Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, … và bí mật kinh doanh là tuân theo một trong các q
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ THANH TUYÊT
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2011
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ THANH TUYÊT
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quế Anh
Hà Nội – 2011
Trang 31
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ THANH TUYÊT
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2011
Trang 42
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ THANH TUYÊT
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quế Anh
Hà Nội – 2011
Trang 5Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
WTO World Trade Oganization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6
5
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi loài người xuất hiện trên trái đất thì đó cũng là lúc các hoạt động lao động sáng tạo của con người bắt đầu, và hoạt động đó không ngừng vận động, phát triển Từ đó đến nay chúng ta đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển,
đã có nhiều phát minh, nhiều nền văn minh lớn ghi lại dấu ấn về khả năng sáng tạo vô cùng vô tận của con người Cũng từ lao động, từ quá trình phát triển theo chiều hướng đi lên, con người tạo ra các sản phẩm tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình Chúng ta gọi đó là các tài sản vô hình và chúng ngày càng chiếm vị trí quan trọng thậm chí không thể thiếu được trong đời sống vật chất, tinh thần của mỗi con người cũng như đối với toàn xã hội
Theo quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, muốn phát triển, con người buộc phải làm theo đúng những quy luật của nó Việc bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, … và bí mật kinh doanh là tuân theo một trong các quy luật đó nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển lành mạnh góp phần quan trọng làm thay đổi vượt bậc và căn bản mọi mặt đời sống kinh
tế - xã hội của nhân loại
Khi loài người bắt đầu bước vào giai đoạn sản xuất hàng hóa thì các thương nhân độc lập cũng bắt đầu biết tích luỹ những kinh nghiệm, những kỹ năng sản xuất, kinh doanh của mình để tạo nên những ưu thế nhất định nhằm cạnh tranh với những thương nhân khác Và cũng để cạnh tranh, một trong những quy luật của kinh tế thị trường, các thương nhân bắt buộc phải tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu, tích lũy, phát triển bí quyết riêng Điều quan trọng là các bí quyết đó phải được giữ bí mật, không thể tiết lộ cho người khác thì mới giữ được ưu thế trong kinh doanh Chính những kinh nghiệm được tích lũy,
Trang 7Nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh xuất hiện cùng với sự phát triển của giao lưu thương mại nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu công nghiệp này Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh vẫn không ngừng vận động và phát triển theo hướng mở rộng các quyền năng cho chủ sở hữu, mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ Việc bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với
bí mật kinh doanh không chỉ là vấn đề riêng lẻ của từng quốc gia mà nó từ lâu
đã là vấn đề luôn mang tính toàn cầu trong bối cảnh tự do hóa, toàn cầu hóa thương mại hiện nay
Trên thế giới, các BMKD có thể được hình thành, phát triển và tồn tại
từ rất lâu đời nên BMKD đã được quan tâm từ sớm Đã có nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương quy định về vấn đề này như Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ 1995 (TRIPS), và các hiệp định song phương như Hiệp định thương mại Việt Nam
- Hoa kỳ năm 2000… Các quốc gia hầu như đều có các quy định nhằm bảo hộ cho BMKD đặc biệt là các nước phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, Đức…
Trang 87
Còn ở Việt Nam, để hội nhập với thế giới chúng ta cũng đã quan tâm nhiều và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh Đây là một trong những động lực khuyến khích và thúc đẩy sự sáng tạo trong kinh doanh, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh từ đó nó
có tác dụng to lớn đối với sự phát triển của các chủ thể đó và của cả nền kinh
tế - xã hội Bí mật kinh doanh đang ngày càng trở thành vấn đề được quan tâm Một doanh nghiệp muốn phát triển phải nghĩ đến chuyện bảo vệ bí mật kinh doanh của mình Đã có nhiều doanh nghiệp thành công và phát triển bền vững vì có bí mật kinh doanh quý giá của riêng mình và biết bảo mật an toàn
bí mật kinh doanh đó, một thứ vũ khí lợi hại cho sự tồn tại và phát triển trong thương trường Thậm chí có những doanh nghiệp tồn tại được là nhờ có được
bí quyết kinh doanh riêng của mình và coi việc giữ gìn bí quyết đó là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Điều đó cho thấy rõ ràng rằng vai trò quan trọng của những bí mật trong kinh doanh và nó cần được quan tâm, bảo hộ bởi những quy định của pháp luật BMKD cũng cần được coi trọng như một công
cụ thúc đẩy kinh tế phát triển từ phía chính các doanh nghiệp, phía nhà nước
và toàn xã hội
Cho đến nay, qua khảo sát hạn hẹp của tác giả luận văn, sự nghiên cứu
về bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh ở Việt Nam còn chưa được quan tâm tương xứng với vai trò của nó đối với sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội Những vấn đề về bí mật kinh doanh còn mới mẻ với
đa số các chủ thể kinh doanh và với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý Mặt khác, khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy đây là vấn đề thời sự hấp dẫn còn ẩn giấu những điều mới của một công cụ đắc lực mà chúng ta chưa khai thác được nhiều công dụng của nó để phát triển sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp nói riêng và trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước nói chung
Trang 98
Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng các quy định liên quan đến BMKD còn rất ít, hầu như không xảy ra trên thực tế, hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có tranh chấp nào xảy ra về BMKD Điều đó chứng tỏ người dân của chúng ta nói chung cũng như các nhà kinh doanh nói riêng còn chưa quan tâm nhiều đến đối tượng này
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm đề tài cho luận văn cao học của mình với mong muốn có
cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong nước về bảo hộ bí mật kinh doanh Hy vọng rằng luận văn hoàn thành sẽ góp phần nhỏ cho việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO được hơn 4 năm (Việt Nam gia nhập WTO chính thức từ ngày 11/1/2007), Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực được 5 năm ( luật này được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006) Luật Sở hữu trí tuệ đã có những quy định mới mẻ, cập nhật những quy định về xác lập quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, quyền tự bảo vệ khi có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bí mật kinh doanh…
