1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

LẠM PHÁT và THẤT NGHIỆP (2)

32 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 858,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Lạm phát cơ cấu: Hiệu quả sản xuất khác nhau trong cơ cấu sản xuất của nền kinh tế dẫn đến thu nhập và tiền lương khác nhau giữa các ngành kinh doanh.. Tăng tiền lương trong các ngành

Trang 1

1

LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP

Hai chỉ tiêu kinh tế quan trọng đánh giá tình trạng của một nền kinh tế là tỷ lệ

lạm phát và thất nghiệp Chính phủ mọi quốc gia đều chú ý theo dõi rất sát sao 2

chỉ tiêu này và luôn hứa hẹn giữ hai chỉ tiêu này ở mức thấp có thể chấp nhận được

Đó là các mục tiêu rất nhậy cảm bởi vì lạm phát cao dẫn đến mất ổn định xã hội và thất nghiệp cao làm tăng khó khăn cho đời sống của người dân

I LẠM PHÁT

1 Lạm phát là gì?

Nói một cách dễ hiểu thì lạm phát là sự tăng giá chung của nền kinh tế Giá

gạo từ 3000 đồng tăng lên 4000 đồng một ký Giá xăng tăng từ 14.000 đồng lên 18.000 một lít Tiền lương và giá các hàng hóa khác ở nước ta năm 2008 tăng lên trên 20% so với năm 2007 Cũng cần phân biệt sự tăng giá của các mặt hàng riêng

lẻ và sự tăng giá chung của nền kinh tế Giá một mặt hàng nào đó có thể tăng hay giảm Giá gạo có thể tăng nhưng không nhất thiết do đó mà gây ra lạm phát vì giá các hàng hóa khác có thể

(Nguồn Niên Giám Thống kê)

Trang 2

giảm trong cùng thời gian và mức giá chung của nền kinh tế sẽ không thay đổi Lạm phát xẩy ra khi hầu hết giá hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế đều tăng, hay nói cách khác, mức giá trung bình trong nền kinh tế tăng lên

Ở Việt Nam, từ 1986 đến nay, giá cả hàng hóa và dịch vụ không ngừng tăng Nếu chỉ số giá tiêu dùng năm 1986 lấy bằng 1 thì đến năm 1989 đã tăng lên trên 21 lần, đến năm 2007 tăng lên trên xấp xỉ 170 lần Thời kỳ lạm phát cao xẩy ra vào các năm đầu khi chuyển sang kinh tế thị trường từ 1986 đến 1992

2 Các nguyên nhân lạm phát

Có một số quan điểm khác nhau trong phân tích nguyên nhân lạm phát Có thể

nêu ra 3 quan điểm chủ yếu là quan điểm của trường phái Keynes, trường phái tiền

tệ và lý thuyết kỳ vọng hợp lý

Hình 6.1:Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam từ năm 1986 đến

2007, gốc thời gian là năm 1986 CPI năm 2007 bằng 168.95% hay xấp xỉ 170 lần so năm 1986

Trang 3

3

● Theo quan điểm của trường phái Keynes

Phần lớn các nhà kinh tế đều đồng ý với nhau là về dài hạn, lạm phát là hiện tượng tiền tệ Tuy nhiên về ngắn hạn và trung hạn, lạm phát chịu tác động của áp lực cân đối tổng cầu và tổng cung trên thị trường hàng hóa và dich vụ Trên cơ sở phân tích đường cong Phillíp, R.J.Gordon đã đưa ra một mô hình tam giác để xác định tốc độ lạm phát Lạm phát là tổng hợp của 3 nguyên nhân chính sau:

(1) Lạm phát do tăng cầu hay cầu kéo theo lạm phát (demand-Pull inflation) Khi

cầu tăng vượt cung, trạng thái cân bằng cung cầu trên thị trường thay đổi Trường phái Keynes nhấn mạnh cân bằng trên thị trường hàng hóa và dịch vụ Theo đó, do các tác động khác nhau của thị trường và tác động của các chính sách của Chính phủ, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải trong khi đường tổng cung không thay đổi Do đó, điểm cân bằng mới sẽ tương ứng với giá cao hơn và GDP thực hay sản lượng ở mức cao hơn

