Thư trả lời cư sĩ Nghiêm Văn Phác

Một phần của tài liệu Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên, (Trang 162 - 200)

Pháp danh của ba mươi chín người đều ghi trong một tờ giấy khác. Hai mươi lăm đồng hương kính đã bảo chùa Báo Quốc gởi sách cho hết số tiền

177 Pháp tệ: Khoản tiền cúng dường để làm chuyện lợi ích về mặt hoằng pháp như in kinh, tượng, cứu giúp dân chúng bị nạn…

ấy. Độ ba bốn ngày nữa sẽ gởi tới. Từ rày chớ nên gởi thư đến nữa, gởi đến sẽ gởi trả lại. Quả thật chẳng có mục lực và tinh thần, chứ không phải chẳng đếm xỉa tình cảm. Ông viết tên người [xin quy y] trên giấy đỏ tôi đọc không ra, phải bảo người khác sao [ra tờ giấy khác] mới xem được. Ông tuổi trẻ chẳng biết nỗi khổ của người già, viết trên giấy đỏ rốt cuộc có ích lợi gì đâu?

Nay đem [tờ giấy ghi] pháp danh gởi bằng thư bảo đảm. Đợi cho sách Tây Phương Công Cứ, Sơ Cơ Tiên Đạo được gởi đến sẽ chia ra gởi đi (Ngày Mười Ba tháng Mười năm Dân Quốc 27 - 1938).

100. Thư trả lời cư sĩ Hồ Huệ Triệt (thư thứ nhất)

Ba vị lão nhân xin quy y, ông hãy nên bảo họ: “Phải nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chớ nên chỉ biết gieo thiện căn, cầu phước báo đời sau. Sanh về Tây Phương liền liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Cầu đời sau thì sẽ do phước tạo nghiệp, do nghiệp đọa lạc trong tam đồ ác đạo”.

Những điều còn lại hãy chiếu theo bức thư dài, ở đây không viết cặn kẽ!

Thiệu Cát Thành pháp danh là Huệ Thành, bà Trương Lập Chí nhà họ Thiệu pháp danh là Huệ Lập. Kẻ có chí, sự ắt thành. Tự lập được thì không có gì chẳng tốt đẹp. Bà Phùng Tu Thành nhà họ Trương, pháp danh là Huệ Tu.

Nương theo trí huệ của đức Phật mà tu thì chắc chắn sẽ có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này. Sanh lòng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là cái được gọi bằng [từ ngữ] “trí huệ của Phật” đấy! Xin hãy nói với bọn họ [những điều này]. (Ngày Hai Mươi Hai tháng Mười Một năm Dân Quốc 22 - 1933, viết dưới đèn)

101. Thư trả lời cư sĩ Hồ Huệ Triệt (thư thứ hai)

Ở Nam Thông, thói cầu cơ rất phổ biến. Giang Dịch Viên bị [linh quỷ]

giáng cơ khen ngợi đến nỗi đầu óc mê muội. Đã thế, ông ta còn đem lời giáng cơ hiệu triệu khắp bốn huyện Thông, Hải, Khải, Như; ý ông ta còn muốn hiệu triệu cả nước. Các ông đừng bị ông ta lung lạc. Chánh nhân quân tử trong thế gian còn chẳng chịu khen ngợi người khác quá lố, huống là bậc thánh nhân đắc đạo ư? Cơ bút đều là do linh quỷ giả mạo (Trong một trăm trường hợp có đến chín mươi chín trường hợp [giả mạo]). Hơn nữa, quá nửa là do kẻ phù cơ ngụy tạo. Dịch Viên do ham được ca ngợi mà mê muội đến tột cùng, rốt cuộc coi lời giáng cơ như thánh chỉ. Nếu chẳng ham được khen ngợi, sẽ coi những gì mình được khen ngợi giống như bị quở trách thì đâu đến nỗi mất trí điên cuồng, chân - ngụy, tà - chánh chẳng phân? Xin hãy nói với các liên hữu, ngõ hầu chẳng đến nỗi hoại loạn Phật pháp, gây nghi ngờ lầm lạc cho chúng sanh không có cùng tận vậy! (Ngày Hai Mươi tháng Năm năm Dân Quốc 28 - 1939)