Là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, vấn đề bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh cũng đã được quan tâm đề cập nghiên cứu nhiều nhưng có thể do tính mới mẻ của chúng so với các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp nên những nghiên cứu đó có thể chỉ là các khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc là các nghiên cứu mang tính riêng
lẻ, ở một vài khía cạnh trong các bài viết trên các tạp chí trong nước hoặc
Trang 109
được đề cập đến trong hội thảo khoa học về bí mật kinh doanh … Ví dụ như bài viết “Một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh doanh và hoàn thiện pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Quế Anh đăng trên tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Chuyên san Kinh tế – Luật số
3 năm 2004, hoặc trong cuốn sách “Quyền sở hữu trí tuệ” của TS Lê Nết nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 có dành chương 7 để nói về bí mật kinh doanh… Trong bài viết nói trên của mình, TS
Nguyễn Thị Quế Anh cho rằng “BMKD với tư cách là đối tượng của quyền sở
hữu công nghiệp là một trong những phạm trù còn ít được nghiên cứu”
Trong mấy năm trở lại đây hầu như không có nghiên cứu nào đáng kể về đối tượng sở hữu công nghiệp này Do đó các khía cạnh của đối tượng vẫn chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, hoàn chỉnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời có sự tham khảo việc bảo hộ đối với đối tượng này của một số nước trên thế giới
Về mục đích nghiên cứu của luận văn, trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, bản chất, nội dung của bí mật kinh doanh, vai trò, ý nghĩa của việc bảo hộ Muốn vậy, chúng tôi đã có sự nghiên cứu về sự hình thành pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trên thế giới và ở Việt Nam Với mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ cụ thể của luận văn là:
Tiếp cận một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh;
Trang 1110
Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, so sánh với các quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, từ đó chỉ ra những định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận: chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền sở hữu công nghiệp; thành tựu của triết học, các chuyên ngành khoa học pháp lý như lịch sử pháp luật, lý luận nhà nước và pháp luật, luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ … và những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết trên các tạp chí khoa học về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng, Phương pháp duy vật lịch sử, Phương pháp lịch sử cụ thể, Phương pháp thống kê, Phương pháp luật học so sánh, Phương pháp phân tích - tổng hợp, Phương pháp điều tra xã hội học …
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sỹ, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến bí mật kinh doanh cùng với việc đánh giá thực trạng bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam từ đó đưa ra những kiến giải nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao kết quả của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng này
6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Trang 1211
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách tổng hợp về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo quy định của Luật
sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009
Nghiên cứu một cách hệ thống về bí mật kinh doanh với tư cách là đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ 2005
Dựa vào việc phân tích thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong thời gian qua, luận văn chỉ ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
bí mật kinh doanh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục những từ viết tắt, Danh mục các tài liệu tham khảo và Mục lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương với kết cấu như sau:
Chương I: Khái quát chung về bí mật kinh doanh và bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
Chương II: Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
Chương III: Thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với bí mật kinh doanh ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 1312
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÍ MẬT KINH DOANH VÀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH
1.1 Khái niệm bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
1.1.1 Khái niệm bí mật kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm
Từ xa xưa con người đã biết giữ gìn các bí quyết nghề nghiệp của mình Các bí quyết này chính là thế mạnh, là lợi thế để họ cạnh tranh với các đối thủ của mình Là người kinh doanh ai cũng có bí mật thương mại hay bí quyết sản xuất riêng Những bí mật hay bí quyết riêng đó đem lại lợi ích cho chủ sở hữu của nó nên chúng không thể chia sẻ cho người khác, chúng tồn tại dưới dạng thông tin và được bảo vệ để không bị lộ ra bên ngoài Đơn giản là
vì nếu người khác biết được nội dung của bí quyết đó thì có nghĩa là thông tin
đó không còn bí mật, giá trị của nó hay khả năng cạnh tranh đã mất, lợi thế trong kinh doanh đã không còn Việc tạo ra hay có được thông tin bí mật là rất quan trọng nhưng việc bảo mật chúng cũng quan trọng không kém Lúc đầu các bí quyết đó là bí mật riêng của cá nhân và được giữ gìn bởi cá nhân, được tích lũy, phát triển từ đời này sang đời khác hoặc chỉ truyền cho những người thân thuộc nhất của họ Sau này khi trình độ sản xuất phát triển cao hơn, chủ sở hữu các bí mật kinh doanh bên cạnh các biện pháp bảo mật của mình còn được nhà nước thông qua hệ thống pháp luật góp phần đắc lực vào việc giữ gìn các bí mật đó Chính các quy định của pháp luật trong việc chống lại những hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của các chủ thể sản xuất kinh doanh được thiết lập một cách có hệ thống ở các nước hiện nay đã tạo nên sự bảo hộ của nhà nước đối với các bí mật kinh doanh, bảo hộ kết quả của một
Trang 14Trên thế giới, vấn đề bảo hộ BMKD đã được quy định đầu tiên trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ,
ra đời năm 1994 (TRIPS) Theo Hiệp định này thì một thông tin bí mật phải
có tính chất bí mật với nghĩa là những người thường xuyên xử lý loại thông tin đó nói chung không biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó; có giá trị thương mại vì có tính chất bí mật; và được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng những biện pháp phù hợp thực tế (Điều 39)
Có một số thuật ngữ khác nhau có liên quan đến bí mật kinh doanh như: thông tin bí mật, thông tin không được tiết lộ
