ĐÌNH TÂY ĐỆ NHỊ

Một phần của tài liệu Chùa Tháp - Đền Trần ở tỉnh Nam Định: Phần 2 (Trang 47 - 57)

(Tây Điện)

Đình Đệ Nhị toạ lạc ở đầu thôn Đệ Nhị, xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, có vị trí là trung tâm của xã, sát đường hên xã nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy giá tn.

Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến chợ Viềng (4 km). Đến đây rẽ phải theo đường trục xã khoảng 500m là tới di tích.

Đình Tây Đệ Nhị thờ tướng Lư Cao Mang (1248 - 1328).

Ông là một trong những vị tướng giỏi dưới quyền của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, đã lập nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285). Trước và trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285), Lư Cao Mang được Hưng Đạo đại vương chọn làm tuỳ tướng thân cận theo giúp việc đón tiếp sứ Nguyên, điều hành quân đội ở lộ Hải Đông (Quảng Ninh), chống giặc ở Gia Lâm (Hà Nội), Trường Yên (Ninh Bình), bảo vệ hoàng tộc nhà Trần trong những lần rút lui và phản công chiến lược.

Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ 3 (1288), Lư Cao Mang trực tiếp điều quân tại Hưng Yên, phản công địch giành nhiều thắng lọi. ô n g cùng

các tướng Nguyễn Địa Lô, Nguyễn Chế Nghĩa, dưới sự chỉ huy của Điện suý Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão đánh giặc ở Bạch Đằng, giúp vương triều Trần tổ chức kháng chiến thắng lợi. Sau đó, ông lại được nhà Trần cử đi trấn giữ các vùng sung yếu như Lạng Sơn, Chi Lăng, giữ yên bờ cõi.

Thời gian làm quan tại phủ Thiên Trường, cũng như sau này khi về sinh sống cùng vợ con tại Như Thức (Mỹ Thắng - Mỹ Lộc), ông vẫn thưcmg xuyên qua lại giúp đỡ nhân dân Đệ Nhị, Như Thức và các làng xã phụ cận hành cung Thiên Trường phát triển sản xuất, làm thuỷ lợi, tạo dựng đền - chùa, giữ gìn thuần phong mỹ tục cho quê hương.

Việc thờ tự tướng Lư Cao Mang tại đình Tây Đệ Nhị (Mỹ Trung) cùng các di tích khác như: Đình Đồng Mai (Mỹ Trung), đình Bái (Lộc Vượng), đình La, đình Hóp, đền Lộc Quý (Mỹ Phúc) cho thấy rất có thể đây là những địa bàn liên quan đến hoạt động quân sự của tướng Lư Cao Mang. Tại đây, ông đã tập hợp lực lượng, huy động nhân lực, vật lực xây dựng phòng tuyến bảo vệ hành cung Thiên Trường và hoàng tộc nhà Trần trong những lần rút lui và phản công chống quân Nguyên - Mông.

Ngoài thờ tướng Lư Cao Mang, di tích còn phối thờ Dũng Dược đại vương, công chúa Lý Chiêu Hoàng và tướng quân Lê Phụ Trần. Trước đây Dũng Dược đại vương (vị tướng thời Hùng vương) được thờ ở đình Đông Đệ Nhị. Do việc xây dựng một số công trình phúc lợi của địa phương nên đình Đông Đệ

Năm 1237, Lý Chiêu Hoàng bị giáng xuống làm công chúa và được sắp đặt kết duyên cùng tướng quân Lê Phụ Trần.

Tướng quân Lê Phụ Trần tên thật là Lê Tần. Do ông có nhiều công lao đóng góp với đất nước nên được vua Trần ban họ quốc tích, đổi là Lê Phụ Trần. Tương truyền, sau khi Lý Chiêu Hoàng kết duyên cùng tướng quân Lê Phụ Trần, hai ông bà đã về sinh sống tại cung Đệ Nhị (Mỹ Trung) cho tới khi mất. ô n g bà thường cấp tiền bạc, ruộng đất giúp đỡ nhân dân Đệ Nhị ổn định cuộc sống. Sau khi ông bà qua đời, nhân dân lập miếu thờ, sau này rước về phối thờ tại đình Tây Đệ Nhị cùng tướng Lư Cao Mang.

