Ông muốn bế quan ở Linh Nham thì sư Chân Đạt đã chấp thuận rồi. Đấy lại là cơ duyên tốt đẹp không chi bằng, nhưng phải toàn thân buông xuống hết, cái tâm bộp chộp vọng động mong gấp được lợi ích cũng buông xuống luôn thì sẽ tự được lợi ích. Nếu không, chỉ sợ thấy bị ma dựa. Phàm những kẻ bị ma dựa đều là do tâm bộp chộp, vọng động mà ra. Sư Chân Đạt quả thật đã thành tựu sự bế quan cho ông, hãy nên nghĩ báo ân, đừng vọng tưởng làm bậc đại thông gia, may ra sẽ được tâm tương ứng với Phật, chẳng cầu làm bậc đại thông gia mà lại có thể làm bậc đại thông gia! Đấy gọi là “vô tâm mà được, có tâm lại đâm ra bị mất mát”. Nghĩa lý trọng yếu trong Phật pháp chính là “tâm không chấp trước”. Nếu đã sẵn mang lòng chấp chết cứng [cầu] đạt được đủ mọi cảnh giới lợi ích là đã ươm sẵn cái họa bị ma dựa. Nếu trong tâm rỗng rang, trừ một câu Phật hiệu ra, không có một niệm nào khác thì được, may ra sẽ chứng đắc vậy.
33. Thư gởi ông Đoàn Chấp Chánh48
Vốn khâm phục ngài đức sâu dầy, hiểu biết chân chánh rạng rỡ, hiện thân làm quốc chủ để hành chuyện Như Lai, hộ trì Phật pháp, công đức khó lường, dõi nghe tiếng tăm, vui mừng khen ngợi không thể nào diễn tả được.
Nghe nói gần đây bộ Nội Vụ sắp thuận theo lời thỉnh cầu của Tiết đô trưởng49, ban hành điều lệ đăng ký tài sản chùa miếu. Trong ngu kiến của kẻ ở chốn núi non, rẫy bái, trộm nghĩ làm như vậy không nên. Phàm là người có lòng nhân thì chẳng thực hiện những pháp hà khắc quấy nhiễu dân.
Huống chi tài sản của chùa miếu vốn để cúng dường Tam Bảo, quả thật là phước điền cho chúng sanh, những tài sản tầm thường thật chẳng thể sánh bằng! Trong văn bản Điều Lệ Quản Lý Chùa Miếu đã tu chỉnh được ban hành vào năm Dân Quốc thứ mười (1921) có ghi rõ [tài sản chùa miếu] được bảo vệ bình đẳng như [tài sản] của những người dân bình thường. Đã nói là
“cùng được bảo vệ bình đẳng”, há nên định riêng điều lệ khắc nghiệt ư?
Vả nữa, nói trên phương diện tôn giáo, có lẽ cũng không nên có cái nhìn lệch lạc chút nào. Điều lệ đăng ký tính áp dụng hiện thời chuyên áp dụng vào chùa miếu, chứ không ảnh hưởng tới tài sản của giáo hội [Thiên Chúa
48 Đoàn Chấp Chánh chính là Đoàn Kỳ Thụy (1864-1936), một tay quân phiệt dưới thời Dân Quốc, từng làm Quốc Vụ Tổng Lý và Tổng trưởng Lục Quân, kiêm nhiệm nhiều bộ dưới thời Dân Quốc. Ông này vốn có tên là Khải Thụy, tự là Chi Tuyền, người Hợp Phì (tỉnh An Huy), từng được huấn luyện quân sự tại Đức Quốc, là tay chân của Viên Thế Khải. Ông ta luôn tích cực phát động chiến tranh để tranh giành quyền bính. Do họ Đoàn giữ chức Lâm Thời Chấp Chánh (tương ứng với chức Đại Tổng Thống) từ năm 1924 đến năm 1926 nên lá thư này phải được viết trong khoảng thời gian đó.
