Các lớp đất
Chiều dày
Độ
ẩm Dung trọng Tỷ
trọng
Hệ số rỗng
Độ bảo hoà
Thí nghiệm cắt Giới hạn chảy dẻo Độ sệt
Hệ số nén
Môdun tổng biến dạng (m) W(%) w
(kN/m3) (kN/m3)
(kN/m3)
(kN/m3)
e S% C
(kN/m2)
(độ) Nhão Dẻo C/s
dẻo B a
(m2/kN) Eo
(kN/m2) 2 13.6 72.70 14.82 8.61 5.31 26.11 1.993 91.1 9.1 3o5’ 62.2 32.3 29.9 1.24 - -
3 0.9 28.9 18.54 14.38 8.99 26.88 0.855 90.1 1.5 19o55’ Không dẻo - - -
4 3.1 21.90 19.58 16.29 10.24 26.97 0.668 92.9 35.8 17o10’ 53.7 27.1 26.6 - 0.00010 3701 5 20.3 18.20 19.83 16.78 10.48 26.62 0.590 83.2 4.8 31o21’ Không dẻo - 0.00015 21000
dn
d
THUYẾT MINH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP XÂY DỰNG KHÓA 2004 ĐỀ TÀI:TT CHUNG CƯ TÂN CẢNG GVHD:TH.S LÊ VĂN THÔNG
SVTH:TÔ BÁ KIÊN
MSSV:103104086 trang 105
7.3. Đề xuất các phương án móng :
- Theo như cấu tạo địa chất công trình đất nền tương đối yếu. Trong khi đó công trình xây dựng là công trình chung cư cao tầng, vì vậy chỉ sử dụng được các loại móng sâu. Đồng thời kết hợp với những phương án móng thi công phổ biến hiện nay, ta đưa ra các phương án móng phù hợp với công trình như sau :
7.3.1. Phương án 1 : Móng cọc ép bê tông cốt thép đài thấp.
- Trong điều kiện hiện nay, móng cọc ép được sử dụng rất phổ biến vì có ưu thế về khả năng chịu lực, kĩ thuật thi công đơn giản không đòi hỏi thợ có trình độ cao. Móng cọc ép được thực hiện bằng cách ép các đoạn cọc đơn nguyên được nối lại với nhau xuống đến độ sâu thiết kế bằng kích thủy lực gắn chặt trên bệ có các đối trọng tạo phản lực. Do được ép tĩnh nên không gây chấn động ảnh hưởng lớn đến các công trình xung quanh, đây cũng là ưu thế của cọc ép so với cọc đóng.
- Cọc ép có thể có tiết diện hình vuông hay hình tròn tùy mục đích sử dụng, cũng có các cọc được ứng suất trước để làm tăng khả năng ổn định cho cọc. Hiện nay cọc thông thường được sử dụng có tiết diện vuông cạnh 200, 250, 300, 350, 400 và một số cọc hình tròn được ứng suất trước có đường kính 200, 250, 300, 350, 400.
Ưu điểm:
- Khả năng chịu lực tương đối lớn, có khả năng cắm sâu đến lớp đất tốt.
- Thi công dễ dàng, không đòi hỏi kĩ thuật cao.
- Không gây chấn động làm phá hoại vùng đất xung quanh cọc, và không ảnh hưởng đến các công trình xung quanh.
- Các đoạn cọc được chế tạo tại chổ hay mua từ các đơn vị sản xuất nên dễ dàng kiểm tra được chất lượng các cọc.
Nhược điểm:
- Đối với những công trình chịu tải lớn thì số lượng cọc tăng lên hoặc phải tăng kích thước cọc dẫn đến chi phí thi công đài cọc tăng lên, hoặc tiết diện cọc quá lớn nên không thể ép xuống được.
- Quá trình ép cọc thường xảy ra sự cố khi gặp các lớp đất cứng, đá cuội hay đụng phải các tảng đá mồ côi mà trong khi khoan địa chất không phát hiện được. Các sự cố thường gặp khi ép cọc như: cọc bị chối khi chưa đến độ sâu thiết kế, cọc bị gãy trong quá trình ép,…
- Không ép được đối với các địa chất cứng, đá sỏi…
- Không sử dụng được các loại cọc đường kính lớn.
7.3.2. Phương án 2 : Móng cọc khoan nhồi.
- Cọc khoan nhồi là loại cọc được đổ bêtông tại chổ và thi công bằng nhiều phương pháp khác nhau tùy theo yêu cầu truyền tải của công trình.
