III- CÁC YẾU TỔ CHỦ YẾU CẤU THÀNH MỘT SẮC THUÊ
3- Đối tượng chịu thuế
Đối tượng làm căn cứ để đánh thuế chính là đối tượng chịu thuế.
Căn cứ đánh thuế có thể là thu nhập, hàng hóa hay tài sản, do đó đối tượng chịu thuế cũng có thể là thu nhập, hàng hóa hoặc tài sản. Ví dụ đối với thuế giá trị gia tăng thì đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của Luật thuế GTGT. Đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp là đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp...
4- Căn cứ tính thuế.
Luật thuế quy định mức thuế phải nộp Ngân sách Nhà nước được xác định trên căn cứ nào. Thông thường, mức thuế phải nộp đối vói từng sắc thuế được xác định dựa vào hai căn cứ sau:
4.1- Cơ sở tính thuế.
Cơ sở tính thuế là một trong những căn cứ để xác định mức thuế phải nộp. Cơ sở tính thuế có thể được tính theo đơn vị vật lý hay theo đơn vị giá trị. Môi sắc thuế có một cơ sở tính thuế riêng. Chẳng hạn như thuế tiêu thụ đặc biệt có cơ sở tính thuế là giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp có cơ sở tính thuế là thu nhập chịu thuế, còn thuế sử dụng đất nông nghiệp có cơ sở tính thuế là diện tích và hạng đất.
4.2- Mức thuế, thuế suất.
Mức thuế, thuế suất là linh hồn của một sắc thuế, thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế. Vì vậy, việc xác định mức thuế, thuế suất trong một luật thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi ữọng lợi ích
21
chung của quốc gia, vừa phải chú ý thích đáng đến lọi ích của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế.
4.2.1- Mức thuế.
Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế. Trong ngôn ngữ luật thuế người ta gọi mức thuế phải nộp trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế là định suất thuế. Ví. dụ định suất thuế sử dụng đất nông nghiệp trên một hécta (ha) đất trồng cây hàng năm hạng I là 550kg thóc/năm. Thuế môn bài bậc một là 850.000 đồng/năm.
4.2.2- T h uế suất.
Thuế suất biểu hiện quan hệ tỷ lệ phần trăm huy động trên cơ sở tính thuế. Thuế suất bao gồm:
T h u ế suất ổn định là loại thuế suất cố định không thay đổi trong mọi trường hợp tăng, giảm của cơ sở tính thuế. Ví dụ thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh vũ trường, masage, karaoke là 20%, kinh doanh casino, trò chơi bằng máy jackpot là 25%...
T h u ế suất lũy tiến là thuế suất tăng theo mức tăng của cơ sở tính thuế. Thuế suất lũy tiến bao gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và thuế suất lũy tiến từng phần.
T h u ế suất lũy tiến toàn phần là thuế suất tăng trên toàn bộ phần tăng của cơ sở tính thuế.
T h u ế suất lũy tiến từng phần là thuế suất tăng trên từng phần tăng của cơ sở tính thuế.
V í dụ: Trích biểu thuế thu nhập đối vói người có thu nhập cao đối với công dân Việt Nam ở trong nước và cá nhân khác định cư ở Việt Nam
Bậc Thu ríhậpbìhh quâíì thang n iu ế s u ấ t ( % )
1 Đến 3.000.000 đ
í •• • : r " 1 ■
2 Trên 3.000.000 đ đến 6.000.000 đ
. . 1 10
. . ... • • ..
3 Trên 6.000.000 đ đến 9.000.000 đ Trên 9.000.000 đ đến 12.000.000 d
20
4 30....
r ị : _ ' ĩ- ; ' J ; O i ■!? ¡ ¿ O - S - M i > , y - ý , -,J 'y_, V ! • : p j V
Thuế thu iỊhập của một ugười có thu nhập chịu thuế là 9.020.000dỊ/tháiỊg (tương ứng vdịỊ bậc 4 trong biểu) được tíụh theo 2 phương pháp: luỹ tiến toàn phần và luỹ tiến từng phán nhự sạu:
+ Tính theo thuế suất lũy tiến toàn phần: í
Thuế phải nộp là: 9.020.000 đ X 30% = 2.706.000đ ? Sau khi nộp thuế, thu nhập còn lại là:
9.020.000 - 2.706.000 = 6.314.000đ + Tính theo thuế suất lũy tiến từng phần:
Bậc 1: Thu nhập đến 3.000.000đ không thu.
Bậc 2: Thu nhập trên 3.000.000đ đến 6.000.000 đ, thuế suất 10%, số thuế phải nộp là: (6.Ó00.Ờ00 đ - 3.000.000 đ) X 10% = 300.000đ
Bậc 3: Thu nhập trên 6.000.000 đ đến 9.000.000 đ, thuế suất 20%, số thuế phải nộp là: (9.000.000 đ - 6.000.000 đ) X 20% = 600.000đ
Bậc 4: Thu nhập trên 9.000.000 đ đến 12.000.000 đ, thuế suất 30%, ngưòi này có thu nhập chịu thuế 9.020.000 đ thì số thuế phải nộp là:
23
(9.020.000 đ - 9.000.000 đ ) X 30% = 6.000 đ
Tổng số thuế phải nộp = 300.000 đ + 600.000Ổ + 6.000 đ = 906.000đ
Sau khi nộp thuế, thu nhập còn lại là:
9.020.000Ổ - 906.000đ = 8.114.000đ
Với ví dụ trên, ta thấy việc áp dụng thuế suất lũy tiến khác nhau số thuế phải nộp cũng sẽ khác nhau. Thuế suất lũy tiến từng phần tỷ lệ động viên tăng dần theo từng bậc thuế, đảm bảo yêu cầu động viên công bằng, hợp lý hơn giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau nhưng việc tính toán có phần phức tạp. Ngược lại, thuế suất lũy tiến toàn phần đơn giản hơn trong cách tính toán nhưng người chịu thuế phải đóng góp theo thuế suất cao trên toàn bộ thu nhập, tạo nên sự động viên quá cao và tình trạng bất hợp lý về thu nhập còn lại sau khi nộp thuế giữa những người có thu nhập chịu thuế ở mức bản lề giữa hai bậc thuế. Có thể thấy rõ điều này thông qua ví dụ sau:
•V
Ông A có thu nhập chịu thuế là 9.000.000đ/tháng; ông B có thu nhập 9.020.000đ/tháng. Theo biểu thuế lũy tiến toàn phần trên đây, ông A phải nộp thuế 9.000.000đ X 20% = í.800.000đ. Thu nhập còn lại sau khi nộp thuế là (9.000.000đ - 1 .800.000đ) = 7.200.000đ. Ông B phải nộp thuế 2.706.000đ. Thu nhập còn lại của ông B sau khi nộp thuế là 6.314.000đ. Như vậy là số thu nhập trước khi nộp thuế ông B hơn ông A là 20.000đ, nhưng sau khi nộp thuế theo biểu lũy tiến toàn phần, ông B lại có số thu nhập kém ông A là (7.2OO.OO0đ- 6.314.000đ) = 886.000đ. Đó là nhược điểm cơ bản của biểu thuê lũy tiến toàn phần nên dẫu cấch tính đơn giản, trên thực tế ít được sử dụng hơn biểu thuế lũy tiến từng phần.