CÁC TRƯỜNG HỢP TÒA ÁN TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH HIỆN HÀNH Khởi đầu của quá trình giải quyết vụ án hành chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÀI TIÊU LUẬN
PHÂN TÍCH CĂN CỨ THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH
CHÍNH HIỆN HÀNH
Giáo viên hương dẫn:
ThS Nguyễn Thanh Vân
Sinh viên thực hiện:
Dương Bảo Yến
Mã số SV: 21C5049500059 Lớp: HHTM514
Hà Nội, tháng 09/2021
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Tố tụng hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Luật
Tố tụng hành chính năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10, ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.So với Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng có tính khả thi cao, bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình; đề cao trách nhiệm của các
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật, tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành
Tuy nhiên, không phải tất cả các yêu cầu, các đơn khởi kiện của cá nhân, tổ chức đều được tòa án thụ lý giải quyết mà đã có rất nhiều trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính Vậy tại sao tòa án lại trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính, và việc trả lại đơn khởi kiện đó có hợp lý không, có đúng với pháp luật không? Để trả lời
câu hỏi trên em xin trọn đề tài “ Phân tích căn cứ thụ lý vụ án hành chính và các
trường hợp trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của luật Tố tụng hành chính hiện hành.”
Trang 3NỘI DUNG
I. CÁC KHÁI NIỆM
1. Tố tụng hành chính
Tố tụng hành chính là toàn bộ hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan Nhà nước và tổ chức trong 1 việc giải quyết vụ án hành chính, cũng như trình tự do pháp luật quy định đối với việc khởi kiện, thụ lý, giải quyết vụ án hành chính và thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính
2. Vụ án hành chính
Vụ án hành chính là vụ vụ việc tranh chấp hành chính được toàn án có thẩm quyền thụ lý theo yêu cầu khởi kiện của cá nhân, tổ chức đối với quyết định hành chính, hành
vi hành chính nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
3. Trả lại đơn khởi kiện
Trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án sau khi xem xét thụ lý vụ án, đã trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện bởi thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lý vụ án
4. Thụ lý vụ án hành chính.
Thụ lý vụ án hành chính là hành vi tố tụng của Tòa án có thẩm quyền chấp nhận giải quyết khiếu kiện hành chính, được xác định bằng hành vi ghi vào sổ thụ lý vụ án và thông báo bằng văn bản cho đương sự biết Tòa án đã thụ lý vụ án sau khi xem xét điều kiện khởi kiện và điều kiện thụ lý vụ án
II. CĂN CỨ THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH HIỆN HÀNH
Việc thụ lý vụ án hành chính có vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình tố tụng hành chính, không những đảm bảo việc giải quyết vụ án hành chính đúng thời gian như luật định mà còn có ý nghĩa thiết thực bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của cá
Trang 4nhân, tổ chức Vậy căn cứ nào để Tòa án thụ lý vụ việc tranh chấp hành chính bằng vụ
án hành chính? Theo quy định của pháp luật hiện hành, căn cứ thụ lý vụ án hành chính gồm:
Thứ nhất: Xem xét các điều kiện khởi kiện.
Để có thể khởi kiện vụ án hành chính, phải đảm bảo tuân thủ các điều kiện sau:
1. Điều kiện về chủ thể khởi kiện vụ án hành chính.
- Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính là những cá nhân, tổ chức
có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, cán bộ, công chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định kỉ luật buộc thôi việc
- Việc khởi kiện phải được thực hiện bởi chủ thể có năng lực hành vi tố tụng hành chính Năng lực hành vi tố tụng hành chính được xác định khi cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự
2. Tuân thủ các trường hợp khởi kiện theo quy định định tại Luật Tố tụng hành chính Việt Nam năm 2015
Tại điều 115 Luật Tố tụng hành chính quy định các trường hợp khởi kiện vụ án hành chính Tùy từng đối tượng khởi kiện vụ án hành chính mà cá nhân, tổ chức có thể khởi kiện vụ án hành chính trong các trường hợp khác nhau
3. Điều kiện về đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
4. Điều kiện về thời hiệu khởi kiện.