Thông tin bí mật gồm bí mật kinh doanh, thông tin đặc quyền và thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng phải bị tiết lộ công khai không hạn chế theo pháp luật (khoản 1 Điều 2 Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ)
Thông tin không được tiết lộ khác như những thử nghiệm hoặc dữ liệu không được tiết lộ nhất định được đệ trình như là điều kiện để phê duyệt việc
Trang 15sở hữu BMKD phải có ý định giữ BMKD và thực hiện các biện pháp cụ thể cần thiết để giữ bí mật chúng trên thực tế
Tại Việt Nam, Nghị định 54/2000/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày
3-10-2000 cũng đã quy định về bảo hộ BMKD Theo quy định của pháp luật Việt nam hiện hành, Khái niệm bí mật kinh doanh được quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được
từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”
Trên thực tế kinh doanh ngày nay, các thương nhân có thể coi nhiều loại thông tin khác nhau là bí mật kinh doanh Đó có thể là các thông tin khoa học như hướng nghiên cứu phát triển khoa học, các kết quả nghiên cứu khoa học…Hoặc đó có thể là thông tin công nghệ, kỹ thuật như các công thức pha chế, quy trình sản xuất, cấu trúc của sản phẩm, mã nguồn của các chương trình máy tính, sơ đồ kiến trúc…Hay đó có thể là các thông tin thương mại như danh sách khách hàng, nhu cầu, thái độ, cơ cấu tiêu dùng của khách hàng, phương án cung ứng, lưu trữ, chăm sóc khách hàng, kế hoạch, chiến lược kinh doanh tiếp thị, quảng cáo, ý tưởng kinh doanh, kết quả nghiên cứu, khảo sát thị trường… Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các thông tin bí mật không được bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh gồm các loại thông tin sau:
Trang 16Thứ nhất, bí mật kinh doanh là thông tin nên nó có chức năng thông tin Chức năng này đem đến cho người có khả năng tiếp cận nó những hiểu biết, những nhận thức, kiến thức nhất định mà không phải ai cũng dễ dàng có được nó Những thông tin này có thể được biểu hiện ở những dạng khác nhau như các ký tự, các ký hiệu, hình vẽ, công thức… và có thể được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định như tài liệu, giấy tờ chứa đựng thông tin,
mô hình, mẫu vật hay dưới dạng dữ liệu trong máy tính hoặc có khi còn tồn tại dưới dạng phi vật thể như kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của con người…
và nó là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người Thông tin trong bí mật kinh doanh là những tri thức của con người nên con người muốn nhận thức được nó thì phải thông qua hoạt động nhận thức Điều đó còn có nghĩa là thông tin đó phải là những kiến thức mà con người có thể nhận thức được
Thứ hai, bí mật kinh doanh là thông tin bí mật BMKD là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh Yếu tố bí mật trong BMKD có vai trò tạo ưu thế cạnh tranh giữa người nắm thông tin và những người khác Đó là ý nghĩa quan trọng nhất của BMKD BMKD một khi đã bị bộc lộ công khai sẽ mất hết giá trị, tính bí mật không còn thì thông tin đó không còn là ưu thế cạnh
Trang 1716
tranh nữa Do đó, để cho ý nghĩa của BMKD tồn tại thì nhất thiết phải làm cho BMKD luôn được giữ kín Thí dụ điển hình nhất về BMKD là công thức pha chế nước ngọt của Công ty Coca – Cola đã được giữ bí mật hơn một trăm năm nay Hoặc một ví dụ khác đó là công thức chế biến món gà rán KFC được một người Mỹ tên là Harland Sanders sinh năm 1890 nghĩ ra và được giữ bí mật tính đến nay đã được gần hai trăm năm
Đây là đặc tính “cần” của bí mật kinh doanh, là đặc điểm cơ bản nhất
và mang tính chất quyết định của BMKD Một khi tính bí mật không còn thì thông tin dù có giá trị đến mấy cũng không còn là BMKD và không còn là ưu thế của chủ sở hữu BMKD nữa Do đó, trước tiên thông tin đó phải còn tồn tại trong tình trạng bí mật, thông tin hoặc phần quan trọng của thông tin đó phải không được dễ biết hoặc dễ suy đoán Không cần thiết tất cả các phần của thông tin đều phải bí mật mà sự bí mật có thể chỉ là sự kết hợp của những điều đã biết Những người quan tâm đến BMKD không thể dễ dàng có được chúng thông qua các phương tiện truyền thông thông thường như sách, báo, giáo trình hay các tài liệu khoa học, các tác phẩm văn học, nghệ thuật … Phạm vi những người biết BMKD là rất hạn chế, chỉ những người được chủ
sở hữu thông tin thực sự tin tưởng thì mới được phép sử dụng hoặc quản lý BMKD Tất cả những người làm việc có liên quan đến BMKD đều phải có các cam kết về bảo mật thông tin, ví dụ như cam kết trong hợp đồng lao động
về trách nhiệm giữ BMKD giữa người lao động và người sử dụng lao động Trong Hiệp định TRIPS, tại khoản 2 Điều 39 đã nói về tính bí mật của BMKD như sau: “Có tính bí mật nghĩa là những người thường xuyên xử lý thông tin đó nói chung không thể biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật
tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó”
Trang 1817
Chính vì tính bí mật của thông tin mà bí mật kinh doanh có cơ chế xác lập quyền một cách tự động, tức là không cần phải đăng ký bảo hộ như sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp Cũng có thể do thông tin trong bí mật kinh doanh quá quý báu đối với người tạo ra nó và với các đối thủ cạnh tranh nên không thể tiết lộ được tạo nên tính bí mật của thông tin Điều này làm cho việc soạn thảo hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng bí mật kinh doanh trở nên phức tạp do bên chuyển giao không biết được bên nhận chuyển giao đã biết đến thông tin này hay chưa, họ cũng không thể mô tả cụ thể về thông tin
đó rồi hỏi phía bên kia xem họ có muốn nhận chuyển giao hay không Về phía người đi mua quyền sử dụng bí mật kinh doanh cũng không thể ký hợp đồng chuyển giao mà không biết sản phẩm mình giao dịch đó cụ thể như thế nào bởi vì nếu mô tả ra để biết được giá trị của sản phẩm trí tuệ là bí mật kinh doanh đó thì tính bí mật của thông tin không còn nữa
Thứ ba, bí mật kinh doanh là thông tin có giá trị thương mại Đây cũng là một thuộc tính quan trọng, không thể thiếu của một thông tin được coi
là BMKD Điều này có nghĩa là thông tin đó phải đóng vai trò quan trọng trong quy trình sản xuất tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Tính quyết định của BMKD thể hiện ở chỗ nó có giá trị và có khả năng sử dụng được và được chủ
sở hữu áp dụng vào sản xuất kinh doanh tạo nên ưu thế cạnh tranh hoặc nâng cao vị trí của người nắm được BMKD đó
Thông tin được coi là BMKD phải có giá trị nhất định Tính giá trị của thông tin thể hiện ở chỗ khi đưa vào sử dụng nó mang lại cho người nắm giữ thông tin một lợi thế hơn hẳn so với những người còn lại Lợi thế đó có thể là chất lượng sản phẩm, giá thành sản phẩm, lợi thế về thị trường tiêu thụ …
Trang 1918
Có thể thông tin được coi là BMKD có giá trị cao do chủ sở hữu nó phải bỏ ra một khoản tiền, một số vốn nhất định, một khoảng thời gian, công sức mới có được nó, hoặc tạo ra, thu thập được nó nhưng ở đây chúng ta chú trọng đến khía cạnh giá trị của thông tin là lợi ích mà người nắm giữ thông tin thu được khi sử dụng thông tin đó