(2)

Hình 6 2 : Tăng tổng cầu, đường tổng cầu lên trên và qua phải trong khi đường cung không thay đổi dẫn đến giá tăng từ P1 đến P2 Hình bên trái, giá tăng và sản lượng cũng tăng Hình bên phải khi lượng cung không thay đổi (đường cung thẳng đứng) giá tăng nhưng sản lượng không tăng

Trang 4

Trên hình 6.2 bên trái, tăng tổng cầu đối với đường tổng cung ngắn hạn thì giá tăng và sản lượng cũng tăng lên Hình bên phải cho thấy tăng tổng cầu khi đường tổng cung dài hạn thì giá tăng nhưng sản lượng không tăng

(3) Lạm phát do chi phí sản xuất tăng hay chi phí đẩy (cost-push inflation) hay

thiểu cung (supply shocks inflation) Chi phí sản xuất phụ thuộc giá đầu vào của sản xuất Khi giá đầu vào tăng lên dẫn đến chi phí sản xuất của nhiều ngành tăng lên Chi phí sản xuất tăng làm cho sản xuất thu hẹp Chẳng hạn, giá dầu thế giới tăng trong năm 2008 đã gây ra lạm phát cao hầu như tất cả các nền kinh tế trên thế giới Ở nước ta, giá xăng dầu tăng cao trong năm 2008 dẫn đến giá cước taxi, hay cước vận tải nói chung tăng theo hầu như tức thời Giá cước vận tải tăng lên dẫn đến giá nhiều sản phẩm khác tăng lên theo vì trong giá thành sản xuất các ngành khác đều có chi phí vận tải Lạm phát do chi phí sản xuất tăng cũng gọi là lạm phát do thiểu cung (hình 6.3) Trong ví

dụ trên là thiểu cung đối với nguồn dầu thô trên phạm vi thế giới và từ đó thiểu cung trong nước

Hình 6.3 Sản xuất thu hẹp, đường tổng cung dịch chuyển về bên trái Mức giá chung tăng lên và sản lượng giảm

AS1

AD P1

P2

Y Y0

P

Y1

AS2

Trang 5

5

Phân biệt lạm phát do cầu kéo hay do chi phí sản xuất tăng trong thực tế là không thật rõ ràng Chẳng hạn, tăng tổng cầu dẫn đến các doanh nghiệp sẽ tăng thuê mướn công nhân và do đó lương sẽ tăng Lương công nhân tăng sẽ dẫn đến chi phí sản xuất tăng và tiếp theo là lạm phát tăng Như vậy lạm phát tăng là do tổng cầu tăng, nhưng cuối cùng thì lạm phát tăng là do chi phí sản xuất tăng Lạm phát do chi phí tăng mang tính ngắn hạn vì sau đó sẽ có các điều chỉnh do Chính phủ hay do thị trường

tự điều tiết

(4) Lạm phát đẻ ra lạm phát (built-in ìnlation) Lạm phát gây ra lạm phát thường

liên quan đến vòng xoáy giá và lương Khi lạm phát tăng cao, người làm công ăn lương sẽ đòi tăng lương và người trả lương buộc phải tăng lương Việc tăng lương lại dẫn đến tăng giá thành sản xuất và làm tăng giá Tăng lương dẫn đến tăng giá

và tăng giá dẫn đến tăng lương Đó là vòng xoáy giá - lương Một khía cạnh khác

liên quan đến lý thuyết kỳ vọng hợp lý ( rational expectation) là khi lạm phát tăng

cao, các cá nhân trong xã hội sẽ nghĩ về mức lạm phát trong thời gian tiếp theo

cách riêng của mình và cho là hợp lý hay kỳ vọng hợp lý của mỗi người Từ đó

họ quyết định việc tiêu dùng cho hiện tại Nếu họ cho là tương lai giá cả sẽ còn tăng cao hơn tới một mức nào đó, họ sẽ quyết định đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại lên mức tương ứng Tổng cầu sẽ tăng cao hơn tổng cung và lạm phát sẽ tiếp tục tăng cao hơn

Có thể kể ra một số nguyên nhân lạm phát khác, tuy nhiên cũng có thể quy về 3 nhóm nguyên nhân theo mô hình tam giác trên