- Việc khởi kiện vụ án hành chính phải được thực hiện trong thời hiệu do pháp luật
tố tụng hành chính quy định
- Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính được quy định tại điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015
Trang 55. Người khởi kiện không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính.
6. Điều kiện về thẩm quyền xét sử hành chính của Tòa án.
Nội dung vụ việc khởi kiện của vụ án hành chính phải thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án được quy định tại điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015
7. Điều kiện về thủ tục, hình thức và nội dung đơn khởi kiện.
- Về thủ tụ khởi kiện được quy định cụ thể tại điều 117 Luật Tố tụng hành chính năm 1015
- Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện quy định cụ thể tại điều 118 Luật Tố tụng hành chính năm 2015
- Các yêu cầu về nội dung, hình thức thể hiện của việc khởi kiện Khởi tố vụ án hành chính là căn cứ thụ lý vụ án hành chính không thể bỏ qua
Thứ hai: Việc khởi kiện không thuộc trường hợp tòa án phải trả lại đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Tại khoản 1 điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định những trường hợp trả lại đơn khởi kiện Nội dung chi tiết của từng điều kiện em xin được trình bày chi tiết ở phần sau của bài tiểu luận
Thứ ba: Người khơi kiện đã hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm ( trừ trường hợp được miễn theo quy định của pháp luật).
Tuy không phải là căn cứ thụ lý chi phối những vấn đề thuộc nội dung vụ việc nhưng việc xác định trách nhiệm nộp tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm của người khởi kiện phải được thực hiện trước Tòa án thụ lý vụ án hành chính, là cần thiết
để đề cao trách nhiệm của chủ thể khởi kiện tràn lan hay lạm dụng quyền khởi kiện vụ
án hành chính
NHẬN XÉT:
Trang 6Những quy định của pháp luật về căn cứ thụ lý vụ án hành chính không những đảm bảo sự tuân thủ pháp chế của cá nhân, tổ chức mà còn tạo điều kiện thuận lợi để công dân có thể sử dụng quyền khởi kiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
III. CÁC TRƯỜNG HỢP TÒA ÁN TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH HIỆN HÀNH
Khởi đầu của quá trình giải quyết vụ án hành chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp đơn khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp khi có căn cứ cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi các khiếu kiện Tuy nhiên trong thực tế, không phải lúc nào kết quả của quá trình xem xét đơn khởi kiện cũng là việc Tòa án thụ lý đơn để giải quyết vụ việc, vì nếu rơi vào những trường hợp luật định thì tòa phải trả lại đơn khởi kiện Luật Tố Tụng hành chính đã có những quy định cụ thể liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện
Theo đó, việc trả lại đơn khởi kiện được quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
1. Người khởi kiện không có quyền khởi kiện.
- Tại khoản 8 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Người khởi kiện
là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sác cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri).”
- Tại Điều 5 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định về quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp như sau: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này.”
Trang 7Vậy, quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo thủ tục do pháp luật quy định Trong đó, chủ thể khởi kiện hành chính phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 54 Luật Tố tụng hành chính, là phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng hành chính Cần khẳng định rằng: Quyền khởi kiện và chủ thể khởi kiện là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau Quyền khởi kiện chỉ được thực hiện bởi một chủ thể nhất định và chủ thể được thực hiện quyền khởi kiện khi lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Như vây, nếu thiếu một trong hai yếu tố trên sẽ là căn cứ để Tòa án không thụ lý vụ án và trả đơn khởi kiện theo điểm a khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015
Ví Dụ: Ông A bị UBND huyện T quyết định thu hồi đất, nhưng anh B con trai ông lại kiện UBND huyện T là không đúng thẩm quyền
2. Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính
- Tại khoản 2 Điều 117 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của cá nhân; ở phần cuối đơn cá nhân phải kí hoặc điểm chỉ.”
- Do đó, trong trường hợp cá nhân là người chưa thành niên hoặc là người mất năng lực hành vi dân sự mà thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính, thì Tòa án cần xác định việc khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân này đã vi phạm về hình thức khởi kiện vụ án hành chính và căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015 để trả lại đơn kiện
Ví dụ: Ông A bị bệnh tâm thần thì không có năng lực hành vi để đi kiện UBND huyện B, trường hợp này phải do người giám hộ của ông A khởi kiện
3. Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng.