BMKD phải là thông tin có khả năng sử dụng được Khi đưa vào sản xuất kinh doanh, BMKD đó phải phát huy được lợi thế mà nó có thể mang lại Nếu thông tin mà không có khả năng sử dụng được bởi chủ sở hữu hoặc người khác được chủ sở hữu cho phép thì đương nhiên nó không có giá trị gì
cả, không có tính quyết định và không tạo ra ưu thế cạnh tranh và như vậy sẽ không được chủ sở hữu giữ bí mật Một khi thông tin không có khả năng sử dụng, không tạo ra ưu thế cho chủ sở hữu nữa thì nó sẽ không còn là BMKD
và không được bảo hộ
Như vậy, BMKD là loại thông tin có tính bí mật, tính giá trị và có khả năng sử dụng trong kinh doanh đem lại lợi thế nhất định cho chủ sở hữu Đó
là một trong những tài sản trí tuệ, là thành quả lao động, nghiên cứu, sáng tạo của con người cần được bảo vệ và phát triển khuyến khích sáng tạo trong kinh doanh và tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh
Ở nước ta, chúng ta cũng đã ý thức được vai trò quan trọng của các BMKD cũng như các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp nhưng phải đến khi Chính phủ ban hành Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 chúng ta mới chính thức bảo hộ đối tượng này Trong Nghị định này, tại khoản 1Điều 6, BMKD được ghi nhận là thành quả đầu tư dưới dạng thông tin và phải thỏa mãn các điều kiện mà Nghị định quy định Với những quy định của Nghị định này thì thực chất pháp luật vẫn chưa đưa ra được khái
Trang 20vệ cho các quan hệ sở hữu trí tuệ trong đó có những quy định tương đối đầy
đủ về BMKD Theo khoản 23 Điều 4 Luật này thì: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và
có khả năng sử dụng trong kinh doanh”
Khái niệm BMKD nói trên đã phản ánh được đầy đủ những đặc trưng mang tính bản chất của BMKD đó là tính thông tin, tính bí mật và tính có giá trị thương mại
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
1.1.2.1 Khái niệm
Các sản phẩm khoa học, kỹ thuật do con người sáng tạo ra có đặc trưng khác biệt so với các sản phẩm thông thường đó là người sáng tạo ra nó không thể chiếm hữu nó một cách tuyệt đối mà nó rất dễ bị tước đoạt, chiếm dụng Chính vì vậy việc bảo vệ thành quả của hoạt động sáng tạo, người ta đã
sử dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau trong đó có công cụ bảo vệ hữu hiệu nhất vẫn là pháp luật Ngày nay vấn đề này không chỉ bó hẹp trong phạm
vi một quốc gia mà nó đã mang tính toàn cầu Khi nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh sau khi con người sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ đã làm xuất hiện các khái niệm như quyền tác giả,
Trang 21Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh là quyền sở hữu của các tổ chức, cá nhân đối với bí mật kinh doanh Nó bao gồm các quy định
về việc xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh, chuyển giao quyền sử dụng
bí mật kinh doanh, hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh…
1.1.2.2 Đặc điểm
Bí mật kinh doanh là một đối tượng truyền thống của sở hữu công nghiệp, nó có thể được hình thành từ rất lâu đời và truyền từ đời này sang đời khác một cách tự nhiên theo sự phát triển của xã hội BMKD thường không được đăng ký bảo hộ mà được bảo hộ tự động khi nó thỏa mãn các điều kiện
do pháp luật quy định So với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác, bí mật kinh doanh có những đặc trưng riêng nên quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng này cũng mang những đặc điểm riêng
Thứ nhất là về cơ sở của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD, đó chính là sự độc quyền thực tế của một chủ thể xác định đối với một tập hợp kiến thức nhất định - BMKD Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD chủ yếu dựa trên cơ sở các biện pháp mà chủ sở hữu áp dụng trên thực tế nhằm bảo vệ quyền của mình đối với những thông tin gọi là BMKD Những công cụ pháp lý mà nhà nước dành cho chủ sở hữu BMKD có thể bảo vệ một cách hữu hiệu các BMKD khỏi sự vi phạm của
Trang 2221
những người khác như các quy định về những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, xử lý hành vi xâm phạm… nhưng chúng lại kém hiệu quả hơn so với công cụ tương ứng của các chủ sở hữu đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu… Do vậy, “sự sống còn của các quyền năng của chủ sở hữu đối với BMKD phụ thuộc vào chính chủ sở hữu, vào sự toàn diện và hiệu quả của các biện pháp mà chủ sở hữu áp dụng nhằm bảo về độc quyền của mình đối với thông tin”[1] Sự độc quyền thực tế này là đặc điểm riêng chỉ chủ sở hữu BMKD mới có, và nó phát sinh ngay khi một tập hợp kiến thức nhất định hội
đủ các điều kiện của một BMKD Chính những biện pháp thực tế mà chủ sở hữu BMKD áp dụng nói trên mà thể hiện sự độc quyền thực tế của họ đối với BMKD cũng là một trong những điều kiện bắt buộc để thành quả đầu tư dưới dạng thông tin được coi là BMKD Để được bảo hộ, người sở hữu BMKD phải có ý định giữ BMKD và thực hiện các biện pháp cần thiết để giữ bí mật
đó
Thứ hai, với tư cách là một đối tượng của quyền SHCN, BMKD
có tính chất tổng hợp cao Nếu như các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hóa… là những kết quả xác định của hoạt động sáng tạo thì BMKD có thể là tập hợp những thông tin thuộc nhiều mặt khác nhau của lĩnh vực kinh doanh như sản xuất, quản lý, tài chính, thương mại…, hoặc tồn tại trong nhiều loại hình thức thể hiện khác nhau như kết quả nghiên cứu khoa học, công thức pha chế, quy trình sản xuất, cấu trúc của sản phẩm, mã nguồn của các chương trình máy tính, sơ đồ kiến trúc, danh sách khách hàng, chiến lược kinh doanh tiếp thị, ý tưởng kinh doanh, kết quả nghiên cứu, khảo sát thị trường BMKD có thể là những giải pháp có khả năng được bảo hộ như là sáng chế, giải pháp hữu ích,
Trang 23hộ Đây vừa là đặc điểm cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD vừa là ưu điểm nổi trội của loại đối tượng này Chính vì không bị hạn chế về thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu các sản phẩm trí tuệ thường chọn BMKD làm đối tượng để được bảo hộ, trong khi các đối tượng khác lại bị hạn chế về thời hạn này làm ảnh hưởng đến lợi ích của họ trong kinh doanh
Thứ tư, quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD được xác lập theo cơ chế bảo hộ tự động mà không phải thông qua cơ chế đăng ký văn bằng bảo hộ như phần lớn các đối tượng quyền SHCN khác Cơ chế bảo hộ tự động cho phép quyền SHCN đối với BMKD được tự động xác lập khi thành quả đầu tư dưới dạng thông tin có đủ các điều kiện là BMKD theo quy định của pháp luật Chủ sở hữu của nó không cần phải đăng ký với bất kỳ cơ quan nhà nước nào, không cần phải thực hiện bất kỳ thủ tục mang tính chất hình thức nào và cũng không cần phải trả lệ phí đăng ký hay lệ phí bảo hộ nào cả Tất cả những điều này đều bắt nguồn từ đặc trưng quan trọng của quyền SHCN đối với BMKD, đó là tính độc quyền tuyệt đối Bản chất của BMKD là
