3. CHUYỆN TRẦN THÁI TÔNG
5.6 VỀ KINH LÀM CHAY CHO CHỊ
“Tôn đức niên lão mựa dời đường xa.”
Nhân Tông mỉm cười thốt ra:
“Tứ đại thủy hỏa đâu là no tan.
Giá Cá Bản Lai Bất Can,
Có đâu sinh diệt hòa toan nhọc mình.
Lòng Tao quảng độ chúng sinh,
Đầu Đà khổ hạnh giáo thanh truyền đời.
Xuân thu vãng giáo mọi nơi,
Hạ đông yển tọa lại ngồi non xanh.”
Thập nguyệt ngũ nhật bình minh,
Thiên Thụy công chúa cong mình phải đau.
Gia đồng Triệu Bản lên tâu,
Đến Tử Tiêu am khấu đầu lạy vua:
“Công chúa bệnh đốc chẳng qua.”
Nhân Tông thấy thốt nói ra lời này:
“Nhân duyên thời tiết vậy vay, Có sinh có tử xưa nay hằng lề.”
Nhân Tông chống gậy ra đi,
Hành giả hộ trì một người chân tay.
Ba ngày đến kinh đô rày,
Lập đàn phó chúc một ngày tái quy.
* * * Bảo Sát gián Tổ mọi lời:
“Tôn đức niên lão mựa dời đường xa.”
Nhân Tông mỉm cười thốt ra:
“Tứ đại thủy hỏa đâu là no tan.
Câu: “Tứ đại thủy hỏa đâu là no tan”, trong bản in năm 1932 để là
"Tứ đại thủy hỏa dầu là nó tan" có nghĩa hơn. Đây tôi giải thích đoạn này:
Khi ngài Điều Ngự đã lớn tuổi mà Ngài lại thích đi nơi này, nơi kia để giáo hóa. Cho nên:
“Bảo Sát gián Tổ mọi lời”: Người đệ tử là Bảo Sát mới khuyên can Tổ. Chữ gián là khuyên can.
“Tôn đức niên lão mựa dời đường xa”: Thầy là bậc tôn đức, tuổi đã già chớ có đi đường xa xôi.
“Nhân Tông mỉm cười thốt ra”: Nhân Tông liền mỉm cười và nói, thốt
ra tức là nói.
“Tứ đại thủy hỏa dầu là nó tan”: Nghĩa là thân này do đất, nước, gió, lửa, hợp lại thành, có hợp ắt có ngày phải tan rã. Vì vậy mặc tình nó hợp, mặc tình nó tan có gì đâu quan trọng, mà điều quan trọng ở đây là:
“Giá Cá Bản Lai Bất Can,
Có đâu sinh diệt hòa toan nhọc mình.
Lòng Tao quảng độ chúng sinh,
Đầu Đà khổ hạnh giáo thanh truyền đời.
Xuân thu vãng giáo mọi nơi,
Hạ đông yển tọa lại ngồi non xanh.”
Lời của ngài Nhân Tông nói tiếp, Ngài bảo rằng:
“Giá Cá Bản Lai Bất Can”: Giá cá là cái ấy, bản lai là xưa nay, bất can là không dính dáng, không can thiệp. Nghĩa là tuy thân tứ đại có tan rã, có hao mòn, nhưng cái ấy tức là cái thể chân thật của mình, cái đó xưa nay nó không bị can thiệp, hay không bị dính dáng gì hết. Nó không bị vô thường làm hư hoại, không bị tứ đại tan rã làm cho mất đi. Cái đó không bị tất cả luật vô thường chi phối, không vì chuyện hợp tan của tứ đại làm cho nó phải bị khó khăn. Vì vậy Ngài nói “Có đâu sinh diệt hòa toan nhọc mình”. Nó là cái bất sinh bất diệt thì trong cái sinh diệt này, đâu nhọc gì đối với cái đó, nên Ngài mới nói:
“Lòng Tao quảng độ chúng sinh,
Đầu Đà khổ hạnh giáo thanh truyền đời”.
Chữ tao đúng ra bây giờ gọi là ta, chớ nói tao thì nghe hơi xưa. Nghĩa là lòng ta muốn độ rộng hết tất cả chúng sinh, nên dùng hạnh Đầu Đà. Hạnh Đầu Đà tức là khổ hạnh. Thanh là lời nói, dùng lời giáo hóa truyền dạy cho người đời. Như vậy đối với Ngài tuy tuổi lớn, tuy có nhọc nhằn mà Ngài biết trong cái thân tứ đại nhọc nhằn, vẫn có cái chưa từng sinh, chưa từng diệt, thì có liên hệ gì mà phải lo, phải nhọc. Bởi vì lòng Ngài lúc nào cũng muốn độ hết chúng sinh, cho nên tu hạnh Đầu Đà và đi giảng dạy cho mọi người hiểu đạo, đó là bản nguyện lợi tha của Ngài.