Lợi ích thật sự do niệm Phật chỉ có bậc đại trí huệ và ngu phu ngu phụ có thể đạt được. Những kẻ tưởng chừng như có trí huệ, chẳng muốn làm ngu phu ngu phụ đều chẳng thể đạt được! Như Dịch Viên thoạt đầu tri kiến còn khá, đề xướng khá tha thiết, nhiều lần có cảm ứng. Nay chánh tri kiến đã không còn, chuyên muốn đem thầy ông ta là Tường Công thờ trong Liên Trì Hải Hội để báo ân. Do món vật tư dục ấy ngăn chướng cái tâm, chánh tri chánh kiến bèn biến thành tà tri tà kiến! Nếu chẳng mau chóng sửa đổi thì trong tương lai cũng không có cách gì vãng sanh được! Muốn theo sau Từ Khâu, Nguyện Nguyệt, e rằng cũng không có cách gì để đạt được. Tờ bán nguyệt san tôi chưa hề thỉnh để xem đọc qua. Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ. Phàm những sách báo không quan trọng khẩn yếu đều chẳng đọc, do không có mục lực để làm chuyện ấy!

102. Thư trả lời cư sĩ Hồ Huệ Triệt (thư thứ ba)

Hãy hết sức răn nhắc xã hữu đừng nhiễm phong cách si dại của Dịch Viên. Nếu không, sẽ trở thành ngoại đạo trong Phật pháp, đâm ra phá hoại Phật pháp, làm cho chúng sanh lầm lạc, nghi ngờ trọn chẳng cùng tận! Dịch Viên hèn kém cùng cực đến mức như thế chính là điều Quang trọn không thể nào lường được! Bệnh ấy là do ham đội mũ cao và tưởng Trương Kiển178 là Bồ Tát, chẳng tự biết toàn thân đã té trong hầm phân, há đáng gọi là thanh tịnh, thơm sạch được ư? Hãy nên tha thiết răn dạy con cháu biết tốt - xấu, kẻo sau này chúng không hiểu sẽ tưởng tà là chánh, coi thối là thơm.

Hiện tại vận nước nguy ngập, thiên tai, nhân họa liên tiếp xảy ra, hãy nên bảo hết thảy mọi người cùng niệm Phật hiệu và danh hiệu Quán Thế Âm để làm kế dự phòng (Ngày mồng Hai tháng Bảy năm Dân Quốc 28 - 1939)

103. Thư trả lời cư sĩ Hồ Huệ Triệt (thư thứ tư)

Thư ngày mồng Sáu tháng Ba chưa nhận được. Bà Châu Xảo Trinh nhà họ Mã có thể nói là có thiện căn đời trước; đấy là những chuyện có chứng cứ đích xác, cần gì Quang phải làm chứng? Nếu không có tướng lành để làm căn cứ [chứng nghiệm sự vãng sanh] thì xin chứng minh còn được. Nay đã có chuyện thần hồn du ngoạn cõi Tịnh Độ, lại được Quán Âm báo kỳ hạn vãng sanh, mà vẫn cầu chứng thì thành ra tri kiến của kẻ chẳng biết pháp môn Tịnh Độ rồi! Xin hãy gởi [chuyện này] cho Phật Học Thư Cục để họ

178 Trương Kiển (1853-1926), tự Quý Trực, hiệu Tường Am, người trấn Thường Lạc, huyện Hải Môn, từng đỗ Trạng Nguyên cuối đời Thanh vào năm 1894, được bổ làm Hàn Lâm Đương Tu Soạn. Ông tích cực chủ trương đường lối kinh tế thực tiễn để giúp dân làm giàu và cứu vớt người nghèo, nâng cao dân trí, lập ra nhiều xí nghiệp, được coi là một trong những nhà tư bản tiên phong của Trung Hoa. Ông lập ra trường đại học Sư Phạm dân lập Nam Thông là ngôi trường đào tạo giáo viên theo đường lối dân tộc, thực tiễn, cũng như góp phần thành lập trường Cao Đẳng Sư Phạm Nam Kinh.