bí mật nên việc bảo mật là quan trọng hàng đầu và chủ sở hữu là người bảo mật là an toàn nhất cho nên họ bắt buộc phải áp dụng các biện pháp thực tế để bảo vệ bí mật của mình là thượng sách mà pháp luật quy định riêng cho đối tượng BMKD Từ đó dẫn tới quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD được xác lập và bảo hộ tự động, không cần đăng ký, không phải trả lệ phí Và đây cũng là phương thức bảo hộ có nhiều ưu điểm mà nhiều chủ sở hữu thành quả
Trang 2423
lao động sáng tạo ưu tiên lựa chọn để bảo hộ cho các sản phẩm trí tuệ của mình
1.1.3 Phân biệt bí mật kinh doanh với sáng chế
Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm nhiều đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Chúng đều là các sản phẩm vô hình và là kết quả của hoạt động lao động sáng tạo nên giữa chúng có sự giao thoa nhất định với nhau Pháp luật đã quy định cho mỗi đối tượng một chế độ pháp lý khác nhau để điều chỉnh và bảo vệ một cách tốt nhất quyền của các chủ thể sở hữu công nghiệp
Những đối tượng sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng) khi chưa đăng ký bảo hộ phải có tính mới, lúc này chúng tồn tại với hình thức là bí mật kinh doanh Nhưng tùy thuộc tình hình phát triển công nghệ trên thị trường, bí mật kinh doanh được đăng ký sẽ trở thành một đối tượng sở hữu công nghiệp
cụ thể Do vậy, để áp dụng pháp luật về sở hữu công nghiệp một cách có hiệu quả hơn, chúng ta cần phân biệt rõ ràng các đối tượng nói trên BMKD như trên đã đề cập đến, có tính chất tổng hợp cao, do đó việc phân biệt chúng với các đối tượng còn lại là cần thiết và có ý nghĩa, đặc biệt với sáng chế Việc phân biệt BMKD với đối tượng này giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn bản chất của BMKD
Theo Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung một
số điều 2009 thì: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”
Trang 2524
Những đối tượng sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng) khi chưa đăng ký bảo hộ phải có tính mới, lúc này chúng tồn tại với hình thức là BMKD Nhưng tuỳ thuộc tình hình phát triển công nghệ trên thị trường, BMKD được đăng ký sẽ trở thành một đối tượng sở hữu công nghiệp cụ thể
So với sáng chế thì BMKD có phạm vi rộng hơn Nếu như sáng chế chỉ là những sản phẩm trí tuệ trong lĩnh vực công nghệ - kỹ thuật cao thì BMKD là những kiến thức trong cả hoạt động kinh doanh thương mại Bí mật kinh doanh có thể liên quan đến các loại thông tin khác nhau như kỹ thuật và khoa học (công thức sản xuất, cấu tạo kỹ thuật, mã máy tính, dữ liệu thử nghiệm…); thương mại (danh sách các nhà cung cấp và khách hàng, các chiến lược tiếp thị, quảng cáo và kinh doanh, kết quả nghiên cứu thị trường, phương pháp bán hàng…); tài chính (cơ cấu giá nội bộ, danh mục giá…); thông tin phủ định (tình trạng bế tắc trong nghiên cứu, các giải pháp kỹ thuật
đã bị rút bỏ…)… Do đó BMKD có thể bao hàm cả sáng chế, có thể nói, sáng chế là tập con của BMKD
Bí mật kinh doanh liên quan tới các sáng chế hoặc quy trình sản xuất
mà không đáp ứng được các điều kiện cấp sáng chế và vì vậy, chỉ có thể được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh Loại này có thể là trường hợp của các danh sách khách hàng hoặc các quy trình sản xuất không đủ tính sáng tạo để được cấp sáng chế (mặc dù chúng có thể có khả năng bảo hộ dưới dạng mẫu hữu ích) Mặt khác, các bí mật kinh doanh có thể liên quan tới những sáng chế
đủ điều kiện để cấp và do vậy có thể được bảo hộ dưới dạng sáng chế
Đối với sáng chế đang trong quá trình nộp đơn xin cấp văn bằng bảo
hộ mà bị xâm phạm thì sẽ được bảo hộ theo cơ chế bảo hộ BMKD Điều 11 Luật SHTT có quy định về trách nhiệm bảo mật thông tin trong đơn đăng ký
Trang 2625
sáng chế của cơ quan nhà nước về quyền SHCN và hình thức xử lý khi có hành vi vi phạm xảy ra Như vậy, trong mối quan hệ tương quan giữa hai đối tượng của quyền SHCN này pháp luật đã có quy định rõ ràng, chặt chẽ bảo đảm quyền lợi của các chủ thể liên quan
Khi BMKD đủ điều kiện để bảo hộ theo phương thức cấp bằng bảo hộ sáng chế thì chủ sở hữu có quyền lựa chọn hoặc là theo cơ chế bảo hộ sáng chế hoặc theo cơ chế bảo hộ BMKD Mỗi cơ chế lại có những ưu điểm và nhược điểm riêng Nếu bảo hộ theo cơ chế sáng chế, chủ sở hữu có thể độc quyền sở hữu sáng chế Mọi hành vi sử dụng sáng chế sau ngày được cấp bằng bảo hộ (trừ quyền của người sử dụng trước nếu có) đều coi là xâm phạm sáng chế Nhược điểm của cơ chế bảo hộ này là thời hạn bảo hộ Chủ sở hữu sáng chế chỉ được độc quyền sử dụng sáng chế trong một thời gian nhất định, không được gia hạn Thời hạn bảo hộ đối với đối tượng là sáng chế chính là thời hạn có hiệu lực của văn bằng bảo hộ
Thực ra thời hạn bảo hộ này là nhược điểm đối với chủ sở hữu sáng chế nhưng đó lại là để tạo ra tiền đề cho các sáng tạo tiếp theo của người khác, sau thời hạn đó, sáng chế sẽ thuộc về tất cả mọi người góp phần làm cho xã hội tiến bộ, phát triển nhanh chóng
Mặt khác, để được bảo hộ đối với sáng chế, chủ sở hữu phải đăng ký,
đó là thủ tục bắt buộc và thủ tục này tương đối phức tạp vì bản chất của sáng chế là phải có bước tiến sáng tạo rõ rệt so với các sáng tạo đã biết trước đó nên chủ sở hữu phải mô tả sáng tạo của mình một cách cụ thể; lệ phí phải trả
có thể cũng rất lớn
Ngược lại với sáng chế, BMKD lại có những đặc điểm khác hẳn Nếu chủ sở hữu lựa chọn cơ chế bảo hộ BMKD thì họ có thể độc quyền sở hữu sáng chế đó cho đến khi nào các điều kiện của BMKD theo Điều 84 Luật sở
Trang 2726
hữu trí tuệ vẫn hội tụ đủ Ngoài sự độc quyền tuyệt đối, BMKD còn có một
ưu điểm lớn nữa đó là quyền sở hữu được xác lập tự động, việc bảo hộ bí mật kinh doanh không đòi hỏi phải tuân theo những hình thức như bộc lộ thông tin cho cơ quan chính phủ, chủ sở hữu BMKD không phải thực hiện bất kỳ một thủ tục mang tính chất hình thức nào Bí mật kinh doanh phát sinh hiệu lực ngay lập tức Bí mật kinh doanh không đòi hỏi chi phí đăng ký (mặc dù có thể phải bỏ chi phí cao hơn để bảo mật thông tin đó) Việc bảo hộ bí mật kinh doanh có ưu điểm là không bị hạn chế về mặt thời gian (sáng chế thường được kéo dài đến 20 năm) Nó sẽ còn được kéo dài tới chừng nào bí mật đó còn chưa bị bộc lộ ra công chúng Tất cả những ưu điểm này gây hấp dẫn lớn đối với các nhà kinh doanh
Ví dụ: công thức chế biến đố uống nhẹ mang tên Coca Cola là một bí mật kinh doanh của công ty Coca Cola Chỉ một vài người trong công ty biết được công thức này; và nó được giữ bí mật trong một chiếc hầm của ngân hàng ở Atlanta, bang Georgia; những người biết được công thức bí mật này