49 Nguyên văn “Tiết kinh triệu doãn”: Tiết là tên họ, còn Kinh Triệu Doãn chức vụ được đặt ra từ thời Tần giữ nhiệm vụ quản lý hành chánh và trị an ở kinh đô. Về sau, tất cả những vị trưởng quan quản trị hành chánh và trị an ở thủ đô đều được gọi là Kinh Triệu Doãn. Chúng tôi dùng chữ Đô Trưởng để tạm dịch vì người Việt thường gọi chức vụ này bằng danh xưng Đô Trưởng. Tiết Kinh Triệu Doãn là ông Đô Trưởng họ Tiết.
giáo], cho thấy luật lệ của chánh quyền không thật sự hết sức công bằng. Tra trong văn bản điều lệ quản lý chùa miếu đã ban hành trước đây thì lại thấy nói tài sản của chùa miếu sẽ đăng ký nơi ty hành chánh cai quản địa phương ấy, tuy chưa nói rõ phương pháp đăng ký nhưng đã ghi là “các tôn giáo và những người dân bình thường đều cùng được bảo vệ”, như vậy thì đương nhiên cũng phải áp dụng cùng một điều lệ đăng ký như tài sản của người dân [bình thường]. Văn bản đã được công bố rõ ràng, sao lại vụng về dùng quy định do bộ Nội Vụ ban hành sau này đến nỗi mâu thuẫn với mệnh lệnh trước kia? Do vậy, chẳng nề mạo muội, quấy nhiễu tâu trình. Khẩn cầu ngài hãy rộng vận Từ tâm, mau truyền lệnh cho bộ Nội Vụ bãi bỏ điều kiến nghị ấy để [dân chúng] khỏi bị quấy nhiễu khốn khổ, lòng nhân sâu đậm, ân trạch sâu dầy ấy nào phải chỉ có tăng chúng cảm kích, vâng đội chẳng quên, mà hết thảy chư Phật cũng sẽ đồng thanh khen là lành, kẻ không có trách nhiệm hết sức bứt rứt mong chờ ngài ra lệnh.
Tăng sĩ Đế Nhàn, Ấn Quang kính bạch.
* Đính kèm thư trả lời Kính trình các ngài,
Chúng tôi được ngài Chấp Chánh giao xuống một lá thư, trong ấy nói:
“Bộ Nội Vụ sắp chấp thuận lời thỉnh cầu của Tiết Đô Trưởng ban hành lệnh điều lệ đăng ký chùa miếu, khẩn khoản thỉnh ra lệnh cho bộ Nội Vụ bãi bỏ lệnh ấy”. Do vâng theo lời phê [của ngài Chấp Chánh]: “Đã thẩm tra, ra lệnh ngưng lại…” ngoài việc tống đạt văn thư cho bộ Nội Vụ, chúng tôi còn gởi thư này trả lời, mong quý ngài thấu hiểu.
Bí Thư Sảnh thuộc phủ Chấp Chánh Lâm Thời kính báo.
34. Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên50 (thư thứ nhất)
Quang thuở nhỏ thiếu học vấn, lớn lên chẳng biết gì, chỉ do ở Phổ Đà lâu ngày thường được người khác sai bảo [viết lách] thay cho họ nên ghi đại lược một hai chuyện để tự mình xem. Mùa Thu năm ngoái được các hạ mang [những bài viết ấy] đến Thượng Hải, sao ra bốn bài luận cho đăng trên [Phật Học] Tùng Báo. Trộm nghĩ: [Phật Học] Tùng Báo chính là do các vị
50 Cao Hạc Niên (1872- không rõ năm mất) là người huyện Hưng Hóa, tỉnh Giang Tô, tên thật là Hằng Tùng. Mộ đạo từ nhỏ, thấu hiểu sanh tử là chuyện lớn, nên đã phát nguyện hành cước, tham phỏng thiện tri thức khắp các danh sơn. Trong số các cư sĩ cận đại, ông là người đi tham học rộng khắp nhất. Năm 1921, để đáp tạ ơn vợ thay mình phụng dưỡng bố mẹ trong khi ông rong ruổi tham học, ông đã biến nhà mình thành Trinh Tiết Tịnh Độ An Lão Viện để làm chỗ cho vợ và những phụ nữ đức hạnh tu tập Tịnh nghiệp. Ông tích cực tham gia công tác từ thiện, nhất là trong vụ lụt lớn tại các huyện phía Bắc tỉnh Giang Tô, đã tận tụy đi cứu tế hơn mười mấy chỗ.