“Xuân thu vãng giáo mọi nơi”: Mùa xuân, mùa thu Ngài đi nơi này nơi kia để giáo hóa. Chữ vãng là lai vãng là đi tới, đi lui.
“Hạ đông yển tọa lại ngồi non xanh”: Mùa hạ và mùa đông thì ở yên một chỗ. Chữ yển là yên, yển tọa là ngồi yên một chỗ ở trên núi xanh. Như vậy, ở đây chúng ta thấy đúng là khí hậu miền Bắc nhất là khí hậu ở Yên Tử, mùa hạ và mùa đông. Mùa hạ thì an cư kiết hạ, mùa đông thì trời rét, hai
mùa này Ngài ở tại núi để tu hành. Mùa xuân ấm áp và mùa thu mát mẻ thì Ngài đi giáo hóa nơi này nơi kia. Như vậy, lời khuyên của Bảo sát là Ngài đã lớn tuổi không nên đi nơi này nơi kia xa xôi. Khi nghe khuyên như vậy, Ngài mỉm cười và đáp rằng, thân tứ đại này mặc tình nó còn hay mất, không quan trọng, bởi vì còn có "cái ấy" không bị vô thường dính dáng đến nó. Vì vậy Ngài không phải bận tâm, không phải lo lắng. Bởi tâm thương người, muốn độ hết chúng sinh nên Ngài phải tu hạnh Đầu Đà, phải đi giáo hóa cho mọi người. Thế nên trong một năm, hai mùa xuân và thu, Ngài đi giáo hóa, chỉ có mùa đông, mùa hạ thì ở trên núi tu hành.
Thập nguyệt ngũ nhật bình minh,
Thiên Thụy công chúa cong mình phải đau.
Gia đồng Triệu Bản lên tâu,
Đến Tử Tiêu am khấu đầu lạy vua:
“Công chúa bệnh đốc chẳng qua”.
Nhân Tông thấy thốt nói ra lời này:
“Nhân duyên thời tiết vậy vay, Có sinh có tử xưa nay hằng lề.”
Nhân Tông chống gậy ra đi,
Hành giả hộ trì một người chân tay.
Ba ngày đến kinh đô rày,
Lập đàn phó chúc một ngày tái quy.
“Thập nguyệt ngũ nhật bình minh,
Thiên Thụy công chúa cong mình phải đau”.
Thập nguyệt là tháng mười, ngũ nhật là ngày mùng năm. Đến ngày mùng năm tháng mười, vào buổi sáng, công chúa Thiên Thụy ở trong mình bệnh, không khỏe, mới sai gia đồng là Triệu Bản lên am Tử Tiêu để tâu với vua, báo tin cho vua hay.
“Công chúa bệnh đốc chẳng qua”: Tức là công chúa bệnh nặng lắm, chẳng qua là khó qua được. Bà công chúa Thiên Thụy là chị của Ngài.
“Nhân Tông thấy thốt nói ra lời này”: Khi nghe nói như vậy, Ngài bảo rằng:
“Nhân duyên thời tiết vậy vay”: Tức là thời tiết nhân duyên là như thế.
“Có sinh có tử xưa nay hằng lề”: Đó là lẽ vô thường của xưa nay, có sinh ra thì phải có tử, chớ không ai tránh khỏi điều này.
“Nhân Tông chống gậy ra đi,
Hành giả hộ trì một người chân tay”.
Tuy vậy Ngài cũng chống gậy xuống núi để thăm chị. Đi theo Ngài chỉ có một người hành giả tức là một người thị giả theo hầu thôi, chớ không có ai nhiều.
“Ba ngày đến kinh đô rày,
Lập đàn phó chúc một ngày tái quy”.
Từ núi Yên Tử về tới kinh đô, Ngài đi trong ba ngày. Đến kinh đô Ngài lập đàn cầu nguyền, phó chúc tức là dặn dò xong rồi hôm sau, Ngài trở về núi lại. Nghĩa là chị ruột đau nặng cho hay về, chỉ lập đàn cầu nguyện rồi từ giã đi chớ không nấn ná ở lại. Đó là tinh thần đạo lý rất rõ ràng.
---o0o---