Đình Tây Đệ Nhị toạ lạc trên một khu đất cao ráo thoáng đãng, trước mặt là dòng sông Vĩnh Giang. Phía bắc đình còn có chùa Đệ Nhị nơi thờ Lệ Trinh nguyên phi, Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu (mẫu hậu của vua Trần Nhân Tông),

Ngôi đình kiến trúc gồm 2 toà có mặt bằng xây dựng kiểu chữ đinh. Toà tiền đường 3 gian 2 chái có kích thước dài 13,8m, rộng 5,8m. Bộ khung toà tiền đường được tạo bởi 4 vì kèo thiết k ế kiểu thượng chồng rường hạ kẻ truyền. Hai vì đầu hồi thiết k ế kiểu kẻ moi trụ lửng. Các cấu kiện kiến trúc tại tiền đường đều được chạm khắc hoa văn cánh sen, lá lật mang phong cách thời Nguyễn. Nâng đỡ hệ thống vì kèo là bộ khung lim 4 hàng chân cột, gồm 8 cột cái và 8 cột quân. Tất cả các chân cột được kê trên chân tảng đá chạm khắc cánh sen. Cung cấm của đền gồm 3 gian xây quay dọc nối mái với tiền đường có kích thước dài 6,25m, rộng 3,65m. Bộ khung công trình làm bằng gỗ lim kiểu 4 hàng chân cột, hệ thống vì làm kiểu mê cốn

Theo thống kê, đình Tây Đệ Nhị còn lưu giữ được:

- Câu đối: 06 - Đại tự: 06

- Sắc phong: 07 (Niên hiệu: Cảnh Hưng 44 (1783), 2 đạo Thiệu T ậ 6 (1846), Duy Tân 6 (1909) và 3 đạo Khải Định 9 (1924))

- Chuông: 01 niên đại Thành Thái 13 (1901)

- ĐỒ thờ khác: 54. Tiêu biểu nhất trong hệ thống di vật, cổ vật của di tích là: Bức đại tự “Tâm như nhật nguyệt” (tấm lòng thanh tao trong sáng như mặt trăng, mặt trời) được làm năm Bảo Đại 12 (1937); hệ thống cửa võng tại gian giữa tiền đưòĩig và hệ thống nhang án tại toà tiền đường. Đó là những hiện vật được đục chạm công phu với nhiều đề tài rất sinh động.

Hàng năm vào các ngày kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của các vị thần làng, nhân dân địa phương đều tổ chức tế lễ để tỏ lòng biết ơn những người đã có công vói dân với nước. Trước đây lễ hội được tổ chức với quy mô khá lớn, với nhiều nghi thức. Hiện nay chủ yếu là các nghi thức đơn giản như dâng hương, rước, tế vào các ngày 15 tháng 2 và 14, 15 tháng 8 âm lịch.

ĐÌNH TÂY ĐỆ TAM

Đình Tây được xây dựng về phía tây thôn Đệ Tam, xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc. phía trước là đình Văn Hưng và nhà thờ họ giáo, cách thành phố Nam Định khoảng 4km về phía đông bắc. Xung quanh di tích có các di tích: Đền Hậu Bồi, Lựu Phố và đền Trần, chùa Tháp do vậy sẽ tạo thành một quần thể di tích văn hoá Trần thu hút đông đảo khách tham quan nghiên cứu di tích.

Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông khoảng 4 km đến cầu Viềng xã Mỹ Phúc, sau đó đi rẽ trái khoảng 500m là tới di tích.

Đình Tây Đệ Tam thờ Sứ quân Trần Lãm (Trần Minh Công). Sử cũ chép, Trần Lãm vốn quê ở Quảng Đông (Trung Quốc) dời về phương nam vào thời Ngô vương (939 - 944) cùng gia đình làm nghề đánh cá tại cửa biển Bố Hải (Thái Bình).

