Nguyên tắc cơ bản của Tư pháp quốc tế

Một phần của tài liệu TƯ PHÁP QUỐC tế NGUYỄN QUANG MẠNH (Trang 28 - 31)

CHƯƠNG II. TƯ PHÁP QUỐC TẾ

4. Nguyên tắc cơ bản của Tư pháp quốc tế

Là những tư tưởng chính trị, pháp lý cơ bản, có tính bao trùm , toàn diện, ổn định, chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng, giải thích và áp dụng tư pháp quốc tế Việt Nam. Bên cạnh những nguyên tắc chung của pháp luật nước ta, tư pháp quốc tế Việt Nam còn có những nguyên tắc cơ bản thể hiện đặc trưng của ngành tư pháp quốc tế Việt Nam.

a. Nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chế độ sở hữu của các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau

Nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó không những đảm bảo cho hoạt động giải thích và áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam được vận hành một cách khách quan, trơn tru, không hề có định kiến, áp đặt, mà vẫn còn đảm bảo sự bình đẳng về pháp lý giữa các chủ thể đến từ các quốc gia khác nhau khi tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế, góp phần thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế phát triển.

Điều 12 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã gián tiếp ghi nhận nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chế độ sở hữu của các quốc gia khác nhau trên thế giới, cụ thể như sau: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn,

đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

b. Nguyên tắc quyền miễn trừ của quốc gia

Quyền miễn trừ của quốc gia trong lĩnh vực tư pháp quốc tế được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia như: Công ước Brussels 1926 về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền các nước, Công ước Vienna 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Liên Hợp Quốc năm 2004 về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia…

c. Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam.

Đây cũng là nguyên tắc xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại. Điều này được thể hiện rõ trong Tư pháp quốc tế Việt Nam.

Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. và điều 48 quy định thêm: “ Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam”.

d. Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên

Có thể thấy rõ nguyên tắc này trong nội dung một số đạo luật có liên quan như khoản 4 điều 4 Luật đầu tư năm 2014 quy định: “Đối với hợp đồng trong đó có ít nhất một bên tham gia là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 điều 23 của Luật này, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc tập quán đầu tư quốc tế nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam”.

Khoản 1 điều 687 BLDS năm 2015 quy định rõ: “ Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này…”

Nguyên tắc này góp phần đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong giao dịch tư pháp quốc tế, thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế phát triển.

e. Nguyên tắc có đi có lại

Nguyên tắc này sinh ra nhằm bảo hộ triệt để quyền, lợi ích chính đáng của công dân, pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài cũng như công dân, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam khi các chủ thể này tham gia vào hệ tư pháp quốc tế, tư pháp quốc tế Việt Nam đã xây dựng nguyên tắc có đi có lại trong một số trường hợp cụ thể. Khoản 1 điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

a) Bản án, quyết định về dân sự hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại…”

Điều 4 Pháp lệnh về tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế 2002 chỉ rõ: “Nhà nước Việt Nam áp dụng Đối xử tối huệ quốc và

Đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc bình đẳng, có đi có lại và cùng có lợi”.

Một phần của tài liệu TƯ PHÁP QUỐC tế NGUYỄN QUANG MẠNH (Trang 28 - 31)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(37 trang)
w