CHƯƠNG II. TƯ PHÁP QUỐC TẾ
3. Nguồn của Tư pháp quốc tế
Cũng giống như các ngành luật khác, Tư pháp quốc tế được điều chỉnh riêng biệt phù hợp với đối tượng điều chỉnh của nó.
Nguồn của tư pháp quốc tế chính là tổng thể các căn cứ dưới hình thức là cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lý mà thông qua đó cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh. (Theo nghĩa rộng). Nguồn của tư pháp quốc tế là những hình thức chứa đựng các quy phạm, nguyên tắc để điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. (Theo nghĩa hẹp).
Nguồn của tư pháp quốc tế có những đặc điểm đặc thù, bởi lẽ vừa chứa đựng các yếu tố nước ngoài, vừa có yếu tố pháp luật trong nước. Xuất phát từ
đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là quan hệ có tính chất đặc thù, do đó nguồn của tư pháp quốc tế cũng đặc thù và đa dạng hơn các ngành luật khác. Cụ thể bao gồm các nguồn sau:
a. Pháp luật quốc gia
Đây là loại nguồn phổ biến và chủ yếu của tư pháp quốc tế. Loại nguồn này còn được biết đến với tên gọi là nguồn quốc nội bao gồm một hệ thống các văn bản pháp luật do quốc gia ban hành cùng với các án lệ.
Do mỗi quốc gia có những điều kiện riêng về chính trị, kinh tế, xã hội,
… nên để chủ động trong việc điều chỉnh các quan hệ của Tư pháp quốc tế, mỗi quốc gia đã tự ban hành trong hệ thống pháp luật của nước mình các quy phạm xung đột trong nước. Văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất là hiến pháp. Văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn là các văn bản dưới luật thường do các cơ quan hành pháp, tư pháp ban hành.
Ví dụ: Một số bộ luật cơ bản quen thuộc ở Việt Nam như: BLDS năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật đầu tư năm 2014, …
b. Điều ước quốc tế
Bên cạnh pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các điều ước quốc tế về tư pháp quốc tế cho thấy sự nỗ lực to lớn của các quốc gia trong việc thống nhất hoá luật nội dung của các nước nhằm làm đơn giản hoá và hài hoà hoá việc điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế, góp phần thúc đẩy giao lưu dân sự, thương mại quốc tế phát triển.
Ví dụ: Cho tới nay, các hiệp định tương trợ và hợp tác tư pháp mà nước ta đã kí với hàng loạt các nước: Nga vào năm 1998; Cộng hòa Séc và Slovakia năm 1982, Cu ba năm 1984; Hungari năm 1985, … Ngoài ra, nước ta đã ký rất nhiều các điều ước quốc tế song phương cũng như đa phương:
Công ước Pari năm 1983 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (1981), năm 1995 gia nhập Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài thương mại, …
Tính đến nay, đã có khoảng 70 quốc gia và 01 tổ chức (Liên minh châu Âu) trở thành thành viên của Hội nghị La Haye về tư pháp quốc tế. Hiện Việt Nam là thành viên của Hội nghị nàỵ và đã tham gia hai công ước của Hội nghị, cụ thể là Công ước La Haye 1993 về bào vệ trẻ em và họp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế vào ngày 16/12/2010 và Công ước La Haye 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại vào ngày 16/3/2016.
c. Tập quán quốc tế
Tập quán quốc thế là những quy tắc xử sự được hình thành trong một thời gian dài, được áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời nhận được sự thừa nhận của đông đảo các quốc gia.
Có nhiều cách để phân loại tập quán quốc tế, song tập quán quốc tế thường được phân loại thành tập quán quốc tế chung và tập quán quốc tế vùng, khu vực. Tập quán quốc tế chung là loại tập quán có phạm vi áp dụng rộng lớn, hầu khắp trên thế giới, ví dụ: Các điều kiện thương mại quốc tế do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC - international chamber of commerce) ban hành lần đầu năm 1936, tên tiêng Anh là Incoterms (international commercial terms), được sửa đổi nhiều lần qua các năm và mới đây nhất là phiên bản năm 2010. Incorterms quy định những điều kiện thương mại thông dụng nhất trong mua bán hàng hoá quốc tế như FOB, CIF, EXW, DAP, DAT, ... nhằm giúp các bên trong mua bán hàng hoá quốc tế có cách hiểu thống nhất về tập quán mua bán hàng hoá quốc tế, từ đó giảm bớt những tranh chấp có thể xảy ra. Hoặc, các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP - The uniform customs and practice for documentary credits) của Phòng Thương
mại Quốc tế (ICC). Đây là tập hợp các tập quán và thực tiễn ngân hàng trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được quốc tế thừa nhận rộng rãi.
UCP được công bố lần đầu tiên vào năm 1993, được sửa đổi nhiều lần qua các năm, và mới đây nhất là UCP 600 được ICC thông qua ngày 25/10/2006 và có hiệu lực áp dụng từ 01/7/2007.
Tập quán quốc tế khu vực là tập quán quốc tế được sử dụng trong một khu vực địa lý xác định, thường bao gồm một số quốc gia. Chẳng hạn, các thương nhân của khu vực Bắc Hoa Kỳ (bao gồm Hoa Kỳ, Canada, và cả Mexico) đều rất ưa chuộng áp dụng các điều kiện thương mại theo tập quán của Bắc Hoa Kỳ (Các điều kiện thuơng mại này được quy định cụ thể trong Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (UCC - Uniform Commercial Code) như FOB của Bắc Hoa Kỳ hay CIF của Bắc Hoa Kỳ ...) trong buôn bán quốc tế. Các điều kiện thương mại này khác rất xa so với các điều kiện thương mại trong INCOTERMS 2010.
d. Án lệ và các nguồn khác
Là các bản án hoặc quyết định của Tòa án mà trong đó thể hiện các quan điểm của thẩm phán đối với các vấn đề pháp lý có tính chất quyết định trong việc giải quyết các vụ việc nhất định và mang ý nghĩa giải quyết đối với các quan hệ tương ứng trong tương lai. Ở các nước Anh – Mỹ, thực tiễn Tòa án là nguồn của cơ bản của pháp luật. Ở Đức, ngày nay, án lệ đã được công nhận là một nguồn luật. Trong trường hợp luật thành văn không quy định hoặc quy định không đầy đủ thì toà án có thể giải quyết vụ việc theo nguyên tắc riêng cùa toà nhưng phải tuân theo các nguyên tắc chung của pháp luật và đảm bảo sự công bằng. Toà án bảo hiến liên bang và các toà án cấp liên bang khác có thẩm quyền xây dựng án lệ. Toà án cấp dưới có nghĩa vụ phải tuân theo các án lệ này, nếu không, bàn án của toà án cấp dưới có thể bị toà án cấp trên kháng nghị giám đốc thẩm. Ở Pháp, án lệ là một thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc
nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó. ”
Hiện tại ở Việt Nam thì án lệ không được nhìn nhận với tư cách là nguồn của pháp luật nói chung và nguồn của tư pháp quốc tế nói riêng.