Năm 944, Ngô vương mất, đất nước dần roi vào tình cảnh loạn ly, chia cắt. Lúc này tại Bố Hải Khẩu (Thái Bình), Trần Lãm tập hợp lực lượng đắp thành xây dựng căn cứ kháng chiến. Ông tự xưng là Trần Minh Công và trở thành một trong 12 sứ quân cát cứ. Khi Đinh Bộ Lĩnh dấy binh dẹp loạn, ông đã đem toàn bộ lực lượng theo giúp Đinh Bộ Lĩnh và được Đinh Bộ Lĩnh tôn làm nghĩa phụ. Sau khi lên ngôi vua, Đinh Tiên Hoàng đã tôn nghĩa phụ Trần Lãm làm Giám quốc đại vương.

Đình Tây Đệ Tam thờ Sứ quân Trần Lãm với ý nghĩa tưởng nhớ lúc sinh thời ông đã về đây chiêu mộ dân binh, quyên góp lương thực để dấy binh dẹp loạn, giúp nhân dân địa phương ổn định đời sống. Việc thờ tự Sứ quân Trần Lãm tại đình Tây Đệ Tam và các di tích: Đình Đông Đệ Tam, đình Văn Hưng, đình Liễu Nha (Mỹ Phúc), đình Thanh Khê (Mỹ Trung) và đình Đệ Tứ (Lộc Hạ) đã gián tiếp khẳng định vai trò và vị trí của vùng đất Nam Định đối với sự nghiệp thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh thế kỷ X.

Ngoài thờ Sứ quân Trần Lãm, đình Tây Đệ Tam còn thờ tướng Trần Dũng Lược. Theo cuốn thần tích “Đinh triều gia tướng Chiêu linh hiển ứng Dũng Lược đại vương ” hiện lưu giữ tại di tích thì Trần Dũng Lược sinh ra và lớn lên tại làng Đệ Tam, sau này theo phò giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và lập nhiều công lao. Khi ông mất, được nhân dân địa phương suy tôn là Bản cảnh thành hoàng. Các triều đại phong kiến về sau sắc phong cho ông là: Chiêu linh hiển ứng Dũng Lược đại vương.

Sang thế kỷ XIII, Đệ Tam là vùng đất thuộc hành cùng Thiên Trường của nhà Trần. Cùng với hàng loạt các cung điện khác, cung Đệ Tam được xây dựng dành cho cho các hoàng thân quốc thích. Hiện nay, tại đình Tây Đệ Tam còn lưu giữ bài vị thờ Lệ Trinh nguyên phi, thiếp yêu của Hoàng đế Trần Thái Tông. Ngọc phả và truyền thuyết địa phương cho biết, sau khi Lệ Trinh nguyên phi mất, nhân dân các làng Phù Nghĩa (Lộc Hạ), Đệ Nhị (Mỹ Trung), Đệ Tam (Mỹ Phúc) lập miếu

dân quanh vùng phương thức làm ăn, tạo lập nên những làng quê trù phú.

Đình Tây Đệ Tam được xây dựng trên một khu đất rộng 3250m^, xa khu dân cư. Tổng thể di tích gồm: Đình nằm chính giữa, bên phải là miếu thờ Lệ Trinh nguyên phi, bên trái là giải vũ.

Đình Tây quay hướng đông, mặt bằng làm kiểu tiền nhất hậu đinh. Toà tiền đường 5 gian, rộng 13,5m, sâu 6,5m. Ba gian giữa lắp cửa bức bàn. Bộ khung toà tiền đường làm bằng gỗ lim với 12 cột cái, 12 cột quân, hệ thống vì nóc làm kiểu chổng rường giá chiêng, vì nách phía trước làm kiểu kẻ trường, vì nách phía sau làm kiểu chồng rường bẩy kẻ. Đặc biệt trên các ván bưng các ô thông phong phía trong 3 gian giữa tiền đường còn lưu giữ được mảng chạm khắc tứ linh, hoa lá mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê thế kỷ XVII.

Trung đường và hậu cung xây hình chữ đinh. Toà trung đưcmg 3 gian rộng 6,5m, sâu 5,5m. Có kết cấu khung bằng gỗ lim, vì kèo kiểu thượng kèo cầu hạ quá giang. Chạm khắc tại đây đơn giản.