- Lạm phát do xuất khẩu: Xuất khẩu tăng dẫn tới tăng tổng cầu Trong thị trường nội địa tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung và do đó giá cả gia tăng hay lạm phát do cầu kéo

Trang 6

- Lạm phát do nhập khẩu: Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ nước ngoài phụ thuộc vào giá nhập khẩu Lạm phát gia tăng ở nước ngoài ảnh hưởng lên tăng giá bán hàng nhập khẩu và làm tăng lạm phát trong nước

- Lạm phát cơ cấu: Hiệu quả sản xuất khác nhau trong cơ cấu sản xuất của nền kinh tế dẫn đến thu nhập và tiền lương khác nhau giữa các ngành kinh doanh Tăng tiền lương trong các ngành kém hiệu quả theo mức lương của các ngành hiệu quả sẽ dẫn đến tăng giá sản phẩm của các ngành kém hiệu quả và lạm phát nẩy sinh theo vòng xoáy giá-lương

● Theo quan điểm của trường phái tiền tệ

Trường phái tiền tệ xem nhân tố cực kỳ quan trọng ảnh hưởng lên lạm phát là

số lượng cung ứng tiền tệ Qua nghiên cứu số liệu lịch sử bằng phương pháp thống

kê cho thấy lạm phát là hiện tượng tiền tệ Lý thuyết về số lượng tiền tệ cho là tổng chi tiêu trong nền kinh tế bằng tổng số lượng cung ứng tiền tệ Lý thuyết tiền tệ bắt đầu với đẳng thức

M.V = P.Y

Trong đó, P là mức giá chung của nền kinh tế, V là vòng quay tiền tệ , Y là khối lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế M là số lượng tiền tệ Vòng quay tiền tệ V được giả thiết là không thay thay đổi và khối lượng hàng hóa

và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế Y là phụ thuộc vào khả năng sản xuất của nền kinh tế xét về dài hạn Với hai giả thiết như vậy thì nhân tố quyết định sự thay đổi mức giá chung P của nền kinh tế là thay đổi trong số lượng cung ứng tiền

tệ M Khi vòng quay tiền tệ không thay đổi thì cung tiền tệ quyết định kết quả sản xuất theo giá danh nghĩa về ngắn hạn

Trong thực tế, vòng quay tiền tệ là thay đổi và không thể kết luận được như trên Tuy nhiên, về dài hạn thì thay đổi số lượng tiền tệ M và khối lượng sản xuất Y

Trang 7

7

ảnh hưởng không đáng kể lên thay đổi vòng quy tiền tệ V Như vậy, nếu vòng quay tiền tệ tương đối không thay đổi thì về dài hạn tốc độ tăng của giá P sẽ được quyết định bới tốc độ tằng của số lượng tiền tệ M và tốc độ tăng của khối lượng sản phẩm

Y

● Theo quan điểm của lý thuyết kỳ vọng hợp lý

Lý thuyết kỳ vọng hợp lý cho là các chủ thể kinh tế sẽ dự đoán về giá cả trong tương lai theo nhận thức riêng của họ hay kỳ vọng hợp lý của họ, từ đó họ đưa ra các quyết định tiêu dùng hiện tại nhằm cực đại các lợi ích của họ chứ không phải chỉ riêng vì chi phí cơ hội hay áp lực cung cầu trên thị trường Kỳ vọng của họ có thể đúng hoặc sai, tuy nhiên kỳ vọng của họ về giá cả tương lai hay kỳ vọng hợp lý của

họ là nhân tố quan trọng quyết định giá cả và lạm phát

3 Ảnh hưởng của lạm phát

● Ảnh hưởng lạm phát đối với thu nhập

Ảnh hưởng lớn nhất của lạm phát là ảnh hưởng đối với thu nhập và phúc lợi của xã

hội Để dễ hình dung người ta phân biệt thu nhập bằng tiền (money income) hay thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực (real income) Thu nhập bằng tiền là thu nhập

tính theo giá hiện tại, thu nhập thực là thu nhập được điều chỉnh sau khi đã trừ đi tỷ

