ xâm phạm thì người xâm phạm còn bị
áp dụng các hình phạt bổ sung có thể áp dụng như đình chỉ có thời hạn họat động
kinh doanh trong lĩnh vực xảy ra vi phạm; tịch thu hàng hoá giả mạo, tạm giữ người;
tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ (Điều 214.2 Nghị định 106/2006 NĐ-CP)
Ngày 21/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2010/NĐ-CP quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 09/11/2010 và thay thế Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp Đối với vụ vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp được thụ lý từ ngày Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực nhưng trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì xử lý theo quy định của Nghị định số 106/2006/NĐ-CP;
Từ các quy định trên cho thấy biện pháp hành chính là biện pháp chủ yếu hiện nay nhà nước ta áp dụng để bảo vệ quyền SHTT nói chung và BMKD nói riêng vì nó
dễ thực hiện và đơn giản