Cung cấm một gian xây nối liền với trung đường, xây mái chảy lợp ngói nam, diện tích khoảng 9m^. Tại đây đặt khám và tượng thờ Trần Minh Công.

Theo thống kê, đình Tây Đệ Tam còn lưu giữ được:

- Câu đối: 03 - Đại tự: 03

- Sắc phong: 05 (Niên hiệu; Tự Đức 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1 8 8 ồ , Khải Định 2 (1917), 2 đạo Khải Định 9 (1924))

- Tượng thờ: 01 (tượng thờ Trần Minh Công).

- Đồ thờ khác: 54. Tiêu biểu nhất là bản thần tích “Đinh triều gia tướng Chiêu linh hiển ứng Dũng Dược đại vưoíig” đưọíc soạn lại vào năm Tự Đức 12 (1859).

Lễ hội truyền thống tại di tích tổ chức vào ngày 10 tháng 4 âm lịch. Đây là ngày hội có quy mô lớn nhất trong năm. Bên cạnh các nghi thức rước, tế lễ, dân làng còn tổ chức các trò chơi như; Đấu vật, chọi gà, tổ tôm điếm.

ĐÌNH TỨC MẶC

Đình Tức Mặc nằm ở trung tâm của phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Di tích kề sát trụ sỏ Uỷ ban nhân dân phường, trong khuôn viên rộng rãi rất thuận tiện cho việc tham quan nghiên cứu.

Từ thành phố Nam Định theo đường Trần Thái Tông đến cầu Sắt rẽ trái khoảng 700m là tới di tích.

Thần tích và truyền thuyết địa phương cho biết, đình Tức Mặc thờ thành hoàng Thục Côn công chúa, tên huý là Phạm Thị Côn. Bà là vị tướng có công theo Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Hán xâm lược giành lại nền độc lập cho dân tộc từ những năm 40 - 43 (sau công nguyên). Địa bàn Tức Mặc xưa là nơi bà mộ quân để tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Làng Tức Mặc là trung tâm của hành cung Thiên Trường xưa, là quê hương của nhà Trần.

Công trình kiến trúc: Đình làm quay về hướng nam theo kiểu chữ đinh gồm tiền đường 5 gian 2 chái, cung cấm 2 gian.

Tiền đường 5 gian, bộ khung làm bằng gỗ lim kiểu bốn hàng cột, hệ thống vì kèo gồm 6 bộ gia công kiểu câu đầu chồng rường, kẻ trường.

Cung cấm 2 gian thiết kế kiểu tiền đao hậu đốc. Nối giữa tiền đưòfng với cung cấm là một sân nhỏ, rộng l,2m, dài 3m lát bằng gạch đỏ. Hai gian cung cấm mái bê tông gắn ngói nam.

Đây là nơi thờ Thục Côn công chúa.

Giải vũ 5 gian, mái ngói tây, vì kèo quá giang đo(n giản.

Theo thống kê, đình Tức Mặc hiện còn lưu giữ:

- Câu đối: 09 - Đại tự: 03

- Bia thờ: 02 (Niên hiệu: Đức Nguyên 2 (1675) và 1 bia không rõ niên đại.).

- Đồ thờ khác: 36

Ngày 24 tháng 4 âm lịch hàng năm là ngày chính kỵ của thành hoàng Phạm Thục Côn. Đây là ngày lễ lớn nhất trong năm, nhân dân địa phương tổ chức rước kiệu quanh làng.

Trước năm 1945, vào ngày hội, dân làng còn tổ chức các trò chơi dân gian như: Bơi chải, chọi gà, kéo co, đấu vật. Hiện nay chỉ còn rước tế với quy mô nhỏ.

Ngoài ra cứ ba năm một lần nhân dân làng Tức Mặc cùng nhân dân làng Thượng Lỗi tổ chức rước tế giao hiếu vào ngày 24 tháng 11 (âm lịch).

Vào dịp lễ hội Trần 20 tháng 8(âm lịch) và lễ khai ấn 14 tháng giêng, nhân dân tổ chức rước kiệu về đền Trần.

Một phần của tài liệu Chùa Tháp - Đền Trần ở tỉnh Nam Định: Phần 2 (Trang 47 - 57)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(113 trang)