THỨC ẤM VỐN VÔ SANH

Một phần của tài liệu GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM (Trang 95 - 107)

-A Nan! Ví như có người lấy một cái bình (cái bình dụ cho nghiệp thân), trong đựng đầy hư không (hư không dụ cho thức ấm), bít kín miệng bình đem xa ngàn dặm tặng cho nước khác, nên biết Thức Ấm cũng vậy.

-A Nan! Hư không này chẳng phải từ phương kia ra, cũng chẳng phải từ phương này vào. Nếu từ phương kia ra, trong bình đã đựng hư không đem đi, thì phương kia phải thiếu hư không. Nếu từ phương này vào, khi mở miệng bình trút ra thì phải thấy hư không ra. Nên biết thức ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.

Giảng giải:

Giải thích thức ấm vô sanh này cũng khó hiểu, cái thân này thí dụ như cái bình đựng thức ấm, đi đầu thai thành heo, ngựa, đem thức ấm đi chỗ khác.

-A Nan! Ví như có người lấy một cái bình (cái bình dụ cho cái thân), trong đựng đầy hư không (hư không dụ cho thức ấm, vì thân này có ngũ ấm, sắc, thọ, tưởng, hành, thức), bịt kín miệng bình đi xa ngàn dặm tặng cho nước khác, nên biết thức ấm cũng vậy (lục đạo luân hồi như đi nước này nước kia.

Nhưng ở đây chứng tỏ vốn là vô sanh, vốn là vọng, không có thức ấm).

-A Nan! Hư không này chẳng phải từ phương kia ra, cũng chẳng phải từ phương này vào (thức là hư không) hư không đựng trong cái bình. Nếu từ phương này vào thì hư không phải thiếu một chút, đem bình đựng hư không trút ra phương kia thì phải thêm một chút hư không. Sự thật không phải vậy.

Nếu từ phương kia ra, trong bình đã đựng hư không đem đi thì phương kia phải thiếu hư không (sự thật thì không có thiếu, trút ra thì hư không cũng không có dư).

Nếu từ phương này vào khi mở miệng bình trút ra thì phải thấy hư không ra (nhưng sự thật không phải không thấy). Nên biết thức ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên cũng phải tánh tự nhiên.

Nghiệp thân dụ cho cái bình, bây giờ mình đem cái thức đi đầu thai, như đi tới nước khác tặng cho người khác. Kỳ thật, ở trong Như Lai Tạng khắp không gian thời gian, không khứ lai nên gọi là Như Lai, không sanh diệt nên gọi là Niết Bàn.

Chấp thân này thì phải có khứ lai, phải có gián đoạn; hư không làm sao có khứ lai, gián đoạn? Tại mình đem hư không đựng trong bình bít miệng, rồi nói hư không ở trong bình, nhưng sự thật không phải. Nói nghiệp thức ở trong thân này. Đâu phải! Thức này cùng khắp hư không. Hư không đựng trong bình, nhưng ở ngoài vẫn đầy đủ hư không.

Tại mình không biết, chỉ nhận thân nghiệp này, như cho hư không ở trong bình là của ta, chứ hư không ở ngoài bình không phải ta. Nhưng sự thật ngoài thân này đều là cái thức của mình, cái thân là 1 bộ phận thôi. Trong kinh này nói thân này và vũ trụ vạn vật đều là diệu tâm sáng tỏ của mình sanh ra. Lục Tổ lúc ngộ nói: “Đâu ngờ tự tánh năng sanh vạn vật”. Vạn vật đều tự tánh sanh ra, cái thân này cũng là vật, trái cam, trái lê cũng là vật bằng nhau.

Lúc kiến tánh thì tất cả dụng cùng khắp không gian thời gian đều là tự tánh, thì thân này cũng y như cũ. Bao nhiêu đèn lớn nhỏ đều cùng 1 ánh sáng khắp không gian, không thể chỉ ra ánh sáng nào thuộc đèn nhỏ, ánh sáng nào

thuộc đèn lớn; tức có ngã và không ngã là tương đối tự tiêu diệt thì cùng khắp không gian, nên không có chỗ để chỉ.

Ngã và vô ngã đều không, 1 triệu đèn vẫn là 1 triệu đèn, đèn lớn phát ra ánh sáng lớn, đèn nhỏ phát ra ánh sáng yếu. Như chúng sanh vẫn là chúng sanh có tánh riêng biệt, nhưng Phật tánh không phân biệt, đều cùng khắp không gian như ánh sáng đèn vậy.

Lược giải:

Trung Quán Luận có bài kệ rằng:

Các pháp chẳng tự sanh, Cũng chẳng phải tha sanh, Chẳng cộng chẳng vô nhân, Cho nên nói Vô Sanh.

Sao nói các pháp chẳng tự sanh? Vì phải đợi nhân duyên hòa hợp mới được sanh. Sao nói chẳng tha sanh? Vì các duyên đều chẳng có tự tánh. Sao nói chẳng cộng sanh? Vì tự và tha còn chẳng có, lấy gì để cộng? Sao nói chẳng vô nhân sanh? Vì bản thể sáng tỏ của diệu tâm, phải do tu hành đến giác ngộ mới được hiển bày, chẳng tự nhiên mà thành. Vậy biết tất cả sự vật trên thế gian vốn là Vô Sanh, vì chẳng có lý do nào để sanh vậy.

Nếu ngộ tất cả pháp vô sanh thì Sắc như dụi mắt thấy hoa đốm trên không;

Thọ như xoa bàn tay sanh những xúc giác trơn, rít, lạnh, nóng; Tưởng như nghe nói trái mơ tiết ra nước miếng; Hành như dòng nước chảy, chẳng có năng sanh sở sanh (nước chẳng phải năng sanh, dòng nước chẳng phải sở sanh); Thức như cái bình đựng đầy hư không, bình dụ cho nghiệp thân, hư không dụ cho vọng thức.

Bản Giác tánh không, cùng khắp pháp giới, hễ mê thành vọng thức thì thành hư không ở trong bình, nhét bít miệng bình dụ cho vọng phân đồng dị, có trong có ngoài, kỳ thật trong bình ngoài bình chỉ cùng một hư không (dụ cho tánh và thức vốn là một thể), hư không chẳng khứ lai dụ cho tánh chẳng sanh diệt. Bình dụ vọng nghiệp, hư không dụ vọng thức, nghiệp kéo thức chạy theo, như đem bình đựng hư không đi các nước khác, dụ cho đi khắp lục đạo, cam chịu luân hồi.

Lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới, cho đến thất đại ở quyển sau, đều sáng tỏ nghĩa này (Vạn Pháp Vốn Vô Sanh).

Giảng giải:

Trung Quán Luận có bài kệ:

Các pháp chẳng tự sanh, Cũng chẳng phải tha sanh, Chẳng cộng chẳng vô sanh, Cho nên nói vô sanh.

Sao nói các pháp chẳng tự sanh? Vì phải đợi nhân duyên hòa hợp mới được sanh, nhân duyên không hòa hợp thì không sanh, cho nên nói chẳng tự sanh.

Sao nói chẳng tha sanh? Vì các duyên đều chẳng có tự tánh, do hòa hợp mới có, không hòa hợp thì không có tự tánh, không phải do cái khác mà sanh ra.

Đối cái này thì nói cái kia là khác, đối cái kia thì nói cái này là khác, cũng như cái bình đối với trái lê thì nói trái lê là khác, còn trái lê thì nói cái bình là khác.

Sao nói chẳng cộng sanh. Vì tự và tha chẳng có, không có lý thành lập, lấy gì để cộng?

Sao nói chẳng vô nhân sanh? Vì bản thể sáng tỏ của diệu tâm, phải do tu hành đến giác ngộ mới được hiển bày, chẳng tự nhiên mà thành. Vậy, biết tất cả sự vật trên thế gian vốn là vô sanh, chẳng có lý do nào để sanh. Bởi không có lý do sanh khởi, nên người chứng quả là ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn.

Nếu ngộ tất cả pháp vô sanh thì sắc như dụi mắt thấy hoa đốm trên không.

Thọ như xoa bàn tay sanh những xúc giác trơn, rít, lạnh, nóng. Cái trơn, rít, lạnh, nóng, vốn không có, tại do xoa mới thành có.

Tưởng như nghe nói trái mơ tiết ra nước miếng. Mình không ăn trái mơ, chỉ nghe thấy đã tiết ra nước miếng, tức là hư vọng.