đã ký hợp đồng không tiết lộ Chính vì quyết định giữ bí mật về công thức này thay vì đang ký cấp bằng sáng chế, đến nay, công ty Coca Cola vẫn là doanh nghiệp duy nhất có thể sản xuất được loại nước uống đặc biệt được toàn cầu ưa chuộng Điều đó sẽ còn được kéo dài tới chừng nào bí mật đó còn chưa bị bộc lộ ra công chúng.Còn nếu công thức này được cấp bằng sáng chế (chỉ đươc bảo hộ tối đa là 20 năm, sau đó sẽ trở thành tài sản chung của nhân loại), mọi thành phần và công đoạn chế biến Coca Cola sẽ được bộc lộ công khai, và cả thế giới đều có thể sản xuất Coca Cola
Tuy nhiên, bảo hộ theo cơ chế BMKD cũng có nhược điểm đó là tính
bí mật khó đảm bảo Nếu bí mật được thể hiện dưới dạng một sản phẩm mang tính chất đổi mới, thì những người khác có thể kiểm tra, mổ xẻ và phân tích
Trang 28tự Hành vi này được coi là không vi phạm quyền đối với BMKD Vì sợ bộc
lộ thông tin, nhiều sản phẩm đã không bao giờ xuất hiện, nhất là những sản phẩm có vốn đầu tư lớn, bởi khi sản phẩm được bán ra thị trường, các đối thủ cạnh tranh có thể dễ dàng bắt chước Nhưng nếu cứ giữ bí mật mãi những sáng chế đó thì những sáng chế không được công bố này sẽ bị mai một đi Chính vì vậy, nhiều công ty lớn, người ta chỉ bảo hộ dưới hình thức bí mật kinh doanh khi mà không thể xin cấp được bằng sáng chế
Khi bí mật bị công bố, thì bất kỳ người nào cũng có thể tiếp cận và sử dụng nó một cách tùy ý Một bí mật kinh doanh khó thực thi hơn một sáng chế Mức độ bảo hộ dành cho bí mật kinh doanh khác nhau một cách đáng kể nhưng nói chung là yếu khi so với bảo hộ dành cho sáng chế Có nhiều người muốn làm đơn đăng ký bảo hộ sáng chế nhưng lại không muốn bộc lộ bí quyết kỹ thuật bởi họ lo sợ nếu nói ra thì có thể bị người khác lấy ngay lập tức Nhưng nếu không bộc lộ thông tin một cách chi tiết thì không được cấp bằng sáng chế Vậy họ sẽ bảo hộ bằng cách nào? Trong trường hợp này, có thể bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh Tuy nhiên, bảo hộ bí mật kinh doanh không đơn giản Muốn bảo hộ bí mật kinh doanh phải tìm những biện pháp
Trang 291.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh trên thế giới
Lịch sử hình thành SHTT cách đây vài trăm năm từ thế kỷ thứ 16,17 TCN Trong số các đối tượng của quyền SHCN thì BMKD được coi là một trong những đối tượng xuất hiện sớm nhất Khi xã hội có sự chuyên môn hóa, những người thợ lành nghề đã biết tích lũy và giữ gìn những bí quyết nghề nghiệp (chưa tồn tại dưới dạng văn bản) của mình Do sự phát triển ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội, do sự sáng tạo của con người luôn phát triển nên các bí quyết nghề nghiệp cũng ngày càng phức tạp, đa dạng, phong phú Chúng không chỉ là những thông tin, những kiến thức được truyền từ đời này sang đời khác theo kiểu truyền miệng mà còn được thể hiện trong các loại giấy tờ, sổ sách dưới dạng văn bản Bên cạnh đó, việc mở rộng sản xuất,
Trang 3029
việc thuê mướn lao động và sự thay đổi chủ của người làm thuê khiến cho việc giữ gìn các bí quyết kinh doanh trở thành vấn đề hết sức quan trọng Các thương nhân phải đối mặt với nguy cơ bị đánh cắp tài liệu liên quan đến BMKD hoặc nguy cơ tiết lộ chúng bởi người làm thuê của mình Để bảo vệ cho các BMKD của mình, các ông chủ bắt đầu đưa vào hợp đồng lao động những điều khoản về nghĩa vụ giữ bí mật đối với các bí quyết sản xuất, kinh doanh cho người làm thuê Lúc này, bên cạnh những biện pháp cần thiết và hữu hiệu mà các thương nhân áp dụng để bảo mật cho BMKD của mình vẫn
là chưa đủ, cần phải có sự tham gia của nhà nước nữa để xử lý những hành vi xâm phạm BMKD, từ đó pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD hình thành [1]
Trên thế giới, ở các nước phát triển, hệ thống pháp luật về SHTT nói chung và pháp luật về bảo hộ BMKD nói riêng được hình thành sớm như Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Nhật… đặc biệt ở Mỹ, đã có văn bản pháp luật riêng về bảo hộ BMKD như Luật chung về bí mật thương mại (The Uniform Trade secrets Act) năm 1979 và có các quy định cụ thể bởi hệ thống luật của các bang (pháp luật của Mỹ được coi là một trong những hệ thống hoàn thiện nhất về bảo hộ BMKD…[1, 13]
Cho đến nay thì do xu hướng hội nhập toàn cầu, hầu hết các nước đều
có các quy định nhất định nhằm bảo hộ BMKD
Việc bảo hộ BMKD ở các nước tuy khác nhau nhưng đều có xu hướng chung là nâng cao trách nhiệm của người làm công đối với các bí mật thương mại, của nhân viên cơ quan nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực có liên quan đến bí mật kinh doanh, trong đó có cả trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự… Có một số nước thì việc này được tiến hành chủ yếu trên cơ
sở hợp đồng lao động, bằng cách quy định nghĩa vụ không tiết lộ các bí mật của các nhân viên thuế quan, cảnh sát mà họ tiếp cận được trong khi làm
Trang 3130
nhiệm vụ, quy định trách nhiệm dân sự và hình sự đối với những người có lỗi trong việc tiết lộ hoặc sử dụng trái phép thông tin bí mật Bên cạnh đó, một số nước thì bảo hộ BMKD thông qua việc điều chỉnh các quan hệ “người chủ - người làm thuê”, đặt ra các quy định về vấn đề này trong các luật về chống cạnh tranh không lành mạnh, về thông tin và bảo vệ thông tin, về hoạt động của các cơ quan nhà nước như thuế, bảo hiểm, xét xử…
BMKD còn được điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế Đầu tiên là Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ năm 1883 Năm 1900, trong Hội thảo về việc xem xét sửa đổi lại Công ước này về quyền SHCN tại Brucxel, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh đã được bổ sung vào danh sách các đối tượng SHCN được bảo hộ của Công ước Theo Công ước này:
“Các nước thành viên của Liên minh có trách nhiệm bảo đảm cho công dân của các nước thành viên đó sự bảo hộ có hiệu quả chống lại hành động cạnh tranh không lành mạnh” (Điều 10bis về Cạnh tranh không lành mạnh), trong
đó hành vi cạnh tranh không lành mạnh được hiểu là “bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại”
Những hành vi xâm phạm các thông tin bí mật về kỹ thuật hay bí quyết trong kinh doanh cũng được cho là “ trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại” như Điều 10bis quy định Có thể nói, đây là điều khoản quốc tế đầu tiên gián tiếp quy định về việc bảo hộ BMKD
Tiếp theo Công ước Paris, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) cũng quy định về BMKD Hiệp định đa phương này ra đời tháng 4 năm 1994 đã bảo hộ BMKD với tư cách là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp Hiệp định TRIPS là hiệp định quốc tế đa phương lớn nhất về bảo hộ bí mật kinh doanh Hiệp định TRIPS (1994) đã quy định 7 đối tượng thuộc phạm vi của quyền SHTT là: sáng chế, quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp,
Trang 321.2.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh ở Việt Nam
Việt Nam là nước mới hình thành cơ chế thị trường, hệ thống pháp luật đang từng bước hoàn thiện, cho nên sự phát triển của pháp luật về SHTT
có nét đặc trưng riêng Trong hoàn cảnh chung của pháp luật về SHTT ở nước