lệ mất giá do lạm phát Giả sử thu nhập bằng tiền của một người trong một năm nào

đó là 20 triệu và năm tiếp theo là 22 triệu đồng Lạm phát tính theo CPI năm sau bằng 10% Như vậy, về danh nghĩa tiền lương đã tăng thêm 2 triệu đồng nhưng thực

ra thu nhập không hề tăng, thu nhập 20 triệu đồng năm trước tính theo giá năm sau với lạm phát 10% cũng đúng bằng 22 triệu Có thể tính ngược lại bằng cách lấy 22 triệu năm sau chia cho chỉ số lạmp phát 1.1 sẽ là 20 triệu là thu nhập thực Ảnh hưởng của lạm phát lên người có thu nhập cố đinh, người cho vay tiền và người giữ tiền là nặng nề nhất

Trang 8

- Người có thu nhập cố định: Trong ví dụ trên, thu nhập thực tế không tăng vì

thu nhập danh nghĩa tăng đúng bằng mức tăng của lạm phát Tuy nhiên có nhiều người có thu nhập cố định không tăng trong khi lạm phát tăng, chẳng hạn họ làm việc theo các hợp đồng dài hạn cố định mức lương hoặc những người nhận các khoản trợ cấp cố định Người già sống bằng lương hưu cũng là những người

có thu nhập cố định không có điều kiện thăng tiến như những người còn trẻ Nhóm người có thu nhập cố định là những người chịu ảnh hưởng mạnh của lạm phát

- Người cho vay: Lạm phát gây thiệt hại cho người cho vay và làm lợi người đi

vay Tiền cho vay với lãi suất cố định ghi trong hợp đồng cho vay sẽ thấp hơn mức lạm phát trong thời kỳ lạm phát cao Một người cho vay 100 triệu đồng với lãi suất 8% năm, cuối năm thu cả gốc lẫn lãi là 108 triệu đồng Nếu lạm phát là 10% thì 108 triệu chỉ còn tương đương với 108 / 1.1 = 98.18 triệu và như vậy đã mất đi gần 2 triệu Người đi vay dễ dàng trả 108 triệu nhưng thực

ra chỉ tương ướng 98.18 triệu

- Người gửi tiết kiệm hay mua trái phiếu dài hạn: Mua trái phiếu dài hạn hay

gửi tiết kiệm dài hạn trong thời kỳ lạm phát cao hơn lãi suất cố định của trài phiếu hay lãi suất lúc gửi tiền, sẽ chịu tổn thất nặng nề khi tính theo thu nhập thực

Trong khi lạm phát làm thiệt hại người này thì làm lợi cho người khác Nhiều người may mắn đầu tư vào các hàng hóa, đất dai, máy móc mà giá tăng nhanh nên thu nhiều lợi Cũng chính vì vậy hoạt động đầu cơ phát triển trong thời kỳ có lạm phát cao Tuy nhiên, lợi và hại bù đắp cho nhau và thu nhập xã hội được phân phối lại làm thay đổi bức tranh xã hội trong thời kỳ lạm phát cao

● Ảnh hưởng lạm phát đối với sản xuất

Trang 9

9

Đối với sản xuất: Với lạm phát diễn ra từ từ thì khác với thất nghiệp, không gây thiệt hại làm giảm sản lượng quốc gia, mà trong ngắn hạn lạm phát có thể làm tăng sản lượng quốc gia như chúng ta sẽ thấy ở các chương sau Tuy nhiên, với lạm phát ở mức nhẹ một vài phần trăm mỗi năm có lẽ không làm giảm Tổng sản lượng quốc gia, nhưng lạm phát ở mức cao có thể sẽ gây tác động bất lợi cho sản xuất Một tình huống có thể xảy ra là khi lạm phát cao, hoạt động đầu cơ sẽ thu hút các nguồn tiết kiệm nhiều hơn là hoạt động sản xuất Người dân sẽ tìm lợi ích trong việc mua vàng, bất động sản hơn là đầu tư cho sản xuất Các doanh nghiệp sẽ nản lòng không còn hào hứng tiến hành các dự án dài hạn vì không dự báo được giá

cả trong tương lai Khi lạm phát cao, người dân không muốn cầm tiền trong tay

mà muốn có hàng hóa dễ bán hoặc dễ trao đổi với hàng hóa và dịch vụ khác Kết quả cuối cùng là nền kinh tế hoạt động không hiệu quả và làm giảm tổng sản lượng quốc gia

II THẤT NGHIỆP

Trước tiên chúng ta cần làm rõ khái niệm thất nghiệp và tìm hiểu nguyên nhân thất nghiệp hay phân loại thất nghiệp

1 Người thất nghiệp

Người thất nghiệp là người có khả năng lao động, có nhu cầu lao động, đang

đi tìm việc hoặc tạm thời nghỉ việc hay đang chờ ngày bắt đầu việc làm mới

Có hai đặc trưng cần lưu ý Trước hết người thất nghiệp phải là người có khả năng lao động Bởi vì nếu không có khả năng lao động thì không phải là người thất nghiệp Người ốm đau bệnh tật, trẻ em vị thành niên, họ không thể lao động được nên họ không phải là người thất nghiệp Đặc trưng thứ hai là phải có nhu cầu lao động, bởi vì có người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu đi làm để kiếm

Trang 10

tiền Một số người cuộc sống gia đình sung túc, họ không muốn đi làm vất vả và do

đó họ không phải là người thất nghiệp Trong số người thất nghiệp có thể gồm thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện Người thất nghiệp tự nguyện đành không đi làm để chờ cơ hội tốt hơn, lùi một bước để tiến lên nhiều bước Người thất nghiệp không tự nguyện thì đi tìm việc nhưng không có việc để làm

Trước đây, trong hệ thống sản xuất vật chất của các nước Xã hội Chủ nghĩa, việc làm là do Nhà nước bảo đảm Vì vậy không sử dụng khái niệm thất nghiệp mà

sử dụng khái niệm người chưa có việc làm Người chưa có việc làm bao gồm cả

người có nhu cầu lao động và cả người không có nhu cầu lao động Vì vậy trong các tính tỷ lệ người chưa có việc làm cũng khác với cách tính tỷ lệ thất nghiệp trong kinh

Lực lượng lao động = số người đang có vệc làm + số người thất nghiệp

Không thuộc lực lượng lao động gồm những người đang đi học, làm việc nội trợ trong gia đình, những người còn tuổi lao động nhưng không đủ sức khỏe, người về hưu còn còn sức khỏe nhưng không có nhu cầu lao động và nói chung, những người khác đủ điều kiện lao động nhưng không muốn đi làm

3 Tỷ lệ thất nghiệp

Trang 11

Cách tính tỷ lệ thất nghiệp như trên phụ thuộc vào dữ liệu người thất nghiệp

và lực lượng lao động Một trong các hạn chế về dữ liệu người thất nghiệp là không chỉ ra được số người bán thất nghiệp, số người làm việc không trọn ngày hay làm công việc mà yêu cầu thấp hơn trình độ và kỹ năng họ được đào tạo Số lao động này vẫn được coi là có việc làm một cách đầy đủ Nói chung, việc phân biệt thế nào

là thất nghiệp không phải là rõ ràng Nhiều người có việc làm chỉ theo mùa vụ, ngoài mùa vụ làm việc ra có thể họ không có việc để làm

Ở Việt Nam lực lượng lao động trước đây được hiểu là tất cả những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Vì thế con số đánh giá thất nghiệp của nước ta tính được trước đây khác nhau nhiều cách tính hiện nay theo chuẩn quốc tế

4 Phân loại thất nghiệp

Người ta phân thất nghiệp theo các loại sau đây:

● Thất nghiệp tạm thời (frictional unemployment)

Một số người tạm thời rời bỏ công việc để tìm một công việc khác tốt hơn Có nhiều

lý do khác nhau Có thể do không thỏa mãn với mức lương hiện tại và cho là có thể tìm một việc làm khác có mức lương cao hơn hoặc không vừa long với các điều kiện làm việc Một số trường hợp khác do thời vụ mà công nhân phải tạm thời nghỉ việc

