Thực phẩm, Đồ uống và Ăn kiêng

Một phần của tài liệu Những trào lưu mới trong xã hội mỹ (Trang 89 - 98)

Những đứa trẻ ăn chay

Ngày trước, bữa ăn truyền thống của một gia đình Mỹ thường có thịt và khoai tây. Mẹ nấu bữa tối. Bố cầu nguyện trước khi vào bữa chính. Con cái ăn sạch đĩa của mình, có thể có món tráng miệng hoặc không.

Fido thì ăn những phần thừa.

Ngày nay, bố có thể nấu nướng, hoặc mẹ sẽ đặt đồ ăn sẵn. Lũ trẻ sẽ dừng chat với bạn bè để bước vào bàn ăn. Có thể Fido sẽ mặc yếm và ngồi sẵn trên ghế trong phòng ăn. Nhưng tất cả những sự thay đổi trên bàn ăn của người Mỹ xuất hiện vào sau những năm 1950, điển hình cho sự thay đổi này có thể chính là khẩu phần ăn của lũ trẻ: không có thịt.

Có khoảng 1,5 triệu đứa trẻ ở Mỹ trong độ tuổi từ 8 đến 18 đang ăn kiêng, tăng vọt từ con số 0 trong vòng 50 năm qua. Nghĩa là có một triệu rưỡi trẻ em không hề ăn bất cứ loại thức ăn nào có nguồn gốc từ gia súc, gia cầm và cá. Có gần 3 triệu trẻ em không hề ăn các loại thực phẩm từ gia súc, và 3 triệu đứa trẻ khác không hề ăn các loại gia cầm. Như vậy sẽ có những người chỉ ăn cá, hoặc chỉ ăn rau, tức là quay lưng với tất cả các loại thức ăn từ động vật, bao gồm cả trứng, sữa, bơ và đôi khi là cả mật ong. Rất nhiều người trong số họ còn không mặc quần áo lông thú.

Một số trẻ ăn kiêng trong sự cổ vũ, động viên của những ông bố bà mẹ cũng ăn kiêng – nhưng ngày càng có nhiều trẻ từ chối thức ăn chứa chất béo xuất phát từ nhu cầu cá nhân của bản thân chúng. Đặc biệt là các bé gái. Có đến 11% các em gái tuổi từ 13 – 15 nói chúng không ăn thịt. Ở khắp nơi trên nước Mỹ đều có những đứa trẻ ăn kiêng, nhưng miền Trung (Midwest) có nhiều người ăn kiêng nhất so với các vùng còn lại của nước Mỹ – khoảng 8% dân số – điều này có thể làm thất vọng những trung tâm công nghiệp thực phẩm đóng hộp của Chicago, Kansas và Fort Worth.

Tại sao lại sùng bái ăn kiêng đến vậy? Chẳng phải vào năm 2006, rau củ đã từng mang mọi tiếng xấu trên truyền thông đó sao?

Một phần lý do giải thích cho sự tăng lên của những-đứa-trẻ-rau là sự tăng lên của chủ nghĩa ăn kiêng nói chung, và sự phát triển lớn mạnh của các sản phẩm thay thế thực phẩm trên thị trường, chưa kể đến yếu tố chấp thuận việc ăn kiêng ngày càng tăng trong xã hội. Giờ đây có thể có đến 11 triệu người ăn kiêng ở Mỹ – từ 1/3 đến ẵ trong số đú là ăn chay hoàn toàn, tăng khoảng 5% so với đầu những năm 1990. Ngay cả hệ thống Burger King giờ đây cũng cung cấp những bữa tiệc ăn kiêng ở khắp mọi nơi. Vậy là giờ đây, những-đứa-trẻ-rau hoàn toàn dễ dàng được ăn theo nhu cầu và sự thôi thúc của bản thân hơn thanh niên của những thế hệ trước đó rất nhiều.

Một yếu tố nữa thúc đẩy sự tăng lên của những đứa trẻ ăn kiêng là sự dễ dãi của cha mẹ cũng tăng lên theo thế hệ – và sự ưu tiên đối với tự do cá nhân, ở mọi lứa tuổi đã khiến mọi xu hướng xuất hiện tràn ngập trong cuốn sách này. Một đứa trẻ ở những năm 1950 nếu nói với cha mẹ rằng nó không muốn ăn thịt, thì ngay lập tức sẽ được nghe giảng giải về chế độ dinh dưỡng và thái độ vâng lời, và cuối cùng là sẽ bị dọa nếu không ăn thì sẽ không được ăn gì hết nữa. Ngày nay, đứa bé đó hoàn toàn có thể bày tỏ sự độc lập của mình và có thể bày tỏ cả tình yêu với thú vật nữa. Thực tế là có ít việc để làm với với những đứa trẻ quyết định ăn kiêng, ngay cả khi cha mẹ chúng đã rất độ lượng, bởi sự ảnh hưởng của những dòng thông tin mạnh mẽ mà lũ trẻ tiếp nhận được khi nhìn nhận về vấn đề môi trường. Phải vậy, chúng ta có Ngày Trái Đất kể từ năm 1970, và hàng xóm của gia đình tôi thường kỳ thực hiện ngày Thứ Bảy Xanh để dọn dẹp khu phố. Đứa con gái 4 tuổi của tôi ở mẫu giáo về thì vừa đi vừa hát “Chúng ta tái chế rác, chúng ta tái chế rác” theo nhịp của bài “Chú Jacques”. Cô bé lớn lên với tâm thức đầy đủ về những điều gì là đúng/sai – và trẻ con có toàn quyền tự do lên tiếng. Tôi không hút thuốc, nhưng bất cứ ai hút thuốc cũng có thể bị chính con cái mình quở trách. Tôi hẳn sẽ bị phàn nàn nếu không cho vỏ lon nước ngọt hay tờ báo cũ vào túi rác mang đi tái chế, hoặc ít nhất thì tôi cũng quan tâm đến việc đó. Ngành công nghiệp thực phẩm cũng gặp không ít khó khăn trong các trường học. Câu cá, săn bắn hay bắt gà không phải là một trong những hoạt động ưa thích của lũ trẻ ở trường học nữa.

Trên thực tế, nếu bạn suy nghĩ về điều này, có lẽ bạn sẽ thấy ấn tượng về việc ngày càng có nhiều đứa trẻ ăn chay và ăn kiêng không mạnh mẽ bằng ấn tượng về việc chúng ăn thịt như thế nào. Gần đây bạn có để ý đến các cuốn sách dành cho trẻ em? Các nhân vật được nhân cách hóa, ít nhất là trong truyện Tween Lit.

Và tôi còn chưa nói đến truyện Ba chú Gấu hay Ba chú lợn con, mặc dù đó là những cuốn cơ bản nhất. Từ gấu, mèo, giun trong sách của Richard Scarry cho đến khỉ trong truyện George tò mò, cho đến gia đình lợn trong Olivia, không có nhân vật yêu thích nào của lũ trẻ không phải là các con vật. Truyền hình và phim

ảnh thì cũng không khác gì. Từ Những con thú đáng yêu trong Nick Jr. năm 2006 đến bộ phim ăn khách Happy Feet (với những con chim cánh cụt biết hát), bạn nghĩ xem liệu lũ trẻ có cân nhắc không – kể cả khi chúng là con của những bậc phụ huynh không ăn kiêng – việc cho những miếng thịt vào miệng để ăn?

May mắn là việc ăn kiêng không hại gì. Các chuyên gia dinh dưỡng ngày càng khẳng định rằng việc ăn kiêng đối với trẻ là tốt, chưa muốn nói là rất tốt. Vì vậy ở trường học, trại hè, gia đình và các loại nhà hàng giờ đây đã sẵn sàng cung cấp những lựa chọn rau xanh cho bọn trẻ, với chất lượng và sự phong phú chưa từng có. Món salad trở thành món ăn nhanh được ưa thích nhất. Và bạn đừng ngạc nhiên nếu món ăn nhanh được ưa chuộng tiếp theo được làm từ đậu phụ. Và có thể thêm một vài món như rau cải xanh chiên theo kiểu Nhật, hay món súp lơ Cajun. Ngành công nghiệp thực phẩm đã biến đổi cho phù hợp với nhiều hình thức như chế biến món gà làm từ bí xanh chẳng hạn. Bên cạnh salad, tưởng như đã xuất hiện hội chứng liên quan đến thịt và khoai tây, với niềm tin rằng rau xanh là cái gì đấy mà lũ trẻ sẽ chỉ ăn nếu bị cưỡng chế. Nhưng họ đã bỏ quên xu hướng này – rất nhiều đứa trẻ ngày nay đã thực sự thích thực phẩm được chế biến từ rau củ quả.

Ngành công nghiệp thực phẩm phải thực sự lưu tâm tới những gì đã diễn ra vào năm 2003, khi tiến hành quảng bá một sản phẩm đi ngược lại xu hướng. Nhắm tới những bé gái ở độ tuổi thanh thiếu niên, công ty Nature Beef Council đã thiết kế một chiến dịch giáo dục thực phẩm rất cẩn thận, dựa trên thông điệp, “Là con gái thì ăn thịt bò”. Nếu những-đứa-trẻ-rau bây giờ có mặt vào thời điểm ấy, có lẽ tương lai của ngành công nghiệp này đã gặp không ít khốn đốn.

Xu hướng này cũng đồng nghĩa với việc sức khỏe của người Mỹ tốt hơn. Nguy cơ bị bệnh tim đối với những người đàn ông ăn kiêng ít hơn 37% so những người không ăn kiêng – và tỷ lệ những người ăn kiêng ở cả hai giới mắc bệnh mất trí nhớ ít hơn một nửa so với những người không ăn kiêng – ngay cả khi những người này có rất nhiều lối sống khác nhau.

Tất nhiên, rau quả cũng mang lại nguy hiểm, như chúng ta đã từng chứng kiến sự sụp đổ của hệ thống nhà hàng Taco Bell năm 2006. Bởi vì không có những “điểm chết” trong khi chuẩn bị đồ ăn từ rau quả như khi chuẩn bị đồ ăn từ thịt gia súc, gia cầm – nên những nhà sản xuất, phụ huynh và những đứa trẻ ăn chay luôn thận trọng. Không lâu nữa sẽ xuất hiện những món ăn làm từ thực phẩm sạch bằng cách chiếu tia diệt khuẩn, đó là cách đảm bảo sức khỏe và loại trừ các nguy cơ bị bệnh từ rau quả. Nhưng đối mặt với vô số các món ăn làm từ rau quả, ngành công nghiệp này nếu chỉ viện đến các loại tia diệt khuẩn để làm sạch rau bina liệu có thể yên tâm kê cao gối ngủ?

Cuộc chiến vì cái dạ dày của con cái chúng ta cũng sẽ là một cuộc chiến khó khăn. Những chủ trang trại và nông dân đang nỗ lực hết sức vì điều đó. Và những đứa trẻ ăn kiêng ở lứa tuổi thanh thiếu niên có thể đến lúc tin rằng chúng đã từng bị kìm nén vì không ăn thịt có thể phản ứng ngược và ăn rất nhiều. Nhưng hầu như xu hướng ăn kiêng sẽ vẫn tiếp tục, nhiều đứa trẻ, đặc biệt là các em gái sẽ từ chối văn hóa ăn thịt và tận hưởng cảm giác ăn kiêng kèm với những yêu cầu mới về hình thức cho các món rau củ quả. Thêm vào đó, chúng ta sẽ chứng kiến sự chuyển biến của các ngành trồng lúa gạo, cũng như nhu cầu ngày càng tăng cao về ngô và lúa mạch. Vì vậy, đừng quá ngạc nhiên nếu như việc trồng đậu nành sẽ được đầu tư lớn trong những năm sắp tới.

Hội chứng béo phì

Người Mỹ ngày càng béo hơn. Vào đầu những năm 1960, trọng lượng trung bình của một người đàn ông Mỹ là 75kg, của phụ nữ là 63,5kg. Giờ đây, trọng lượng trung bình của đàn ông là 86,6kg và cân nặng trung bình của một người phụ nữ Mỹ bằng đúng trọng lượng trung bình của đàn ông Mỹ cách đây 50 năm – 74kg.

Trong khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, số lượng người Mỹ bị coi là “béo phì” – chủ yếu là thừa khoảng 13,6kg trở lên – đã tăng lên gấp đôi. Có thể nói thế này, số lượng người bị cho là mắc “chứng bệnh béo phì” – thừa khoảng hơn 45kg – đã tăng lên gấp bốn lần. Ngày nay, ở Mỹ ước tính có khoảng 9 triệu người mắc bệnh béo phì. Như vậy ở Mỹ, số người mắc bệnh béo phì nhiều gấp đôi số người mắc bệnh

Alzheimer. Cũng có nghĩa là nhiều hơn dân số của bang Bắc Caronlina hoặc bang New Jersey. Con số trên thực sự là một gánh nặng về cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Tất nhiên, tất cả chúng ta đều hiểu sự xuất hiện của nhiều chiếc bụng phệ làm thay đổi cuộc sống Mỹ như thế nào. Ngành y tế cần thiết kế những chiếc xe cứu thương lớn hơn, những chiếc xe lăn to hơn, những chiếc máy chụp cắt lớp rộng và dài hơn. Các phương tiện giao thông cũng phải thích ứng với thực tế này, ghế ngồi xe buýt của hệ thống vận tải Chicago đã chính thức rộng hơn, và các hãng hàng không đôi khi phải thu gấp đôi tiền vé máy bay của một hành khách ngồi 2 ghế. Các sáng kiến kinh doanh xuất hiện nhan nhản, như các hãng sản xuất xe hơi thiết kế loại ghế xoay nhằm giúp người béo phì ra, vào xe dễ dàng hơn

– và những chiếc quan tài cũng được thiết kế rộng hơn 1,5 lần so với trước đây.

Chắc chắn là một vài ngành kinh doanh sẽ làm ăn phát đạt. Trong khi một số cửa hàng thời trang dành cho những người phụ nữ bé nhỏ đang tìm cách đóng cửa, thì Lane Bryant, nhà thiết kế đi đầu trong ngành “thời trang cỡ lớn cho người béo” đã mở hàng trăm cửa hàng mới. Ngành công nghiệp thực phẩm cũng trở nên thịnh vượng, các hệ thống cửa hàng ăn nhanh là một điển hình. Và, ở cấp độ khiêm tốn hơn là ngành công nghiệp giảm béo. (Mặc dù không có gì đảm bảo là mỗi ngành công nghiệp này đều hoàn thành sứ mệnh của mình. Alabama, bang có dân số phát triển nhanh nhất nước Mỹ đã có hơn 100 cửa hàng ăn nhanh KFC, trong khi chỉ có một cửa hàng Jenny Craig cung cấp sản phẩm và các chương trình giảm béo. Còn ở bang Kentuckey – tỷ lệ “cân đối” hơn – hơn 100 cửa hàng KFC và khoảng 4 cửa hàng Jenny Craig. Có phải thiên hạ đang biết một số điều mà chúng ta không biết, hay chỉ là vì họ không chú ý đến điều này?)

Ngay cả dịch vụ công cộng cũng trở nên quá tải, bởi lượng cân thừa ngày nay tính ra tốn khoảng 120 tỷ đô- la mỗi năm. Hiệp hội Quản trị ngành Hàng không gần đây đã tính đến việc mỗi hành khách trung bình nặng thêm 4,5kg khi tính toán tổng trọng lượng của mỗi chuyến bay. Ngành y tế tuyên bố cần coi chứng béo phì như một căn bệnh, nghĩa là cần thực hiện ngày càng nhiều ca phẫu thuật giảm cân. Năm 2004, Bộ Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã tiến hành “Chương trình hành động chống lại căn bệnh béo phì cấp quốc gia”, trong đó công khai lượng calorie trên mọi sản phẩm thực phẩm, thông tin dinh dưỡng trong các nhà hàng và những dược phẩm tốt cho người béo phì.

Nhưng sau tất cả những lưu tâm có hệ thống như vậy, dường như không ai thực sự tập trung vào thực tế rằng về mặt nhân khẩu học mà nói, thì không thể chống căn bệnh béo phì bằng cách tuyên truyền như vậy được. Trong khi chúng ta đang ngày càng béo lên theo thế hệ, thì ở một nhóm người Mỹ tỷ lệ người béo phì lại giảm đi rõ rệt: đó là nhóm những phụ nữ da đen. Theo nghiên cứu năm 2002 trên Báo cáo của Hiệp hội Y tế Hoa Kỳ (JAMA), số lượng phụ nữ nói chung mắc bệnh béo phì cao hơn 2 lần so với đàn ông, nhưng chỉ có 1/6 phụ nữ da đen vượt quá số cân cho phép – tỷ lệ chỉ gần bằng 1/3 so với bất cứ nhóm nhỏ phụ nữ hoặc đàn ông nào mắc bệnh này. Trên thực tế, mặc dù tất cả đều nói ngày càng có nhiều người mắc bệnh béo phì, thì tính trên tổng dân số, tỷ lệ phụ nữ da đen béo phì ngày nay cũng chỉ bằng cách đây 30 năm, trong khi tỷ lệ phụ nữ da đen đã tăng gần gấp đôi kể từ thời đó.

Nếu bạn suy nghĩ về điều này, bạn sẽ thấy đây là hiện tượng xuất hiện trong nền văn hóa nhạc pop. Oprah Winfrey, người phụ nữ da đen nổi tiếng nhất ở Hoa Kỳ thường xuyên bàn luận công khai về những thách thức của bà trong việc giảm cân. (Liệu Ellen hay Katie có làm được như vậy không?) Một trong những ban nhạc nóng bỏng nhất của những năm 1980 là Two Ton of Fun – gồm 2 người phụ nữ da đen béo ú đã thành công trong suốt hai thập kỷ khi hát lại bài “It’s Raining Men”. Và cánh đàn ông cũng không chịu thua.

Eddie Murphy cũng làm nên sự nghiệp từ một vai diễn đóng một phụ nữ da đen béo phì – từ phim Nutty Professor đến phim Norbit năm 2007, Murphy đã xây dựng hình tượng một nhân vật vui nhộn nhưng béo đến mức khó tồn tại người phụ nữ nào như vậy trong đời thực (nhân vật này do chính anh, một anh chàng gầy gò thủ vai). Martin Lawrence cũng xây dựng hình tượng tương tự trong phim Big Momma’s House và Big Momma’s House 2. Ngay cả Tyler Perry với những bộ phim như Diary of a Mad Black Women năm 2005 và Madea’s Family Reunion năm 2006, cũng làm những bộ phim nghiêm túc hơn, nhưng vẫn còn để lại nhiều trường đoạn về dì Madea béo ú.

Nhưng trong cuộc sống thực, đây mới là ý nghĩa thật sự của sự mất cân đối cân nặng. Hiện có khoảng trên 18 triệu phụ nữ da đen ở Mỹ. Nếu tỷ lệ béo phì là 1/6, thì sẽ có 3 triệu người mắc chứng béo phì. Theo nghiên cứu của JAMA năm 2006, những người béo phì thường là những người ở độ tuổi từ 50 đến 59, nghĩa là những người phụ nữ da đen béo nhất vẫn còn đang làm việc và bắt đầu thiên chức làm bà. Và đây mới là phần tệ nhất. Cũng theo một nghiên cứu của JAMA, đề tài này được theo đuổi trong vòng 7 năm, cho thấy những người phụ nữ béo phì ở độ tuổi trung niên có nguy cơ tử vong cao gấp 2 lần so với những người phụ nữ có cân nặng bình thường. Điều này khiến những người phụ nữ da đen trở thành một trong những đối tượng có nguy cơ tử vong cao nhất quốc gia.

Bạn có thể lường được mức độ nghiêm trọng của việc khoảng 2 triệu người phụ nữ da đen chết ở độ tuổi trung niên không? Mặc dù phụ nữ da đen chỉ chiếm khoảng 6% trong cơ cấu lao động của nước Mỹ, nhưng họ chiếm 7% trong tổng số người lao động trong ngành dịch vụ được qua đào tạo. Họ chiếm 23% trong toàn bộ ngành dịch vụ của Hoa Kỳ.

Những người bà da đen ở Mỹ đang nuôi dạy hoặc đang giúp đỡ trong việc nuôi 44% trẻ con da đen ở nước Mỹ – gấp hơn hai lần những người phụ nữ khác ở cùng độ tuổi cũng đang nuôi dạy trẻ.

Năm 2004, số những người phụ nữ da đen đi bầu cử là 60% – nhiều hơn 2 lần số phụ nữ Mỹ Latinh đi bầu cử, và chỉ thấp hơn tỷ lệ những người phụ nữ da trắng đi bỏ phiếu. Và những phụ nữ da đen là những

Một phần của tài liệu Những trào lưu mới trong xã hội mỹ (Trang 89 - 98)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(178 trang)