ta thì các quy định bảo hộ BMKD cũng có những đặc điểm riêng về sự hình thành và phát triển
Từ năm 1945 đến 1989, pháp luật sở hữu trí tuệ của nước ta chưa được quan tâm nhiều, đến sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) – bắt đầu thời kỳ đổi mới, Nhà nước quan tâm hơn đến lĩnh vực này nên một loạt các nghị định về dân sự và quyền SHTT được ban hành như Nghị định số 85/HĐBT ngày 13/5/1988 ban hành Điều lệ về kiểu dáng công nghiệp, Nghị định số 200/HĐBT ngày 28/12/1988 ban hành Điều lệ về giải pháp hữu ích…
Trong giai đoạn này, tuy đã có một số văn bản điều chỉnh các quan hệ
xã hội liên quan đến sở hữu trí tuệ nhưng chưa thấy có bóng dáng của quy định nào về BMKD
Tại Việt Nam, vấn đề sở hữu trí tuệ đã được đề cập từ những năm
1980 nhưng trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, pháp luật đã coi SHTT
là sở hữu toàn dân, nhà sáng chế được cấp bằng tác giả sáng chế, được trả thù
Trang 33Khi Bộ luật dân sự 1995 được ban hành, pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã thể hiện tư duy mới của nhà nước ta, thuật ngữ “quyền sở hữu trí tuệ” đã được sử dụng với nội hàm gồm quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, nội dung trong đó cũng đã thể hiện được sự phù hợp của pháp luật nước ta với pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này Theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì, Việt Nam sẽ phải ban hành luật về bảo vệ BMKD chậm nhất là 18 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực Đến 3/10/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp Các quy định của Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD và các đối tượng nói trên dựa trên các tiêu chí mà Công ước Paris đặt ra Như vậy, phải chờ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2000/ NĐ-CP về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn xuất sứ, tên thương mại và bảo vệ quyền chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở
Trang 3433
hữu công nghiệp thì BMKD mới chính thức được bảo hộ với tư cách là một đối tượng của quyền SHCN Nội dung của Nghị định này chính là sự cụ thể hóa quy định tại Điều 780 Bộ luật dân sự 1995 Các đối tượng mà Nghị định quy định chính là chi tiết của phần mở rộng - “các đối tượng khác” trong Điều
780 nói trên, trong đó có BMKD
Đến tháng 5 năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về sở hữu trí tuệ nói riêng Trên cơ sở kế thừa phát triển Bộ luật dân sự 1995, Bộ luật này chỉ quy định có bốn điều về sở hữu trí tuệ một mặt thể hiện bản chất của quyền sở hữu trí tuệ cũng là một loại quyền dân sự, chịu sự điều chỉnh của những nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh của ngành luật dân sự; mặt khác bốn điều luật đó đóng vai trò hướng dẫn chung và phần chi tiết còn lại
để cho một văn bản khác thể hiện sự pháp điển hóa về sở hữu trí tuệ quy định
đó là Luật Sở hữu trí tuệ 2005
Ngày 29/11/2005, Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 Đây là lần đầu tiên Việt Nam ban hành một đạo luật riêng về sở hữu trí tuệ Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh tương đối toàn diện các quan hệ về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội hiện đại và là điều kiện thúc đẩy phát triển các quan hệ này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Việc coi Luật sở hữu trí tuệ là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam
đã đánh dấu một bước tiến lớn trong khoa học pháp lý nước ta Tại đây các quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD đã tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh: từ các quy định về điều kiện bảo hộ BMKD, xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD, các yếu tố của quan hệ pháp luật
về sở hữu công nghiệp đối với BMKD đến các quy định về chuyển giao
Trang 3534
quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD, đại diện sở hữu công nghiệp và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD Các quy định này đã thể hiện được sự quan tâm của nhà nước ta đối với đối tượng sở hữu công nghiệp đặc biệt này đồng thời chúng cũng thể hiện được sự phù hợp của pháp luật của nước ta với pháp luật quốc tế về việc bảo hộ BMKD
Sau khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành, Chính phủ cũng đã có những văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành cho luật này Ngày 22 tháng 9 năm 2006, đã có ba nghị định ra đời, đó là các nghị định sau:
Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về việc xác lập, chủ thể, nội dung, giới hạn quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, đại diện quyền sở hữu công nghiệp và các biện pháp thúc đẩy hoạt động sở hữu công nghiệp
Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, gồm việc xác định hành vi, tính chất và mức độ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, xác định thiệt hại, yêu cầu và giải quyết yêu cầu xử lý xâm phạm, xử lý xâm phạm bằng biện pháp hành chính, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ và quy định quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Nghị định số 106/2006/NĐ-CP quy định các hành vi vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, hình thức mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài ra, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
Trang 3635
Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chủ tịch nước đã có Lệnh số 12/2009/L - CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ Luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010 Như vậy việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các tổ chức, cá nhân tiếp cận được hệ thống pháp luật hoàn thiện, hiện đại, phù hợp với thực tiễn; tăng cường năng lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, thực thi, các cơ quan hỗ trợ thực thi, góp phần tạo ra chuyển biến tích cực, có hiệu quả của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có bảo hộ BMKD tại quốc gia và hội nhập quốc tế
1.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
bí mật kinh doanh
Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD là việc làm mang tính tất yếu khách quan, việc bảo hộ đó có ý nghĩa quan trọng đối với người kinh doanh, với nhà nước và xã hội Chính vì vậy mà ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều bảo hộ đối với BMKD và đã có những điều ước quốc tế quy định về BMKD
1.3.1 Bảo hộ BMKD khuyến khích hoạt động nghiên cứu và sáng tạo
Ngay từ thời xa xưa con người đã biết giữ các bí quyết sản xuất kinh doanh của mình để tạo ra ưu thế trong kinh doanh, các ưu thế này còn tồn tại ngày nào là phụ thuộc vào việc các bí mật đó có được giữ an toàn nữa hay không Chủ sở hữu các bí mật phải tự tiến hành các biện pháp để bảo mật cho
bí mật của mình Tuy nhiên khi công việc bảo mật lại được sự hỗ trợ của nhà nước bằng công cụ pháp luật thì các chủ sở hữu sẽ yên tâm hơn, từ đó họ ra