- Trong những năm 80, ở nước ta đã sử dụng loại cọc khoan nhồi bằng phương pháp tạo lỗ thủ công để tạo nên cọc, cho đến nay chúng ta đã sử dụng các thiết bị hiện đại để tạo lỗ (máy khoan) và bơm bêtông vào lỗ khoan theo các biện pháp và qui trình thi công khác nhau.
- Cọc khoan nhồi được sử dụng rộng rãi trong các ngành cầu đường, trong các công trình thủy lợi, trong những công trình dân dụng và công nghiệp. Đối với việc xây dựng nhà cao tầng ở các đô thị lớn nhất là tại Tp. Hồ Chí Minh trong điều kiện xây chen là chủ yếu,
THUYẾT MINH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP XÂY DỰNG KHÓA 2004 ĐỀ TÀI:TT CHUNG CƯ TÂN CẢNG GVHD:TH.S LÊ VĂN THÔNG
SVTH:TÔ BÁ KIÊN
MSSV:103104086 trang 106
khả năng áp dụng cọc khoan nhồi đã được phát triển và ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn do nhu cầu nhà ở cao tầng tại Việt Nam tăng lên trong những năm tới đây.
Ưu điểm:
- Có thể thi công với điều kiên địa chất bất kỳ.
- Có khả năng chịu tải lớn, sức chịu tải của cọc khoan nhồi có thể đạt đến ngàn tấn nên thích hợp với các công trình cao tầng, các công trình có tải trọng lớn…
- Không gây ra ảnh hưởng chấn động đối với các công trình xung quanh, thích hợp với việc xây chen ở các đô thị lớn, khắc phục được các nhược điểm của các loại cọc đóng khi thi công trong điều kiện này.
- Có khả năng mở rộng đường kính và chiều dài cọc đến mức tối đa. Hiện nay có thể sử dụng loại đường kính cọc khoan nhồi từ 600 mm đến 2500 mm hoặc lớn hơn (cọc khoan nhồi móng trụ cầu Cần Thơ có đường kính 3000 mm, sâu 98 m). Chiều sâu cọc khoan nhồi có thể hạ đến độ sâu 100 m (trong điều kiện kĩ thuật thi công ở Việt Nam).
- Lượng cốt thép bố trí trong cọc khoan nhồi thường ít hơn so với cọc đóng do trong cọc khoan nhồi cốt thép chủ yếu dùng để chịu tải trọng ngang (đối với cọc đài cao).
Nhược điểm:
- Theo tổng kết sơ bộ, đối với các công trình nhà cao tầng không lớn lắm (dưới 12 tầng), kinh phí xây dựng nền móng thường lớn hơn 2 - 2.5 lần khi so sánh với các cọc ép.
Tuy nhiên, nếu số lượng tầng lớn hơn dẫn đến tải trọng công trình đòi hỏi lớn hơn, lúc đó giải pháp cọc khoan nhồi lại trở thành giải pháp hợp lý.
- Công nghệ thi công đòi hỏi kỹ thuật cao, để tránh các hiện tượng phân tầng (có lỗ hổng trong bêtông) khi thi công đổ bêtông dưới nước có áp, có dòng thấm lớn hoặc đi qua các lớp đất yếu có chiều dày lớn (các loại bùn, các loại cát nhỏ, cát bụi bão hoà thấm nước).
- Biện pháp kiểm tra chất lượng bêtông trong cọc thường phức tạp gây nhiều tốn kém trong quá trình thực thi chủ yếu sử dụng phương pháp thử tải tĩnh, và siêu âm một số cọc thử để kiểm tra chất lượng bêtông cọc.
- Việc khối lượng bê tông thất thoát trong quá trình thi công do thành lỗ khoan không bảo đảm và dễ bị sập vách lỗ khoan cũng như việc nạo vét ở đáy lỗ khoan trước khi đổ bê tông dễ gây ra ảnh hưởng xấu đối với chất lượng thi công cọc.
- Ma sát bên thân cọc có phần giảm đi đáng kể so với cọc đóng và cọc ép do công nghệ khoan tạo lỗ.
THUYẾT MINH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP XÂY DỰNG KHÓA 2004 ĐỀ TÀI:TT CHUNG CƯ TÂN CẢNG GVHD:TH.S LÊ VĂN THÔNG
SVTH:TÔ BÁ KIÊN
MSSV:103104086 trang 107
CHƯƠNG 8: