Các giá trị của nghề Công tác xã hội (1)

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn công tác xã hội (Trang 20 - 25)

Chương 1. KHÁI NIỆM, TRIẾT LÝ VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI

3. TRIẾT LÝ VÀ GIÁ TRỊ NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI

3.2. Các giá trị của nghề Công tác xã hội (1)

Giá trị là những quan niệm về sự khao khát định hướng hành động (Bengston và Lovejoy).

Hay giá trị là một chuẩn mực phân biệt những mục đích hoặc các hành động mà chúng ta tin tưởng là quan trọng để theo đuổi (1987, Tropman và Cox).

Như vậy, giá trị là những điều chúng ta muốn có (phải, nên, cần - đó là những câu muốn diễn tả giá trị). Mỗi người đều có một giá trị độc đáo, đó là giá trị cá nhân, giá trị gia đình, giá trị xã hội, giá trị nghề nghiệp.

Sự nhìn nhận giá trị của mỗi người khác nhau. Đôi khi ta cho rằng mỗi người đều hiểu, nên ta không đề cập đến hoặc đôi khi ta cho rằng ta và người khác có những giá trị khác nhau, nên ta cũng không nói đến những điều đó nữa. Có khi những giá trị đó lại cạnh tranh lẫn nhau.

Ví dụ: có người xem việc tự quyết là giá trị của con người cá nhân và coi đó là quan trọng. Song họ lại tin vào tính quan trọng trên hết của gia đình.

Các giá trị đôi khi lại đối đầu nhau nhưng vẫn tồn tại song song với nhau.

Chúng ta hiểu rằng con người phải có những nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống, và vì thế để sinh tồn con người phải không ngừng đấu tranh cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội. Và ngược lại, xã hội cần phải tạo ra những điều kiện và cơ hội cho con người được phát huy tiềm năng, được đáp ứng các nhu cầu cơ bản cần cho cuộc sống cá nhân, nhất là những cá nhân và nhóm xã hội yếu thế, thiệt thòi, dễ bị tổn thương.

Hay trong thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp, các đối tượng đều phải được chấp nhận cho dù họ là ai, nhưng chúng ta không thể chấp nhận những hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội. Điều này giải thích vì sao có khi các giá trị lại đối đầu nhau.

Điểm khác biệt giữa nhân viên xã hội với người khác là nhân viên xã hội hiểu được giá trị của mình rõ ràng và quan trọng hơn người nhân viên xã hội ý thức được giá trị của ngành vào quá trình thực hiện công việc. Sau đây là những giá trị chủ yếu trong công tác xã hội:

- Vì phúc lợi của con người: Phục vụ con người, đáp ứng các nhu cầu của con người là mục đích đầu tiên của công tác xã hội. Con người có những quyền cơ bản đã được luật pháp quốc tế và luật pháp của từng quốc gia quy định. Trong đó có quyền hưởng an sinh xã hội. Cho nên con người cần phải là đối tượng thụ hưởng chủ yếu và tham gia tích cực vào quá trình thực hiện các quyền con người. Các nguyên tắc về quyền con người luôn luôn được coi là nền tảng của công tác xã hội.

Điều 25 của Công ước quốc tế về quyền con người đã ghi rõ: “Mọi người đều có quyền được bảo đảm một mức sống cần thiết, đủ cho sức khoẻ và sự yên vui của bản thân và gia đình, bao gồm có đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở và được chăm sóc y tế, cũng như các dịch vụ xã hội cần thiết, và quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, bị đau ốm, tàn phế hoặc goá bụa, khi về già hoặc gặp những thiếu thốn vật chất khác trong những hoàn cảnh vượt quá khả năng đối phó của họ”.

Phúc lợi cho mọi người là mục tiêu hướng đích của quá trình xây dựng một xã hội tiến bộ, văn minh, một xã hội cho mọi người. Chính vì vậy, khi còn sống Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng được hưởng cơm no áo ấm, ai cũng được học hành". Khi nước nhà đã giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: "Nước nhà giành được độc lập, nhân dân được tự do mà đồng bào không được hưởng cơm no, áo ấm thì độc lập phỏng có ích lợi gì" và Người coi việc chăm nom đời sống hạnh phúc của nhân dân là trách nhiêm và bổn phận của Đảng và Chính phủ, điều này được thể hiện rất rõ trong chương trình Việt Minh (1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi".

Khi nước nhà đã hoàn toàn độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta vẫn kiên định đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh". Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế, Đảng ta chủ trương giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là hướng chiến lược thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta. Các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chăm lo phúc lợi cho con người đã được

thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992; trong các văn kiện của Đảng tại các kỳ đại hội và trong các văn bản pháp luật.

Chẳng hạn: Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng, các văn kiện đã nêu lên nhiều biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề xã hội: Tạo ra nhiều việc làm mới; mở rộng hệ thống Bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội; cải cách cơ bản chế độ tiền lương; đẩy nhanh các chương trình xoá đói, giảm nghèo; thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ con liệt sĩ, gia đình chính sách; kiểm soát quy mô dân số và từng bước nâng cao chất lượng dân số, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, mở rộng và hoàn thiện mạng lưới y tế; chăm sóc và bảo vệ trẻ em; đẩy mạnh phong trào toàn dân tập luyện thể dục - thể thao v.v.. đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, ngăn chặn và bài trừ các tệ nạn xã hội; ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS. Xây dựng lối sống văn minh, lành mạnh. Các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chăm lo phúc lợi cho con người đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật.