Trang 12

Ở nước ta, nhiều khu nghỉ mát chỉ có khách vào mùa hè Mùa đông không có khách

và nhiều người phải nghỉ việc chờ đến mùa hè năm sau Thất nghiệp do chuyển đổi công việc là không thể tránh khỏi và là tạm thời Thất nghiệp trong giới thanh niên chủ yếu là thất nghiệp tạm thời Không nên cho thất nghiệp loại này là tốt và cũng không mấy ý nghĩa khi tìm cách loại bỏ nó một cách hoàn toàn Thị trường lao động

tự do không thể hoạt động mà lại không có thất nghiệp tạm thời

●Thất nghiệp cơ cấu (Structural unemployment)

Nhu cầu tiêu dùng xã hội và công nghệ sản xuất không ngừng thay đổi Chẳng hạn,

xu thế người tiêu dùng không còn muốn sử dụng nhiều một loại hàng hóa hay dịch

vụ nào đó và ưa chuộng một loại hàng hóa mới Sản phẩm mới và công nghệ sản xuất mới ra đời, thay thế công nghệ sản xuất cũ Công nghệ mới đòi hỏi các kỹ năng mới và những người lao động theo công nghệ cũ không còn thích hợp và do đó mất việc Thất nghiệp loại này được gọi là thất nghiệp cơ cấu Cầu của một số loại lao động tăng lên, cầu của một loại lao động khác giảm xuống Trong khi đó mức cung các loại lao động khác nhau không được điều chỉnh nhanh chóng để đáp ứng Như vậy sự mất cân đối trong các nghề nghiệp hoặc trong các vùng do một số lĩnh vực phát triển so với các lĩnh vực khác là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp cơ cấu Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối này trên thị trường lao động sẽ mất đi Những vùng có nguồn cung cao tiền lương sẽ hạ và tiền lương sẽ tăng cao ở vùng

có mức cầu lao động cao Tuy nhiên, trong thực tế tiền lương là ổn định, chậm thay đổi và sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến thất nghiệp

● Thất nghiệp chu kỳ (Cyclical unemployment)

Thất nghiệp chu kỳ xảy ra do tổng cầu giảm và số lao động đi tìm việc làm nhiều hơn số việc làm mà xã hội có thể tạo ra Thất nghiệp chu kỳ gắn với dao động chu

kỳ trong kinh doanh Các nền kinh tế thị trường phát triển đều phải gánh chịu các dao động về kinh tế do các tác động sốc khác nhau Đó là sau mỗi thời kỳ phát triển

Trang 13

13

cao ồ ạt là thời kỳ kinh tế suy giảm và ngược lại Nét đặc trưng của chu kỳ kinh doanh là các nền kinh tế phải gánh chịu các thời kỳ suy thoái với tỷ lệ thất nghiệp cao và được tái diễn có tính chất chu kỳ Thế giới đã trải qua thời kỳ Đại khủng hoảng kinh tế các năm 1930 Đó là một giai đoạn mà thất nghiệp xẩy ra trên quy mô toàn cầu, kéo theo Đại chiến thế giới lần II 1936-1945 Sau Đại chiến thế giới II, Chính phủ của nhiều nền kinh tế phát triển phải thông qua các đạo luật chống thất nghiệp, nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động có việc làm Hiện nay, cuối năm

2008 và sang đầu 2009, thế giới lại chứng kiến một giai đoạn suy thoái kinh tế mới

Tỷ lệ thất nghiệp tăng lên ở hầu hết các nước, bắt đầu từ các nước phát triển như

Mỹ, Nhật

● Thất nghiệp cổ điển (Classical unemployment)

Ngoài ba loại thất nghiệp nêu trên, người ta cũng còn phân biệt một loại thất nghiệp khác được gọi là thất nghiệp cổ điển Thất nghiệp cổ điển là thất nghiệp do tiền lương thực tế được ấn định cao hơn mức lương cân bằng trên thị trường thị trường lao động Điều đó xẩy ra do sự can thiệp của Chính phủ hay với chính sách tiền lương tối thiểu hay do đấu tranh của các nghiệp đoàn lao động nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động Chính sách tiền lương tối thiểu một mặt bảo vệ lợi ích người lao động, tuy nhiên hệ quả của nó là dẫn đến làm tăng thất nghiệp Trên hình 6.4, tiền lương tối thiểu cao hơn mức lương cân bằng dẫn đến cầu lao động giảm và cung lao động tăng, dẫn đến thất nghiệp Trong thời kỳ Đại suy thoái các năm