Trang 3736
sức tìm tòi, nghiên cứu sáng tạo để có những bí quyết mới, có tính ưu việt hơn, mang lại lợi ích lớn hơn trong kinh doanh Chính những quy định của pháp luật nhằm bảo hộ đối tượng BMKD là yếu tố quan trọng khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của con người vì lý do đơn giản là các sản phẩm trí tuệ mà họ tạo ra một mặt đem lại lợi ích cho hoạt động kinh doanh
do có lợi thế hơn các đối thủ khác, mặt khác những lợi thế đó, lợi ích đó lại được kéo dài do được bảo vệ bởi bản thân họ và các quy định của pháp luật
Bản chất của BMKD là thế độc quyền vĩnh viễn mà nó mang lại Tính chất “độc quyền” có sức hấp dẫn lớn với các nhà kinh doanh, ai cũng muốn
có thế độc quyền đó Khi được các quy định của pháp luật hỗ trợ một cách đắc lực để bảo vệ cho thế độc quyền của mình thì các nhà kinh doanh yên tâm
và ra sức đầu tư thời gian, tiền bạc vào hoạt động nghiên cứu, sáng tạo để tìm
ra một sản phẩm mới, một quy trình mới có thể chiếm lĩnh thị trường vừa đem lại nguồn lợi lớn vừa có tính chất lâu dài, có khi vô thời hạn cho mình
Đối với sự phát triển xã hội nói chung, việc nghiên cứu, sáng tạo nói trên của các chủ thể còn có ý nghĩa trong việc nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của nhân loại
Mặt khác nếu các BMKD chủ sở hữu khó khăn mới có được, có khi mất nhiều thời gian tiền của, công sức cho việc nghiên cứu, sáng tạo ra chúng
mà không được nhà nước bảo hộ thì sẽ không còn ai có ý định sáng tạo nữa, khi đó sẽ không có các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo tích cực và xã hội sẽ chậm phát triển
Chính vì vậy, vì lợi ích của các nhà kinh doanh, của người tiêu dùng, của toàn xã hội, pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm bảo
hộ BMKD
Trang 38tế là trên hết, có những nhà kinh doanh bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích của mình Một trong những biểu hiện của việc làm kinh tế tiêu cực, kiếm lợi nhuận bằng mọi giá đó là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đây là hậu quả tất yếu, là mặt trái của nền kinh tế thị trường, cho nên vai trò, nhiệm vụ của nhà nước là phải làm sao vừa phát triển được kinh tế, vừa quan tâm bảo vệ cho lợi ích của nhà kinh doanh lại vừa hạn chế được các tiêu cực, các mặt trái của nền kinh tế thị trường, tạo ra môi trường an toàn, thuận lợi cho sự phát triển bền vững Một trong các biện pháp để đạt được điều đó chính là bảo hộ cho quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD
Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp việc thực hiện các hành vi xâm phạm chủ yếu với mục đích là để lợi dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh… đang được bảo hộ hợp pháp và có uy tín trên thị trường để thu lợi bất hợp pháp, gây ảnh hưởng, thiệt hại cho đối thủ của mình, và đó cũng có bản chất là cạnh tranh không lành mạnh Đối với BMKD các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nguy cơ bị đánh cắp các thông tin bí mật trong kinh doanh, các đối thủ cũng luôn tìm cách lôi kéo nhân viên hay người lao động của các doanh nghiệp khác nhằm thu thập BMKD họ có được khi làm việc cho doanh nghiệp đó Những điều này là mối
đe dọa cho sự an toàn của các bí quyết kinh doanh Việc quy định những hành
vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD và các quy định khác
về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD của pháp luật là một biện
Trang 39Việc chống cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta đã được nhà nước quan tâm và ban hành một văn bản riêng về vấn đề này, đó là Luật cạnh tranh
2004, và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cũng có quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ Pháp luật vừa quy định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD trong Luật Sở hữu trí tuệ lại vừa quy định hành vi cạnh tranh không lành mạnh như trên là bởi vì thực chất hành vi xâm phạm quyền và hành vi cạnh tranh không lành mạnh có mối quan hệ tương quan nhất định với nhau, hỗ trợ nhau Việc bảo
vệ cái này sẽ có ý nghĩa trong việc bảo vệ cái kia Đây chính là hai phương thức kiện mà tùy từng trường hợp xâm phạm, gây thiệt hại cụ thể mà người bị thiệt hại có thể lựa chọn một trong hai để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình một cách có hiệu quả nhất Khi người vi phạm không thực hiện hành vi giống như hành vi xâm phạm mà vẫn gây hại cho chủ thể có quyền thì chúng ta phải
có một công cụ hỗ trợ đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh để bù đắp khoảng trống Mục đích của việc kiện về hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng là buộc chấm dứt hành vi vi phạm và đòi bồi thường thiệt hại Khi khởi kiện người vi phạm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, chủ thể bị vi phạm vẫn có thể bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của mình như khi khởi kiện về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Trong các trường hợp
Trang 4039
mà các chủ thể vi phạm quyền của nhau mà không có mối quan hệ gì chứng minh là họ có sự cạnh tranh với nhau thì không thể chọn hình thức kiện theo hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà phải chọn phương thức về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với BMKD
Tuy nhiên, hai văn bản này có những quy định còn chưa thống nhất: Điều 130 Luật SHTT đã không liệt kê hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới BMKD, trong khi đó khoản 2 Điều 39 của Luật cạnh tranh đã xác định hành vi xâm phạm BMKD là một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, và Luật cạnh tranh lại không liệt kê được đầy đủ các hành
vi xâm phạm bí mật kinh doanh Do vậy, các quy định về bảo hộ bí mật kinh doanh trong Luật SHTT 2005 chính là sự bổ sung cho những khuyết thiếu trên của Luật cạnh tranh góp phần chống cạnh tranh không lành mạnh một cách hiệu quả hơn
1.3.3 Bảo vệ quyền dân sự cơ bản của con người
Cơ sở lý luận cho pháp luật về sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu của con người Theo triết học Mác – Lênin, nhờ có lao động mà con người tạo ra của cải vật chất, cũng qua quá trình lao động thì trình độ của con người ngày càng được nâng cao làm cho xã hội phát triển tuy có những bước thăng trầm nhưng luôn theo chiều hướng đi lên, đó là quy luật tất yếu của sự phát triển về tự nhiên và xã hội Do đó, cơ sở của quyền sở hữu là lao động Bất kỳ ai cũng có quyền sở hữu đối với thành quả lao động do mình làm ra hoặc do mình đầu tư công sức, tài sản, trí tuệ mà có Đây chính là quyền dân sự cơ bản của con người Lúc đầu, người ta chỉ công nhận quyền sở hữu là quyền đối với tài sản hữu hình còn các thành quả lao động từ hoạt động trí tuệ thì mãi sau này cùng với sự phát triển của xã hội và khoa học – công nghệ, mới được coi là một loại tài sản mà con người có thể sở hữu chúng Tuy ra đời sau nhưng những