đăng tải trên tờ bán nguyệt san, tài liệu chánh yếu của họ mang tánh chất khác với tờ báo Tân Thân.

Tuy nhiên, hoằng dương Phật pháp thì phải chú trọng nơi chân thật chẳng hư vọng. Nếu tùy ý tô vẽ thì lỗi ấy cũng chẳng nhỏ nhoi đâu! Vì sao vậy? Vì sẽ khiến cho người ta do chuyện tô vẽ này mà nói những người vãng sanh xưa nay đều là không thật. Nếu xác thật không ngụy tạo thì đăng tải chẳng trở ngại gì! Nếu không, hãy gạt bỏ những chuyện tô vẽ, chỉ đăng tải những chuyện thuộc về bản chất. Nếu không có căn cứ trọng yếu, hãy nên thủ tiêu đi. Đối với chuyện quy y thì đã sanh về Tây Phương, dự vào địa vị thánh, thân cận Tam Thánh, còn quy y phàm Tăng làm chi nữa? Quang một mực chẳng thích người khác giả vờ! Nếu chân thật chẳng dối trá, cố nhiên nên đăng báo. Nếu không, kẻ viết bài văn ấy phạm tội lỗi, mà người chết cũng trọn chẳng được hưởng lợi ích gì! (Ngày Hai Mươi Tám tháng Ba năm Dân Quốc 29 - 1940)

104. Thư trả lời cư sĩ Vạn Lương (thư thứ nhất)

Quang là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, vô tri, vô thức, bị ép vào thế bất đắc dĩ, đành đem những gì chính mình biết, chính mình làm được, thưa với người khác; nào đáng khen ngợi quá lố như thế? Văn Sao, Thọ Khang Bảo Giám trên núi đã hết, sau mấy bữa nữa sẽ bảo người bạn ở Thượng Hải thay mặt gởi đi. Nói đến chuyện quy y, sao không chọn bậc đạo đức cao siêu, mà lại thờ ông Tăng già cả, ngu độn, hủ bại, [ngờ nghệch] như con rối làm thầy? Tuy vậy, muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, hoàn toàn cậy vào lòng Thành của chính mình. Nay do ông đã thờ ông Tăng [ngây ngô]

như con rối làm thầy, thì cần biết rằng: Tuy con rối không có điểm nào hay, nhưng cũng không có điểm nào dở. Bởi nó không có lòng riêng tư, tâm mưu mẹo, nên con rối cũng có chỗ để học theo. Những gì chưa thể cùng người khác đánh giá, quyết định được, hãy nhất loạt bỏ đi.

Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Lương, nghĩa là dùng trí huệ để làm cầu bến trong đường hiểm sanh tử, khiến cho khắp hết thảy [mọi người]

thoát ngay đường hiểm, lên được chỗ an ổn. Hiện nay thế đạo bại hoại đến cùng cực, xét đến căn nguyên đều do gia đình không khéo dạy dỗ. Từ nhỏ trọn chẳng đem đạo lý làm người dạy bảo, huống là những sự lý phước thiện, họa dâm, nhân quả, báo ứng v.v… ư? Vì thế, những kẻ ấy vừa nghe tà thuyết bèn nương theo, cố nhiên coi chuyện giết cha gian dâm mẹ là bổn phận chánh đáng! Nếu không [tệ hại] như thế thì khi có được quyền thế, địa vị, cũng sẽ mặc tình làm càn, gây thảm độc cho thiên hạ. Không có được quyền lực ấy thì kết đảng hoành hành, gây lụy cho địa phương! Nguồn gốc đều là do không được cha mẹ hiền khéo dạy dỗ mà ra! Vì thế, nói: “Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm”.

Nhưng con người từ lúc mới sanh chịu ảnh hưởng rất sâu từ mẹ. Do vậy, phải có hiền mẫu thì mới có hiền nhân, mà hiền mẫu phải khởi đầu từ hiền nữ. Vì thế, muốn cho thiên hạ thái bình, ắt phải bắt nguồn từ dạy dỗ con cái, nhưng dạy con gái lại càng khẩn yếu hơn dạy con trai vì nữ nhân có thiên chức giúp chồng dạy con. Từ xưa, những bậc thánh hiền [được thành thánh hiền] đều nhờ có mẹ hiền, huống là những kẻ tầm thường kém cỏi ư? Nếu không có hiền nữ sẽ không có hiền thê, hiền mẫu. Đã không có hiền thê, hiền mẫu thì những kẻ được [người nữ ấy] giúp đỡ, dạy dỗ đều thành kẻ ác hết, đều ngăn trở điều lành! Đấy chính là cội nguồn khiến cho nước ta nước không ra nước, dân chẳng thành dân vậy! Ông muốn hoằng pháp, hãy nên lấy “giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành” làm tông chỉ chủ yếu, lại còn đề xướng nhân quả, báo ứng, sanh tử, luân hồi để hết thảy mọi người biết được khổ nhân, khổ quả. Lại còn làm cho họ sanh lòng tin, phát nguyện, trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương để mong đích thân chứng được nhân vui, quả vui. Những điều khác đã nói cặn kẽ trong Văn Sao, ở đây không ghi đầy đủ nữa! Gởi đến một gói Gia Ngôn Lục, sách này giản lược, rất hợp cơ nghi (Ngày mồng Một tháng Sáu năm Dân Quốc 17 - 1928)

105. Thư trả lời cư sĩ Vạn Lương (thư thứ hai)

Cổ nhân nói: “Do đất mà té, do đất mà đứng dậy, rời khỏi đất mà mong đứng được thì quyết chẳng có lẽ ấy”. Nay thế đạo loạn lạc đến cùng cực, bỏ hiếu, bỏ luân thường, vứt bỏ hổ thẹn, đúng là muốn cho con người trọn chẳng khác gì cầm thú thì mới sướng bụng. Nguyên do đều là vì Lý Học bài bác những chuyện nhân quả, tội phước, báo ứng và sanh tử luân hồi.

Đấy chính là cội rễ chung của sự loạn lạc hiện thời. Điều khiến cho cội rễ [loạn lạc] ấy được nẩy nở xum xuê chính là vì trong gia đình không khéo dạy dỗ, trong nhà trường chỉ biết học theo lối cử nghiệp, cầu công danh, trọn chẳng nhắc đến chuyện “đánh đổ những ham muốn xằng bậy để khôi phục lễ nghĩa, thành ý, chánh tâm” v.v… Vì thế, người đọc sách quá nửa đều là mưu mẹo, dối trá; mãi cho đến gần đây, gió Âu vừa thổi qua thì những kẻ chưa được khéo dạy ấy ai mà chẳng buông lung, hớn hở? Do vậy, giết cha dâm mẹ vẫn tự khoe khoang. Những thói xấu ác ấy đều do chẳng giảng đến luân thường, thiên chức của cha - con, chồng - vợ v.v… và chẳng bàn đến nhân quả, báo ứng, cho nên các thói xấu ấy càng đặc biệt lừng lẫy mạnh mẽ!

Nếu ai nấy chú trọng luân thường, hiếu hữu v.v…và biết thiện - ác đều có báo ứng, dẫu đem cái chết để uy hiếp, buộc phải làm những chuyện giết cha, dâm mẹ v.v… cũng chỉ đành mặc cho chúng nó giết, quyết chẳng chịu làm theo lời bọn ấy. Do vậy, biết rằng: Thiên hạ loạn lạc là do gia đình không khéo dạy dỗ và chẳng nói đến nhân quả báo ứng mà ươm thành. Biết bao người thuộc giới chánh khách, quân sự, giáo dục, hỏi đến nguồn gốc

loạn lạc và nguồn gốc để thái bình đều đáp không được! Tức là chẳng biết cái nhân gây ra té ngã mà cũng chẳng biết cái nhân để đứng dậy. Ông đã nhận lãnh chức vụ Ủy Viên Học Vụ, trước hết hãy nên đem ý này nói với hết thảy học sinh và hết thảy mọi người, rồi mới lại dạy họ nương theo Ngũ Giới Thập Thiện do Phật dạy và pháp môn Tịnh Độ để tu trì thì sẽ dễ cảm hóa, chẳng đến nỗi bị phản đối không chấp nhận. Nếu không, bọn họ sẽ khó thuận theo, do bọn họ vẫn còn coi trọng Lý Học và những ngôn luận mù quáng trong thời gần đây, làm sao có thể khiến cho họ vui lòng thật sự khâm phục cho được?

Nhóm Trần Bằng Côn đã muốn quy y thì nay tôi đặt pháp danh cho mỗi người. Hãy nên bảo bọn họ ai nấy giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, trước hết làm người lành trong thế gian, rồi lại tu trì theo pháp môn Tịnh Độ, sẽ đáng gọi là Phật tử thật sự! Nếu không, chỉ hữu danh vô thực, rốt cuộc có ích gì đâu? Trần Bằng Côn pháp danh là Huệ Siêu, Lưu Thao pháp danh Huệ Tiềm, Dương Phụng Nghi pháp danh Huệ Thục, Mậu Bành Thị pháp danh Huệ Trinh. Những sách đã in không còn bao nhiêu, đợi sau này in ra sẽ châm chước gởi cho mấy gói, như Gia Ngôn Lục, Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú v.v… (Ngày mồng Chín tháng Mười năm Dân Quốc 17 - 1928)

106. Thư trả lời cư sĩ Vạn Lương (thư thứ ba)

Thư nhận được đầy đủ. Pháp danh của ba người được viết trong một tờ giấy khác, từ rày đừng gởi thư đến nữa, mà cũng đừng giới thiệu người khác quy y do không có mục lực để thù tiếp! Gởi đến cũng không trả lời. Bản thảo cuốn Gia Đình Giáo Dục Tùng Thư ngàn muôn phần xin đừng gởi tới.

Nếu gởi tới sẽ đem gởi trả lại ngay vì Quang mục lực cực suy. Ngay như để trả lời lá thư này còn phải dùng cả kính lão lẫn kính lúp mới gắng gượng xem thư, trả lời. Vị sư thay Quang giảo chánh, đối chiếu (xét ra vị này chính là lão pháp sư Đức Sâm) do trong năm trước, chánh quyền Cám Châu (Giang Tây) muốn diệt chùa Thọ Lượng của thầy ấy (hủy phá ngôi chùa cực cổ) để mở đường, mở ngôi chợ bán rau nhỏ, nên thầy ấy đã hướng đến những vị tai to mặt lớn trong giới quân đội, chánh trường để cầu cứu. Chánh phủ lại ép buộc phải xây dựng ngay; nếu không, sẽ vẫn phế bỏ, thầy ấy bèn kiệt lực lo liệu hòng [nhà chùa được] khôi phục.

Năm ngoái, sau khi quân đội đã rút đi, chuyên viên [quy hoạch] trong khu ấy bèn lên kế hoạch giải quyết dứt điểm, trình công văn lên Trung Ương, đưa kế hoạch trưng thu toàn bộ tài sản nhà chùa. Trung Ương ra lệnh trưng thu tám phần mười. Chùa miếu nằm trong khu vực bị đóng quân đã trống rỗng như chùi, trọn không có tài sản tích cóp, lại bị trưng thu tám phần mười thì Tăng sẽ chết đói hết sạch. [Sư Đức Sâm] lại cậy những vị tai to mặt lớn các giới trình công văn, nhưng tin tức nhất loạt chẳng thông vì kẻ thừa

Một phần của tài liệu Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên, (Trang 162 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(274 trang)