Để góp phần giải quyết các vấn đề xã hội nêu trên, ngành công tác xã hội có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc triển khai các chính sách, chương trình an sinh xã hội; trong đó nhân viên xã hội là những người cung cấp các dịch vụ xã hội cần cho phúc lợi của cá nhân, gia đình, cộng đồng và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.

- Vì sự công bằng xã hội: Công bằng xã hội là nền tảng của công tác xã hội.

Nghề công tác xã hội, mà trực tiếp là nhân viên xã hội luôn đấu tranh trước những bất công trong xã hội nhằm bảo đảm trên thực tế các quyền cơ bản của con người, nhất là việc đấu tranh chống lại mọi phân biệt xã hội. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân biệt nào. Điều này đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã khẳng định: "mọi người sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và các quyền" (Điều 1), "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân" (Điều 3).

Năm 1945, sau khi quân đội Liên xô đánh thắng chủ nghĩa phát xít, nhân dân ta đã làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông - Nam châu Á. Tại bản Tuyên ngôn lịch sử này có đoạn viết: "Tất cả mọi

người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ.

Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng;

dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:" Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

Đó là lẽ phải không ai chối cãi được

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

Chính vì thế, cho dù đất nước còn gặp muôn vàn khó khăn trong cuộc kháng chiến giữ gìn nền độc lập vừa mới giành được, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều chính sách xã hội liên quan đến đời sống của mọi tầng lớp nhân dân từ công nhân, nông dân, binh sĩ, trí thức đến trẻ em, phụ nữ, người già, người tàn tật, thương nhân ... Và để thực hiện kế hoạch kiến quốc (năm 1946), trong thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm:

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh".

(5)

Đặc biệt, quyền bình đẳng trước pháp luật ở Việt Nam đã được thể hiện ngay từ Hiến pháp 1946 - một bản Hiến pháp được ca ngợi ở nhiều phương diện trong đó có phương diện bảo vệ quyền con người và quyền bình đẳng trước pháp luật. Chẳng hạn Điều 6, 7 Hiến pháp 1946 quy định: "Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”; "Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”; Điều 16 Hiến pháp 2013 khẳng định: Mọi

người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Kế thừa tư tưởng lập hiến tiến bộ trong đó có những tư tưởng văn minh tiến bộ về quyền con người có từ những năm đầu thế kỷ và đặc biệt là Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992 tái khẳng định quyền bình đẳng trước pháp luật tại Điều 51 bằng việc khẳng định: Công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật. Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền Hiến định và bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc Hiến định. Chính vì vậy, nó không chỉ được thể hiện và cụ thể hóa trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong tất cả các lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật như: Hiến pháp 2013 và các Luật hiện hành.

- Tôn trọng phẩm giá con người: Chấp nhận đối tượng được xem là một trong các nguyên tắc hành động của nhân viên xã hội. Mỗi cá nhân đều có giá trị và nhân phẩm, bởi họ là con người. Tuy nhiên cần hiểu rằng tôn trọng phẩm giá khác với tôn trọng hành vi. Con người có quyền tự do, được luật pháp quốc tế và quốc gia quy định. Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác. Như vậy, trong thực hành công tác xã hội việc tôn trọng và thực hiện các quyền tự do của mỗi người chỉ bị giới hạn trong việc bảo đảm cho các thành viên được hưởng các quyền đó, các giới hạn này chỉ có thể do luật pháp quy định.

Hiến pháp năm 2013 ở nước ta cũng đã quy định: "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm ... Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm công dân". (6)

- Tin tưởng vào khả năng thay đổi tích cực của cá nhân và xã hội: Là con người, ai cũng có những mong muốn, khát vọng về một tương lai tốt đẹp cho cá nhân và xã hội. Họ không thể cam chịu hoàn cảnh hiện tại mà luôn đấu tranh, hành động để tạo ra những thay đổi có lợi cho cuộc sống của họ, cho sự phát triển xã hội. Lịch sử vận động và phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó. Trên thực tế, nhiều người nghèo đã không cam phận nghèo đói và họ đã cố gắng để vượt qua tình cảnh nghèo đói; nhiều người khuyết tật đã vượt lên số phận trong sinh hoạt, học tập và lao động, hoà nhập xã hội ...

Công tác xã hội bao gồm cả hệ thống lý thuyết và kỹ năng để điều chỉnh hành vi con người, hệ thống xã hội và môi trường xã hội. Bởi công tác xã hội đặt niềm tin vào sự thay đổi của con người và sự thay đổi của xã hội, đó là động lực cho hành

động của ngành công tác xã hội, của nhân viên xã hội chuyên nghiệp trong quá trình giúp đỡ con người thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi, cũng như những thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi xã hội đối với con người trong tiến trình xây dựng và phát triển xã hội.

- Đóng góp vào sự cải tiến các thể chế và thiết chế tổ chức: Vì chất lượng cuộc sống của con người, công tác xã hội ý thức rằng, những khó khăn, trở ngại của cá nhân, gia đình, cộng đồng không chỉ đơn thuần do những hạn chế, yếu kém từ phía bản thân mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng mà còn do từ phía môi trường xã hội tác động. Những tác nhân này có thể là chính sách, thể chế và thiết chế chưa phù hợp, gây ra những bất lợi cho con người. Trong quá trình hành động, người nhân viên xã hội không chỉ thuần tuý cung cấp các dịch vụ xã hội để đáp ứng các nhu cầu của con người, thực hiện công bằng xã hội mà còn tác động đến việc cải cách chính sách, thể chế và thiết chế xã hội vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người.

Một phần của tài liệu Giáo trình nhập môn công tác xã hội (Trang 20 - 25)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(80 trang)