BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thuế nhà nước: Phần 1 (Trang 129 - 133)

1- Quản lý đối tượng nộp thuế:

Đối tượng nộp thuế tài nguyên là các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên. Để quản lý đối tượng nộp thuế có hiệu quả, cơ quan thuế cần phải làm tốt các công việc sạu đây:

- Cơ quan thuế cần có sự phối kết hợp vci các cơ quan quản lý' nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy phép kinh doanh, UBND các cấp và các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đối với từng loại tài nguyên như cơ quan kiểm lâm, khoáng sản, thuỷ sản,... nơi có nguồn tài nguyên để nắm được đầy đủ và chính xác các đối tượng nộp thuế tài nguyên trên địa bàn được phân công

quản lý. . :

- Cơ quan thuế phải lập danh bạ các tổ chức, cá nhân thuộc diện nộp thuế tài nguyên. Qua đó nắm đứợc qui mô khai thác, phương thức tổ chức sản xuất kinh dỏanh, phương tiện khai thác,... Công việc này được thực hiện thông qua cồng tác đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và sự kiểm tía thực tế tình hình hoạt động sần xuất kinh doanh củả các cán bộ thuế quản lý dối với từng đối tượng nộp

thuế tài nguyên. 1

2- Quản lý căn cứ tính thuế:

Cări cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác trong kỳ, giá tính thuế và thuế suất của từng loại tài nguyên. Quản lý tốt căn cứ tính thuế là cơ sở để xác định chính xác số thuế tài nguyên phải nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Muốn vậy, cơ quan thuế cần có các biện pháp quản lý như sau:

- Quản lý sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác trong kỳ tính th u ế : Cán bộ thuế quản lý cần phải bám sát cơ sở khai thác tài nguyên để nắm được sản lượng tàỉ nguyền thực tế khai thác trong kỳ tính thuế thông qua sổ sách kế tóán, chứng từ, hớá đơn.

Đồng thòi cũng phải am hiểu qui trình khai thác, công suất sử dụng máy móc, thiết bị và điều kiện khai thác để tính được sản lượng tài nguyên khai thác thực tế.

Đối với những cơ sở khai thác qui mô nhỏ, sản lượng ít thì cần tiến hành điều tra sản lượng điển hình, ừanh thủ ý kiến của ngành chủ quản, của cán bộ kỹ thuật khai thác,., để từ đó có mức khoán sản lượng thích hợp cho từng đối tượng.

- Quản lý giá tính thuế của từng loại tài nguyên: việc quản lý giá tính thuế có thể thông qua các hợp đồng kinh tế về tiêu thụ sản phẩm, các hoá đơn bán hàng, các chứng từ thanh toán qua Ngân hàng hoặc tham khảo giá bán thực tế trên thị trưòng ở nơi khai thác

131

và tại thời điểm tính thuế hoặc giá tính thuế của UBND tỉnh, thành phố qui định. Khi kiểm tra tính thuế, nếu xét thấy giá tính thuế mà cơ sở tự kê khai là không hợp lý thì bằng mọi cách cơ quan thuế phải chứng minh được điều đó thông qua những thông tin chính thức, có đầy đủ tính pháp lý để thuyết phục cơ sở chấp nhận. Tuyệt đối không được tuỳ tiện áp đặt giá tính thuế tài nguyên qua thoát ly với thực tế làm thất thu cho Ngân sách Nhà nước hoặc ảnh hưởng không tốt đến lợi ích chính đáng của đối tượng nộp thuế. Trên cơ sở đó xác định đúng đắn mức thuế phải nộp của từng loại tài nguyên.

3- Vai trò của cơ quan kiểm lâm trong việc thu thuế tài nguyên.

Cơ quan kiểm lâm là cơ quan quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng.

Trước đây, các khoản thu đối với tài nguyên rừng do cơ quan kiểm lâm trực tiếp đảm nhiệm. Từ sau ngày Pháp lệnh thuế tài nguyên có hiệu lực, việc quản lý thu thuế tài nguyên đối với rừng tự nhiên và thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với đất rừng trồng được chuyển giao sang cơ quan thuế.

Cơ quan kiểm lâm ngoài nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát lâm sản, quản lý bảo vệ rừng còn có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ vói cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế tài nguyên. Cụ thể như sau:

Cơ quan kiểm lâm có trách nhiệm xác định rổ nguồn gốc lâm sản khai thác, mua bán, vận chuyển là hợp pháp hay không hợp pháp, thực hiện việc kiểm tra đo đếm cụ thể số lượng tài nguyên khai thác và đóng dấu búa của kiểm lâm (đối với gỗ) xác nhận tính họp

pháp của chuyến hàng.

Cơ quan thuế căn cứ vào tờ khai thuế của tổ chức cá nhân khai thác kèm theo hồ sơ đã xác minh của cơ quan kiểm lâm để tính thuế và thu thuế tài nguyên.

Lâm sản khai thác có nguồn gốc hợp pháp từ các thành phần kinh tế, các chủ rừng khi vận chuyển mua bán ra khỏi địa bàn quản lý đều phải kiểm tra và thu thuế tài nguyên, tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp đối vói rừng trồng theo từng chuyến. Gỗ và các lâm sản khác do lực lượng kiểm lâm bắt giữ xử lý tịch thu khi xuất bán theo qui định phải trích nộp tiền thuế tài nguyên hoặc thuế sử dụng đất đối vói rừng trồng cho cơ quan thuế, có biên lai thuế, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, lý lịch gỗ, dấu búa kiểm lâm mói được coi là hàng vận chuyển mua bán hợp pháp. Nếu gỗ quí hiếm phải có thêm giấy phép vận chuyển đặc biệt khi vận chuyển ra khỏi tỉnh.

133

Chương VI

Một phần của tài liệu Tìm hiểu về thuế nhà nước: Phần 1 (Trang 129 - 133)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)