Hành như dòng nước chảy chẳng có năng sanh sở sanh. Nước chẳng phải năng sanh, dòng nước chẳng phải sở sanh.

Thức như bình đựng đầy hư không, bình dụ cho nghiệp thân, hư không dụ cho nghiệp thức. Thí dụ này rất hay, nhưng cũng khó hiểu hơn mấy cái kia.

Bản Giác Tánh Không cùng khắp pháp giới, hễ mê thành vọng thức thì giống như hư không trong bình. Tại chấp thì phải có nơi chỗ, người nào cũng chấp cái thức là thân của mình. Nhét nút miệng bình dụ cho vọng phân đồng dị, có trong, có ngoài. Nói cái thức ở trong thân khác cái thức ngoài thân, như nói hư không ở trong bình khác hơn hư không ở ngoài bình.

Kỳ thật, trong bình, ngoài bình chỉ cùng một hư không. Do tâm chấp mới thành khác, tâm đã chấp cái thân là ta thì cái thức ở trong thân mới là ta, còn cái thức khắp hư không chẳng phải ta. Nhưng sự thật trong bình ngoài bình cùng khắp hư không (dụ cho tánh và thức vốn là một thể).

Hư không chẳng khứ lai dụ cho tánh chẳng sanh diệt, bình dụ cho vọng nghiệp, hư không dụ cho vọng thức, nghiệp kéo thức chạy theo như đem bình đựng hư không đi các nước khác, dụ cho đi khắp lục đạo, cam chịu luân hồi.

Như nghiệp thân kéo thức đi luân hồi trong lục đạo, vì mình chỉ nhìn thấy cái thân này, chứ không chịu nhìn cái thức cùng khắp hư không. Trong kinh nói, mình không nhìn nước khắp biển cả, mà lại nhìn bọt nước cho là mình.

Kỳ thật, khắp nước biển (đại giác) là mình, không nhận mà chỉ nhận bọt nước cho là mình; tất cả hư không là mình, mà chỉ nhận cái nhục thân, thành ra oan uổng phải chịu luân hồi (nghiệp thân kéo thức đi lục đạo luân hồi).

Hỏi:

Muốn giác ngộ phải 3 a tăng kỳ kiếp, còn Phật chỉ thị hiện, ngài đã thành Phật từ lâu, như trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói, chứ nói trong 1 đời mà giác ngộ thì chuyện đó không thể xảy ra, vậy việc này như thế nào?

Đáp:

Quá khứ, hiện tại, vị lai là do tánh si ái kéo dài nên sanh ra thời gian đó.

Thấy là thời gian, tại si ái cùng khắp thì lập ra cái giới (kinh Lăng Nghiêm).

Kinh Kim Cang nói: “Quá khứ, hiện tại, vị lai tâm bất khả đắc”, tức là quá khứ, hiện tại, vị lai vốn không có thật, do tâm si ái mới thành có, mà lại chấp thật có thời gian, rồi phải tu 3 a tăng kỳ kiếp mới thành Phật.

Nếu có cái chấp ấy, đừng nói là 3 a tăng kỳ kiếp thành Phật, mà 1 triệu a tăng kỳ kiếp cũng không thành Phật. Vì có thời gian chân thật để chấp làm

sao kiến tánh được? Phá hết tất cả chấp mới kiến tánh; còn chấp một chút, tức là có sở trụ, chứ không phải bản thể vô trụ.

Thiền sư Diệu Cao hay buồn ngủ, nên ngài ngồi thiền nơi chỗ núi cao, dưới vực thẳm; nếu ngồi ngủ gật thì té phải chết, vì thế sau này người ta gọi ngài là Diệu Cao. Ngài lên cao ngồi vì sợ chết, ban đầu không buồn ngủ; nhưng lâu ngày vọng tưởng hết, buồn ngủ lại đến thì vừa té xuống, nhưng có người đỡ.

Diệu Cao hỏi: Ai cứu tôi vậy?

Đáp: Hộ Pháp Vi Đà.

Diệu Cao trong lòng mừng, tự nghĩ mình tu hành có Hộ Pháp ủng hộ, nên sanh tâm kiêu căng.

Hộ Pháp Vi Đà nói: Ông nổi niệm kiêu căng, nên 20 năm tôi không hộ pháp nữa.

Ngài trong lòng nghĩ vì mình kiêu căng nên Hộ Pháp không ủng hộ, nếu ngồi thiền té xuống không có Hộ Pháp thì sẽ chết, ngài tự ăn năn sám hối và tiếp tục ngồi thiền, ngồi lâu cũng lại buồn ngủ, té xuống lại có người đỡ.

Diệu Cao hỏi: Ai cứu tôi vậy?

Đáp: Hộ Pháp Vi Đà.

Diệu Cao hỏi: Vừa rồi nói 20 năm không hộ tôi mà sao lại cứu tôi vậy?

Hộ Pháp Vi Đà nói: Ông có 1 niệm sám hối đã qua khỏi 20 năm.

Vậy thời gian không có thực tế là do có niệm mới thành.

Hỏi:

“Tiền niệm bất sanh, hậu niệm bất diệt” là như thế nào?

Đáp:

Tiền niệm bất sanh, hậu niệm bất diệt” là không sanh diệt. Vậy, đâu có tiền niệm, hậu niệm. Vì theo lời nói của thế gian nên có tiền có hậu, tiền hậu là tương đối; tự tánh bất nhị không tương đối, không có tiền hậu.

Tại muốn nói tiền niệm bất sanh, hậu niệm bất diệt là bản niệm, không có tiền niệm sanh, không có hậu niệm diệt, mà bản niệm khắp thời gian không sanh diệt gọi là Niết Bàn, khắp không gian không có khứ lai gọi là Như Lai.

Tuy tên gọi đủ thứ, nhưng bản thể không khác.

Hỏi:

Phật Thích Ca tu hành giác ngộ hay là chỉ thị hiện?

Đáp:

Phật Thích Ca tu hành giác ngộ và chư Tổ kiến tánh trong Truyền Đăng Lục nói “khi kiến tánh mới biết không có Phật để thành, vốn là vô tu vô chứng”. Nói tu nói chứng là đã chấp thành bệnh (bệnh giả); ấy vốn không có bệnh, nên Phật mới đưa ra thuốc giả để trị bệnh giả. Bệnh giả đã hết thì thuốc giả cũng phải bỏ, như chiếc bè qua sông; qua đến bờ bên kia thì chiếc bè vô dụng, đâu phải vác chiếc bè đi chơi!

Tất cả đều do bệnh chấp, rồi mới nói là thị hiện hay là Phật tu hành đắc đạo.

Bây giờ nói tu hành, nhưng đến kiến tánh thì thấy không phải do tu hành đắc đạo; vì tự tánh đâu có giảm bớt, đâu có gián đoạn, đâu có thành hoại! Ai cũng biết, nhưng bị tâm mê chấp thành quên.

Hỏi:

Phật tánh con ruồi và Phật tánh Đức Phật có bằng nhau không?

Đáp:

Phật tánh chúng sanh và Phật tánh của Phật đều bằng nhau, tại tạo nghiệp con ruồi, nên phải đầu thai ruồi; như con dơi có ra đa, ra đa là cái dụng của Phật tánh. Nhưng tại nghiệp con dơi có ra da, như ngiệp con người là bộ óc tinh vi; nhà khoa học lấy cái tinh vi của bộ óc làm ra máy điện toán, học con dơi phát minh ra da.

Tất cả cái gì, ở trong Phật tánh đều có đầy đủ bằng như Phật. Vì không giảm bớt, nên Phật tánh không gián đoạn. Cho nên, bây giờ mình là chúng sanh cũng đang làm Phật, nếu mình không làm Phật thì Phật tánh đã gián đoạn, nhưng chỉ do mình không nhìn nhận thôi.

Kinh Pháp Hoa nói: “Hạt châu như ý ở trong chéo áo, sao không đem ra dùng?” dùng thì giàu sang, muốn cái gì có cái nấy, vì nó là như ý.

Hỏi:

Ngồi thiền để tâm vắng lặng có hòa vào tâm biển giác không?

Đáp:

Hư không dụ cho thức, khắp hư không tức là biển giác, biển giác không sanh diệt, không tên gọi. Bây giờ gọi biển giác là do mình đặt tên, nên không thể cho là cái gì! 2 chữ “cho là” dùng không được, vốn là Như Lai tạng hay là Diệu tâm sáng tỏ, là vô sanh vô diệt. Mình đề ra câu hỏi thì đã có bắt đầu, tức là đã sanh rồi.

Kinh Lăng Già có những câu hỏi ấy: Có Phật tánh hay không có Phật tánh?

Có Phật tánh là thế luận 1, không có Phật tánh là thế luận 2. Có vũ trụ hay không có vũ trụ? Có vũ trụ là thế luận 1, không có vũ trụ là thế luận 2. Tất cả tương đối đều là thế luận, Phật chỉ nói thế luận 1, thế luận 2. Vì câu hỏi đó đã sai lầm, câu hỏi là thế luận thì chỉ nói là thế luận cũng đủ, đâu cần giải thích; vì câu hỏi không có nghĩa lý gì, chuyện đó vốn không có.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Vốn không có thế giới chúng sanh là do vọng mới có chúng sanh”, do sanh mới có diệt, từ chỗ vô thỉ vô sanh, nếu mình đặt ra

“cho là” đã sanh là thỉ (bắt đầu) rồi. Những việc đó có hỏi cũng không đúng, nếu Phật trả lời cũng là vọng. Vì câu hỏi là vọng thì trả lời cũng là vọng, cho nên mới trả lời là thế luận 1 thế luận 2, thế luận 3, thế luận 4,…

Hỏi:

Tọa thiền có thể “niệm trước không sanh, niệm sau không diệt” không?

Đáp:

Niệm trước không sanh, niệm sau không diệt là bản niệm, vốn không có trước sau. Không sanh không diệt làm sao có trước sau? Có trước sau là sanh diệt rồi.

Hỏi:

Nếu không tham thọai đầu, chỉ ngồi xuống có đến cảnh giới đó không?

Đáp:

Nếu ngồi để tâm không, hết vọng tưởng là vô ký; vô ký là thiền bệnh, lúc không có nhất niệm là vô ký. Rồi nổi lên 1 niệm là vọng niệm thì cũng ở trong sanh diệt. Hoàn toàn không có niệm là vô niệm, vô niệm cũng là cái tịnh duyên của niệm, niệm thiện niệm ác gọi là niệm nhiễm.

Mặc dầu, niệm thiện cũng là nhiễm, không có niệm thiện không có niệm ác gọi là vô niệm cũng là tịnh duyên, tức niệm trong sạch, cũng chưa đến chỗ vô thỉ vô minh. 24/ 24 không có niệm nào khởi được, muốn khởi lên 1 niệm cũng không được, chỉ có nghi tình mới gọi là vô thỉ vô minh.

Một hồi không có niệm nào, một lúc thì nổi lên niệm, hay là biết mình vô niệm, biết mình thanh tịnh cũng là cái bóng phân biệt của pháp trần (kinh Lăng Nghiêm).

Hỏi:

Có một người nữ trong ban nhạc không mập mà lại sợ mập nhịn ăn, nhịn đến khi cô ấy chết, hiện tượng ấy như thế nào?

Đáp:

Chuyện đó chưa đúng cụ thể, ở Việt Nam có 1 người nghi mình bệnh lao, nhưng sự thật không có bệnh lao. Vì tâm có tạo bệnh lao, rồi người đó ăn uống rất cẩn thận, nhưng 3 tháng sau, rọi kiếng thấy bệnh lao và sau này do bệnh lao mà chết.

Từ chỗ không có mà nghi ra thành có thật, là do tâm người ấy tự tạo, chứ không phải ai cho. Cô ấy cũng vậy, tự tạo cho mình; nghiệp thân bây giờ cũng do tiền kiếp mình tạo. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu ngươi chẳng có tưởng thì không có thân, do cái tưởng của ngươi và cái tưởng của cha mẹ mới ra thân ngươi”.

Hỏi:

Cái hình chỉ có chấm chấm, tùy theo cách nhìn của mỗi người thấy hiện ra cảnh giới, có người nhìn chẳng thấy gì cả, có người khác nhìn thấy mặt trời mặt trăng hiện ra, trong trường hợp này giải thích cho chúng sanh như thế nào?

Một phần của tài liệu GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM (Trang 95 - 107)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(384 trang)