Lý thuyết nghiên cứu

Một phần của tài liệu Luận án Nguyễn Thị Hằng (Trang 41 - 48)

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2.3. Lý thuyết nghiên cứu

Luận án sử dụng lý thuyết giá trị và lý thuyết cấu trúc chức năng để làm rõ vấn đề nghiên cứu.

2 3 Lý thuyết gi trị

Trong các ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ "giá trị" bắt nguồn từ Valere của tiếng La-ting có nghĩa là "khỏe mạnh, tốt, đáng giá", ban đầu đƣợc dùng để chỉ việc một thứ gì đó đáng giá, trước hết là theo nghĩa giá trị trao đổi của kinh tế học mà nhà kinh tế học chính trị Adam Smith đã nói đến trong tác phẩm nổi tiếng của mình với nhan đề Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of the Wealth of Nations (Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia) xuất bản năm 1776. Theo Đại bách khoa toàn thƣ Xô - viết (30 tập), giá trị là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong các tài liệu triết học và xã hội học để chỉ ý nghĩa con người, xã hội và văn hóa của những hiện tƣợng thực tế nhất định.

Theo truyền thống Hy Lạp, ở Châu Âu vào nữa sau thế kỷ XIX, người ta lƣợc quy giá trị vào ba phạm trù là: chân (cái đúng), thiện (cái tốt), mỹ (cái đẹp). Ở Trung Quốc theo truyền thống Nho giáo, xét theo nhu cầu tôn ty, trật tự trong quan hệ xã hội, người ta suy tôn bốn chữ: trung, hiếu, tiết, nghĩa.

Ở Nhật Bản, ông Makiguchi - nhà sáng lập Hội giáo dục sáng tạo giá trị của Nhật đã nhận xét, cuộc sống là sự mưu cầu hạnh phúc của con người, và cho rằng, mục tiêu của giáo dục phải trùng hợp với mục tiêu của cuộc sống.

Giá trị nói ở đây là thuộc về giá trị xã hội. Cho nên về nguyên tắc nó mang tính cộng đồng. Giá trị chính là sở thích của cộng đồng nảy sinh trong một bối cảnh xã hội nhất định và đóng vai trò điều tiết trong nội bộ cộng đồng ấy, nó chi phối một cách ngầm ẩn đối với hoạt động của cá nhân hay cộng đồng. Giá trị giúp cho cá nhân trong cộng đồng dựa vào vị thế xã hội của mình mà xác định phương hướng hành động cho phù hợp với lý tưởng.

Giá trị là những cái đƣợc coi là quan trọng, là có ý nghĩa, đƣợc đa số người trong xã hội ao ước và cùng chia sẻ. Giá trị mà một cộng đồng xã hội chấp nhận là dựa trên sự đánh giá của đa số các thành viên trong cộng đồng ấy về những cái mà họ khao khát nhƣ: cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái có ích…

và ngƣợc lại những cái mà họ không mong muốn nhƣ: cái sai, cái xấu, cái không tốt, cái có hại được coi là phản giá trị. Như vậy, giá trị thường mang sắc thái tình cảm, chúng biểu hiện ra những gì mà các thành viên trong cộng đồng cảm thấy cần suy tôn, bảo vệ. Tuy vậy, cái đƣợc coi là giá trị, ở đây là cái mang tính xã hội (giá trị xã hội), chứ không phải là cái mang tính cá nhân, do cá nhân cấp cho. Mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng nhân dân, các giá trị đều đƣợc nhận thức, kiểm nghiệm và đánh giá qua thực tiễn cuộc sống vô cùng phong phú. Và, mỗi sản phẩm văn hóa đƣợc tạo ra đều có chứa đựng một giá trị xã hội nào đó. Vì thế, có thể xem toàn bộ những tạo phẩm do hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng nhƣ trong hiện tại làm ra sẽ trở thành hình thức ngoại hiện của văn hóa còn tổng giá trị xã hội chứa đựng trong các tạo phẩm ấy (cả vật thể và phi vật thể) trở thành nội dung tinh thần của văn hóa. Với tính chất là hệ thống giá trị, đóng vai trò liên kết xã hội và định hướng hoạt động cho mỗi thành viên trong cộng đồng.

Từ đó có thể hiểu giá trị là thành quả có ý nghĩa từ lao động sáng tạo của quần chúng nhân dân, đƣợc chia sẻ trong cộng đồng. Đối với mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, nó vừa là cái đƣợc mong muốn, vừa là cái đáng mong muốn và cần phải mong muốn.

Theo quan điểm lý thuyết giá trị nêu trên, NCS nhận thấy luận án cần đi vào giải quyết các vấn đề, cấu trúc giá trị KDTLSĐĐCC. Nói khác đi là cần chỉ ra những giá trị tạo nên KDTLSĐĐCC và sự tác động của nó trong đời sống văn hóa cộng đồng người dân hiện nay.

2 3 2 Lý thuyết cấu trúc ch c năng

Lý thuyết chức năng ra đời gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto, Athur Radcliffe - Browb, Bronislaw Malinowski, Talcott Parsons, Robert Merton, Peter Blau và nhiều người khác.

Nguồn gốc lý luận của thuyết cấu trúc chức năng trước hết là xuất phát

từ truyền thống khoa học xã hội Pháp coi trọng sự ổn định, trật tự của hệ thống với các bộ phận có quan hệ chức năng - hữu cơ với chỉnh thể hệ thống và tiếp đến là truyền thống khoa học Anh với thuyết tiến hóa, thuyết kinh tế, thuyết vị lợi, thuyết hữu cơ phát triển mạnh [38, tr.49-160]. Từ hai truyền thống này đã nảy sinh những ý tưởng khoa học về xã hội như là một sinh thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định.

Lý thuyết cấu trúc chức năng có hai nhánh chính là trường phái chức năng tâm lý học - gắn với nhà nghiên cứu Bronislaw Malinowski và trường phái chức năng cấu trúc - xã hội - gắn với nhà nghiên cứu Radcliffe Brown.

Theo quan điểm của Bronislaw Malinowski, mỗi yếu tố xã hội đều có những đóng góp nhất định vào sự tồn tại của nền văn hóa mà chúng xuất hiện. Chính vì vậy, ông chủ trương xã hội nào cũng cần phải được bảo tồn và mở rộng các yếu tố của hệ thống với các chức năng cụ thể của chúng, bởi mỗi chức năng nhƣ thế đều nhằm thỏa mãn một nhu cầu cụ thể của con người.

Trong bất cứ dạng văn minh nào và sự bất cứ tập quán nào, các đối tượng vật chất, tư tưởng và các tín ngưỡng thực hiện chức năng sinh động nào đó, xử lý nhiệm vụ nào đó, đều là bộ phận cần thiết ở bên trong một chỉnh thể hoạt động… Bất cứ văn hóa nào trong tiến trình phát triển của nó đều có thể tạo ra một hệ thống cân bằng và ổn định, trong đó mỗi bộ phận chỉnh thể đều thực hiện chức năng của nó. Nếu triệt tiêu một yếu tố nào trong văn hóa (nhƣ: cấm đoán một nghi lễ mà theo chúng ta là có hại), thì toàn bộ hệ thống ấy, sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và hủy hoại [1].

Malinowski nhấn mạnh, văn hóa là tổng thể những nhu cầu đáp ứng đối với các nhu cầu cơ bản của con người (nhu cầu sinh học và nhu cầu an sinh xã hội):

"Mỗi thể chế đóng một mặt cho sự hoạt động của cộng đồng nói chung, nhƣng

cũng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản và thứ cấp của cá nhân" [55]. Cũng theo ông, văn hóa tồn tại để thỏa mãn bảy nhu cầu của con người: dinh dưỡng, sự tái tạo, thỏa mãn thể xác, an toàn, thƣ giãn, vận động và phát triển [81].

Đến Radcliffe Brown chủ trương nghiên cứu chức năng của các thiết chế trong hệ thống xã hội. Theo ông, xã hội học phải trở thành khoa học tự nhiên (thực chứng) về xã hội với nhiệm vụ chủ yếu là phát hiện ra các quy luật của mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân. Ông coi cấu trúc xã hội là hình mẫu, mô hình của các quan hệ xã hội hình thành, biến đổi trong điều kiện lịch sử cụ thể.

Nhƣ vậy, sự phát triển của lý thuyết cấu trúc chức năng là kết quả của nhiều tác giả khác nhau, nhƣng thống nhất ở chỗ cho rằng để giải thích sự tồn tại và vận hành của xã hội cần phân tích cầu trúc - chức năng của nó, tức là chỉ ra các thành phần cấu thành (cấu trúc) và các cơ chế hoạt động (chức năng) của chúng.

Ở đây, "chức năng là nhu cầu, lợi ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống" [49, tr.201].

Dù với tên gọi nào, các tác giả chủ thuyết chức năng đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận có chức năng nhất định góp phần đảm bảo của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững.

Mỗi hiện tƣợng xã hội nhƣ một tổng thể chức năng và đơn vị (yếu tố) cấu thành đều thực hiện những chức năng nhất định.

Trên cơ sở quan điểm của các nhà lý thuyết chức năng về chức năng của các hiện tượng, luận án vận dụng để xem xét vai trò, sự ảnh hưởng của các giá trị của KDTLSĐĐCC trong ĐSVHCĐ. Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi có những chức năng nhất định đối với đời sống văn hóa của con người:

tạo ra sự trao truyền văn hóa, tính kế tục lịch sử giữa các thế hệ, đáp ứng nhu cầu văn hóa, giáo dục hình thành nhân cách con người…

Việc áp dụng lý thuyết giá trị và lý thuyết cấu trúc chức năng trong luận án giúp tác giả có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề nghiên cứu và đạt đƣợc mục đích nghiên cứu.

1.2.4. Khung phân tích nội dung luận án

ĐSVHCĐ

ĐSVHCĐ

ĐSVHCĐ

ĐSVHCĐ KHU DI TÍCH

LỊCH SỬ ĐỊA ĐẠO CỦ CHI

• Vai trò giáo dục truyền thống lịch sử

cách mạng

• Vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội

• Vai trò phản ánh lịch sử cách mạng

• Vai trò sáng tạo các giá trị văn hóa

mới

Tiểu kết chương 1

Nghiên cứu về đề tài "Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh trong đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay", nhìn từ góc độ chuyên ngành Văn hóa học là một vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn về vai trò, vị trí, chức năng của KDTLSĐĐCC, tác động của nó đối với ĐSVHCĐ và ảnh hưởng của ĐSVHCĐ đối với sự tồn tại và phát triển của KDT này.

Trong Chương 1, NCS đã tập trung tổng quan tình hình nghiên cứu theo các vấn đề chính gồm: (1) Những công trình nghiên cứu về di sản văn hóa trong đời sống văn hóa cộng đồng; (2) Những công trình nghiên cứu về hệ giá trị; (3) Những công trình nghiên cứu về di tích lịch sử và phát huy di tích lịch sử ở Thành phố Hồ Chí Minh; (4) Những công trình nghiên cứu về KDTLSĐĐCC trong ĐSVHCĐ. Trên cơ sở tổng quan các tài liệu về những vấn đề trên, NCS đã chỉ rõ những thành tựu nghiên cứu trên rất có ý nghĩa đối với việc tiếp thu để triển khai nghiên cứu luận án. Đồng thời, NCS nhận thấy cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống các giá trị ở KDTLSĐĐCC và vai trò của nó đối với ĐSVHCĐ.

Để xác định cơ sở lý luận nghiên cứu của luận án, NCS đã làm rõ một số khái niệm công cụ liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài nhƣ: đời sống văn hóa cộng đồng; di tích lịch sử cách mạng, giá trị di tích lịch sử cách mạng. Luận án cũng đã xác định vai trò của di tích lịch sử cách mạng trong đời sống văn hóa cộng đồng. Trên cơ sở này, luận án tiếp thu và vận dụng một số lý thuyết nghiên cứu để thực hiện luận án. Nghiên cứu sinh vận dụng lý thuyết giá trị và lý thuyết cấu trúc chức năng để nghiên cứu các giá trị và chức năng của KDTLSĐĐCC trong đời sống văn hóa cộng đồng. Đây là những tiền đề lý luận quan trọng để NCS triển khai nghiên cứu về KDTLSĐĐCC trong đời sống văn hóa cộng đồng ở chương sau.

Chương 2

Một phần của tài liệu Luận án Nguyễn Thị Hằng (Trang 41 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(221 trang)