Trang 8- Tại điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
• 01 năm kể từ ngày nhân được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc;
• 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
• Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách
cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.” Tuy nhiên, đối với trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện Và Tòa án cũng có thể thụ lý vụ án hành chính nếu việc chậm trễ khởi kiện vụ án hành chính đối với các trường hợp nêu trên trừ trường hợp khởi kiện
vụ án hành chính về danh sách cử tri
Ví dụ: Quyết định thu hồi đất đã quá 1 năm, ông A mới khởi kiện, nhưng ông A không chứng minh được là do trở ngại khách quan mà khởi kiện chậm
4. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức muốn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện mà pháp luật tố tụng hành chính quy định Nếu họ không thỏa mãn các điều kiện khởi kiện thì vụ việc sẽ không được Tòa án thụ lý giải quyết Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: Chủ thể khởi kiện và quyền khởi kiện; thẩm quyền của Tòa án; thời hiệu khởi kiện
5. Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
- Các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ
Trang 9chức kinh tế,đơn vị vũ trang nhân dân và mọi người tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành
- Do vậy, đối với những sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của tòa án thì các cá nhân, tổ chức có liên quan không được quyền khởi kiện yêu cầu tòa án thụ lý giải quyết lại vụ việc đó (trừ trường hợp tòa án
đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính được quy định tại khoản 1 Điều
143 Luật tố tụng hành chính năm 2015) Trong trường hợp không đồng ý với bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp lực pháp luật thì cá nhân, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định này theo thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm
Ví dụ: Ông A bị giám đốc Công ty B quyết định sa thải việc Ông A khởi kiện vụ án hành chính là không thuộc thẩm quyền của Tòa án hành chính
6. Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
- Do việc xác định thẩm quyền của mỗi tòa án phụ thuộc vào nhiều căn cứ pháp lý khác nhau nên việc xem xét đơn khởi kiện đối với sự việc không thuộc thẩm quyền của tòa án cần phải phân biệt các trường hợp cụ thể sau:
• Trường hợp sự việc được khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của hệ thống tòa án nói chung thì tòa án đã nhận đơn khởi kiện căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015 để trả lại đơn khởi kiện
• Trường hợp sự việc được khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của hệ thống tòa án nói chung nhưng đây không phải là vụ án hành chính thì tòa án đã nhận đơn khởi kiện
có trách nhiệm hướng dẫn người khởi kiện thực hiện lại việc khởi kiện và tiến hành thụ
lý hoặc chuyển đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật phù hợp với loại vụ án đã được khởi kiện lại
Trang 10• Trường hợp sự việc được khởi kiện thuộc thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của hệ thống tòa án nói chung được quy định tại Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015 nhưng lại thuộc thẩm quyền của tòa án khác thì tòa án đã tiếp nhận đơn khởi kiện phải chuyển đơn khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều
121 Luật tố tụng hành chính năm 2015
7. Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại điều 33 Luật tố tụng hành chính.
- Đây là trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Như vậy,xét về phương diện lý luận thì tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện vơi lý do
và việc khởi kiện vụ án hành chính trong trường hợp này đã vi phạm điều kiện khởi kiện vụ án hành chính Tuy nhiên, trong trường hợp hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại thì họ vẫn có quyền khởi kiện vụ án hành chính ra tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
-Trong trường hợp có nhiều cá nhân, tổ chức có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về cùng một vụ việc thì tòa án chỉ căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 123 Luật
tố tụng hành chính năm 2015 để trả lại đơn khởi kiện nếu các cá nhân, tổ chức này đều
đã dứt khoát lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải khiếu nại Nếu các cá nhân,
tổ chức này không thống nhất được với nhau về việc lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại hay thủ tục tố tụng hành chính thì tòa án cần căn cứ vào hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao để xác định vụ việc này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án hay thuộc thẩm quyền của người giải quyết khiếu nại để thụ lý vụ án hành chính hay trả lại đơn khởi kiện theo căn cứ quy định tại đểm e khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015