Năm Dân Quốc 37 (1948), ông về ẩn tu tại Chung Nam Sơn, không rõ mất năm nào. Tác phẩm nổi danh nhất của ông là Danh Sơn Du Phỏng Ký.
đại cư sĩ thổi ốc pháp lớn, đánh trống pháp lớn, nghĩa lý mênh mông, sâu xa như trời cao đất dày, văn từ tuyệt diệu, đẹp đẽ như ngọc chạm, vàng rung.
Xếp văn của Quang vào ấy khác gì ném ngói sạn vào rừng châu, rải gai góc nơi vườn quỳnh, chỉ gai mắt nhã, chẳng ích gì cho tấm lòng [độc giả] tán thưởng, [cảm thấy] xấu hổ, thẹn thùng. Thầy Căn Kỳ trở về, lại bảo viết luận, nhưng do sức khỏe yếu ớt, nhãn mục quáng lòa, dẫu muốn, chẳng thể vâng mạng được, nhưng sợ phụ tấm thịnh tình; do vậy đem những bản thảo cũ đã được viết theo lời sai khiến [của người khác] chép lại cho rõ ràng thành năm bài. Thể tài, câu văn vụng về, kém tệ, các hạ đọc đến sẽ bật cười!
Nhưng đôi bên quen biết nhau, chắc chẳng đến nỗi quở trách, chứ còn đem đăng báo chỉ sợ chuốc lấy tiếng cười chê của bậc đại thông gia vậy! (Ngày mồng Tám tháng Tư)
Xét ra Ấn Quang đại sư ẩn cư tại Phổ Đà Sơn, thoạt đầu không ai biết đến. Cư sĩ Cao Hạc Niên lên chơi núi, xin được bốn bài luận văn: Một là Tịnh Độ Pháp Môn Phổ Bị Tam Căn Luận (luận về pháp môn Tịnh Độ thích hợp trọn khắp ba căn), hai là Tông Giáo Bất Nghi Hỗn Lạm Luận (luận về chuyện không nên lẫn lộn giữa Tông và Giáo), ba là Phật Giáo Dĩ Hiếu Vi Bổn Luận (bàn về chuyện Phật giáo lấy đạo hiếu làm gốc), bốn là Như Lai Tùy Cơ Lợi Sanh Thiển Cận Luận (lời bàn thiển cận về chuyện đức Như Lai tùy theo căn cơ mà lợi lạc chúng sanh) đều được đăng trên tờ Phật Học Tùng Báo do cư sĩ Địch Bình Tử sáng lập tại Thượng Hải. Bài luận thứ nhất ký tên là Thường Tàm, đăng trên Phật Học Tùng Báo số chín, là số ra ngày Rằm tháng Hai Dương lịch năm Dân Quốc thứ ba (1914), tức là ngày mồng Hai tháng Chín Âm Lịch năm Dân Quốc thứ hai (1913) (chữ Âm Lịch và Dương Lịch ở đây không hiểu rõ, sợ bị chép lầm). Bài luận thứ hai cũng ký tên là Thường Tàm, bài luận thứ ba và thứ tư thì ký tên là Phổ Đà Tăng. Ba bài này cùng đăng trong Phật Học Tùng Báo số thứ mười.
Bốn bài luận văn này có thể gọi là “Ấn Quang đại sư chuyển pháp luân lần đầu tiên”. Từ đấy, long thiên thúc đẩy, tỏa quang minh lớn lao! Được cư sĩ Hạc Niên cho xem lá thư trên đây, không ghi rõ thời gian. Xét ra trong thư có nói: “Mùa Thu năm ngoái được các hạ mang [những bài viết ấy] đến Thượng Hải, sao ra bốn bài luận đăng tải trên [Phật Học] Tùng Báo”, quả thật lá thư trên đây được viết vào ngày mồng Tám tháng Tư Âm Lịch năm Dân Quốc thứ ba (1914). Lá thư này rất có giá trị trong lịch sử Phật giáo, chưa thấy đăng trong Văn Sao Chánh Biên lẫn Tục Biên, bèn xếp vào đây để công bố cùng cõi đời.
Biên tập viên bán nguyệt san Giác Hữu Tình Trần Pháp Hương ghi.
35. Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ hai)
Hai lần trước đến Thượng Hải đều được ông chiếu cố, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Nay nhận được thư như được gặp mặt, vui mừng, an ủi khôn sánh, biết cư sĩ chí mong lợi người, chẳng nề hà nhọc nhằn. Vì thế được Tam Tôn51 gia bị, thân tâm thường được yên ổn, an vui. Từ bữa các hạ rời đi, Quang bàn với hòa thượng Liễu Dư và ông Trần Tích Châu, nói không biết Chương Gia52 đến núi ngày nào, chỉ sợ có ông Tăng vô tri nào trong núi cứ chiếu theo lệ thường, bảo [Chương Gia đại sư] quyên góp đôi chút thì rất mất thể thống, họ bảo Quang hãy mau trở về núi để đứng ra làm chủ tiếp đón; do vậy, Ninh Ba, Quán Tông đều chưa đến được! Mồng Tám tháng Chín về đến núi, ngày hôm ấy biển sóng gió khá mạnh, Quang say sẩm ói mửa trúng gió mười mấy ngày, không được khỏe lắm! Sau đấy lại bình phục như thường. Nghe nói [các hạ] muốn đến Kê Túc53, trộm nghĩ không cần phải đi xa, chỉ cần chọn chỗ có thể an thân, tùy duyên niệm Phật là được rồi!
Đi đến núi Kê Túc, nếu theo đường biển rất tốn tiền; nếu theo đường bộ thì khổ sở chẳng thể nói nổi! Sao bằng lật ngã cột phan ngay trước cửa54, tùy thời tùy xứ gặp gỡ tôn giả Ca Diếp chẳng hay hơn ư? Tiếc cho tinh thần có
51 Tức Tây Phương Tam Thánh, đôi khi còn gọi là Di Đà Tam Tôn.
52 Chương Gia (Lcan-skya) là một trong bốn vị Đại Hô Đồ Khắc Đồ (Khutuktu: hóa thân) của Nội Mông Cổ. Vị này thuộc Tông Gelupa (Hoàng giáo, Hoàng Mạo phái) theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, thường được gọi là Chương Gia Cách Căn (Lcan-skya Gegen: Chương Gia Quang Minh). Người Mông Cổ tin Chương Gia là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát. Vị Chương Gia nói ở đây thuộc đời chuyển thế thứ mười chín (thật ra, chỉ từ đời thứ mười ba trở đi, vị hóa thân này mới có tên là Chương Gia, nên đa số các sách vở thường gọi vị này là Chương Gia Hoạt Phật đời thứ bảy. Chương Gia vốn là một địa danh tại Tây Tạng). Sư có tên là Lịch Nghinh Diệp Tích Đạo Nhĩ Tế (Ye-śes rdo-rje), còn gọi là Tang Kết Trát bố (Sans-rgyas-skyabs), sanh vào năm Quang Tự mười bảy (1891) tại Thanh Hải, lên ngôi Pháp Vương năm Quang Tự 22 (1896). Năm Quang Tự 25 (1899), theo lệnh vua Quang Tự đến Bắc Kinh hoằng pháp, phụng chỉ quản trị các chùa thuộc hệ thống Phật giáo Tây Tạng tại Bắc Kinh, Ngũ Đài như Côn Chúc, Pháp Uyên…
được sắc phong danh hiệu Quán Đảnh Phổ Thiện Quảng Từ Đại Quốc Sư. Khi Dân Quốc thành lập, Sư được mời làm ủy viên của Mông Tạng Ủy Viên Hội, kiêm nhiệm Lý Sự Trưởng hội Phật Giáo Trung Hoa. Sư từng được cử làm trưởng đoàn nghênh đón xương đỉnh đầu ngài Huyền Trang từ Nhật Bản về Trung Hoa. Sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, Sư sang Đài Loan và mất ở Đài Bắc năm 1978. Sau khi Sư mất, dòng chuyển thế này bị chấm dứt. Hòa thượng Tịnh Không từng theo học pháp với vị này khi còn là tại gia cư sĩ.
53 Núi Kê Túc (Kukkutapāda-giri) còn dịch là Kê Cước, Tôn Túc, Lang Túc, Lang Tích, là một ngọn núi thuộc nước Ma Kiệt Đà, cách Già Da (Gayā) hơn 25 km về phía Đông Bắc là nơi ngài Ma Ha Ca Diếp nhập diệt. Đại Đường Tây Vực Ký quyển chín đã mô tả: “Núi cao chót vót, hang sâu thăm thẳm không đáy, cây to phủ kín hang núi… Sau này, tôn giả Ca Diếp Ba nhập diệt nơi ấy nên [người ta] không dám gọi thẳng tên núi mà gọi là Tôn Túc”. Do tại huyện Bảo Xuyên tỉnh Vân Nam cũng có một hòn núi mang tên Kê Túc nên Phật giáo Trung Hoa đã đồng nhất núi này với núi Kê Túc tại Ấn Độ, và nơi ấy cũng được coi là đạo tràng ứng hóa của ngài Ma Ha Ca Diếp.
54 Đây là một công án Thiền (được đánh số 22) trong bộ Vô Môn Quan với nhan đề Ca Diếp Sát Can (Cột phan của Ca Diếp). Theo đó, ngài A Nan hỏi tôn giả Ca Diếp: “Ngoài y ca-sa vàng truyền lại cho ngài, đức Thế Tôn còn để lại vật gì nữa hay không?” Ngài Ca Diếp liền gọi: “A Nan!” A Nan thưa: “Dạ!”, ngài Ca Diếp bảo: “Lật đổ cái cột phan trước cửa đi” (Đảo khước môn tiền sát can). Theo ngu ý, ở đây Tổ Ấn Quang khuyên ông Cao Hạc Niên hãy lắng lòng tu tập, lãnh hội lời dạy của Tổ Ca Diếp thì chẳng khác gì ngày ngày gặp gỡ Ca Diếp tôn giả, hơn là bôn ba đến núi Kê Túc.
hạn, lo liệu sự nghiệp cuối cùng [của một đời người] là chuyện khẩn yếu bậc nhất của người cao tuổi vậy! (Ngày Rằm tháng Mười năm Dân Quốc thứ bảy - 1918)
36. Thư trả lời cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ ba)
Cách biệt từ mùa Đông năm ngoái, nào hay đã tròn một chu kỳ nóng lạnh! Quang âm vùn vụt thật đáng kinh sợ! Từ khi nhận được thư vào tháng Giêng mùa Xuân năm nay, hoàn toàn chẳng biết tin tức đích xác. Đến tháng Bảy, do sang Dương Châu khắc kinh, tìm đến thư cục ở Thượng Hải để hỏi thăm, họ nói ông đã sang tu trong lều tranh trên Thái Sơn55 rồi. Quang đoán rằng đất Tần (Thiểm Tây) loạn lạc, chẳng thể sống yên được, đến nỗi các hạ phải bỏ đi. Người Tần Xuyên từ đây trở đi không có ai dẫn dắt để được tắm gội, thấm nhuần Phật pháp nữa, lòng hết sức xót xa! Nay nhận được thư, biết ông đang ở Hoa Sơn, vẫn mong sau khi yên ổn, trở về Chung Nam56, khôn ngăn vì người đất Tần vui mừng sung sướng trước!
Quang không ra gì, đạo chẳng tăng trưởng, mắt ngày càng thêm lòa.
Năm trước khuyên ông Ưng Quý Trung bỏ tiền khắc in sách [Ngự Chế Giản Ma] Biện Dị Lục. Do cõi đời chẳng thái bình nên chậm trễ đến mùa Thu năm nay mới tới Tàng Kinh Viện, nhờ cậy chủ nhân viện ấy lo liệu. Trước hết khắc Giản Ma Biện Dị Lục (tổng cộng hơn hai trăm sáu mươi trang giấy), rồi khắc in Tam Thập Nhị Tổ Truyện (khoảng chừng sáu mươi trang). Hai cuốn sách này đều là di trước của [Thanh] Thế Tông (Ung Chánh), đều do ông Ưng Quý Trung bỏ tiền thuê khắc [ván]. Tiếp đấy, khắc in An Sĩ Toàn Thư
(khoảng sáu trăm sáu mươi, bảy mươi trang, trong ấy có tăng thêm mấy chục trang mới nữa). Sách ấy do ông Lưu Cần Phố thuộc thôn Lưu Môn, Triều Ấp tỵ nạn đến đất Thân (Thượng Hải) phát tâm bỏ tiền ra in. Vị này khá thuần hậu, thành thật, tiếc là còn kém duyên với Phật pháp, vào ngày Mười Chín tháng Chín bèn tạ thế. Nếu sống thêm được mấy năm nữa thì thiện căn Tịnh Độ sẽ được phát sanh, nẩy nở vậy. Nhưng nhờ vào công đức khắc in sách ấy, dẫu chẳng thể vãng sanh thì quả báo trong đời sau cũng sẽ chẳng đến nỗi kém
55 Thái Sơn, còn gọi là Đại Sơn, Đại Tông, Đại Nhạc, Đông Nhạc, Thái Nhạc… cùng với Hành Sơn, Hằng Sơn, Hoa Sơn, Tung Sơn hợp thành Ngũ Nhạc, tức năm ngọn núi thiêng phân định ranh giới của Trung Nguyên. Thái Sơn nằm trong tỉnh Sơn Đông, chạy dọc từ huyện Tế Nam đến tận huyện Khúc Phụ, cao đến 1.545m. Hoa Sơn (Tây Nhạc) thuộc huyện Hoa Dương, tỉnh Thiểm Tây, cao đến 2.154m.
56 Chung Nam (còn gọi là Trung Nam Sơn, Thái Ất Sơn, Địa Phế Sơn, hay Nam Sơn) là một quả núi hữu danh thuộc rặng Tần Lĩnh ở huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây, có quan hệ mật thiết với Phật giáo. Năm Kiến Đức thứ hai (573) nhà Bắc Châu, sư Pháp Tạng lên ngọn Tử Cái của núi này kết thảo am tu hành. Khi Châu Vũ Đế phế Phật, hơn ba trăm vị danh tăng đã phải ẩn cư trong núi này. Sơ Tổ Tông Hoa Nghiêm là pháp sư Đỗ Thuận cũng ẩn tu tại núi này vào thời Đường. Tổ Trí Nghiễm của Tông Hoa Nghiêm cũng hoằng dương giáo nghĩa Hiền Thủ tại nơi này. Ngài Đạo Tuyên luật sư cũng hoằng dương Tứ Phần Luật Tông tại đây (Sử sách thường gọi là Chung Nam Luật Tông, hoặc Nam Sơn Luật Tông).