Trang 14

14

1930, do đạt mức tiền lương cao nên thất nghiệp tăng lên, các nhà kinh tế Mỹ ước tính thiệt hại khoảng 4 nghìn tỷ đô la, cao hơn nhiều lần só với thiệt hại do độc quyền, do hệ thống thuế quan gây ra

5 Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên : Thất nghiệp tự nhiên là khái niệm của trường phái

tiền tệ Đó là tỷ lệ thất nghiệp khi nền kinh tế ở trạng thái cân bằng dài hạn Khái

niệm này được đề xuất bởi Milton Friedman và Edmund Phelps vào năm 1968 Các giả thiết của kinh tế học cổ điển được áp dụng trong lý luận về tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, đó là nền kinh tế ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, thị trường hàng hóa và thị trường lao động có khả năng điều chỉnh tức thời trước các biến động của giá cả Trên thị trường lao động, cân bằng đạt tại điểm A hình 6.5 tại đó, cầu lao động bằng cung lao động Lượng lao động cân bằng tại L1 và tiền lương thực tế bằng W1 Tuy nhiên, tại mức lượng cân bằng thì lực lượng lao động vẫn cao hơn số lao

Hình 6.5 Tại điểm cân bằng trên thị trường lao động A, mức lương thực

tế w , cung lao động vẫn thấp hơn lực lượng lao đông, hiệu số giữa chúng

LS

Cầu lao động

w

Trang 15

15

động được thuê mướn hay có việc làm Trên hình 6.5, lực lượng lao động L2 cao hơn lao động có việc làm tại điểm cân bằng là L1 Đoạn AB = L2 – L1 tương ứng với số lao động thất nghiệp tự nhiên, gồm trong đó thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp tạm thời Thất nghiệp tự nhiên không bao gồm thất nghiệp không tự nguyện mà chỉ gồm thất nghiệp tự nguyện Chẳng hạn, tự nguyện ở nhà để chờ tìm việc khác lương cao hơn hay chờ điều kiện tốt hơn

- Điểm đáng chú ý đầu tiên là tại mức thất nghiệp tự nhiên tương ứng với mức lương

thực tế cân bằng trên thị trường lao động Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất có thể đạt được để nền kinh tế tạo được công ăn việc làm nhiều nhất mà không gây ra lạm phát Người ta nói, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là mức bằng

vàng ở giữa mức quá thấp hay quá cao Tỷ lệ lạm phát trong thực tế biến động xung quanh tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

- Điểm chú ý thứ hai là tại mức thất nghiệp tự nhiên, sản lượng của nền kinh tế hay GDP đạt mức tiềm năng, tại đó mọi nguồn lực được khai thác tối đa và đường tổng cung của nền kinh tế là đường thẳng đứng (hình 6.6)

● Sản lượng tối

đa (tiềm năng)

phát Tại điểm A, mọi nguồn lực của nền

kinh tế được khai thác tối đa, lao đông được toàn dụng tương, tỷ lệ thất nghiệp bằng lệ thất nghiệp tự nhiên và sản lượng quốc gia đạt cực đại

Y

P

Trang 16

tế có thể đạt đến gần mức toàn dụng lao động, nhưng giá phải trả là lạm phát sẽ tăng cao Do đó giảm tỷ lệ lao động thấp hơn mức tự nhiên chỉ là tạm thời và cuối cùng

tỷ lệ thất nghiệp sẽ trở về mức tự nhiên

.- Các chính sách kinh tế nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nói chung là nhằm hoàn thiện các điều kiện cạnh tranh cho thị trường lao động đề loại bỏ các nhân tố không hoàn hảo của thị trường (hệ thống phúc lợi xã hội , hệ thống thuế thu nhập, điều kiện chuyển vùng, đào tạo nghề nghiệp) Khi đó đường cung lao động sẽ dịch chuyển về bên phải, từ LS1 đến LS2 trên cùng mức lương W1, khi đó điểm cân bằng dịch chuyển từ A đến B Thất nghiệp tự nhiên giảm từ độ dài AB xuống CB (Hình 6.7)

Ngày đăng: 15/01/2022, 00:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN