3. CHUYỆN TRẦN THÁI TÔNG
5.4 THÀNH ĐẠO VUA ĐI HÀNH HÓA
Vua ngự Yên Tử bằng nay,
Tụng kinh thiền định đêm ngày cần tu.
Thiên hạ phủ huyện lộ chu,
Hưng sùng đạo Bụt thành đô trong ngoài.
Thiên hạ học đạo mọi nơi,
Kiến Phật trai tăng nối đời Thiền tông.
Thì vừa Giáp Thìn niên trung,
Đầu Đà hành hóa tham lòng thế gian.
Du phương sơn thủy mọi ngàn,
Người tôn kẻ báng thế gian sự thường.
Dân phàm chẳng biết Đế Vương,
Thế đầu học đạo chẳng phương thân mình.
Dù ai dẻ dói kiêu hành,
Chứng được pháp nhẫn tâm tình vui thay.
Giảng pháp Nam Bắc Đông Tây,
Anh Tông có biểu thỉnh nay vào thành.
No mặt bách quan triều đình,
Cùng thụ giáo pháp tu hành làm nơi.
Tại gia tiệm giới tiệm trai,
Tác phúc niệm Phật thương loài chúng sinh.
Khoan nhân mẫn tuất nhân tình,
Phúc truyền con cháu hiển vinh muôn đời.
Ngày rằm mồng một chả nguôi,
Tiến dâng lục cúng Bụt trời chứng minh.
Tây phương cũng được thượng trình, Di Đà tiếp dẫn hóa sinh Liên Đài.
Hoặc người giải thoát trần ai,
Chẳng tham phú quí, tiền tài lợi danh.
Xuất gia đầu Phật tu hành,
Quả chứng công thành cứu được tổ tiên.
* * * Vua ngự Yên Tử bằng nay,
Tụng kinh thiền định đêm ngày cần tu.
Thiên hạ phủ huyện lộ chu,
Hưng sùng đạo Bụt thành đô trong ngoài.
Từ khi nhà vua lên tu ở núi Yên Tử, ngày đêm Ngài chỉ chuyên cần tụng kinh, tọa thiền. Nghe vua đi tu nên thiên hạ trong phủ, huyện, lộ, châu, (chữ chu là châu), ai ai cũng kính thờ đạo Phật, kể cả trong ngoài thành đô cũng vậy.
Thiên hạ học đạo mọi nơi,
Kiến Phật trai tăng nối đời Thiền tông.
Thì vừa Giáp Thìn niên trung,
Đầu Đà hành hóa tham lòng thế gian.
Du phương sơn thủy mọi ngàn,
Người tôn kẻ báng thế gian sự thường.
Ngài lên núi vào năm 1299 đến nay là năm Giáp Thìn 1304, trong khoảng năm, sáu năm này, Ngài không đi đâu chỉ ở chùa trên núi tu.
“Thiên hạ học đạo mọi nơi,
Kiến Phật trai tăng nối đời Thiền tông”.
Khắp nơi mọi người đều học đạo, dựng lập điện Phật, cúng dường chúng tăng để nối dòng Thiền tông.
“Thi vừa Giáp Thìn niên trung,
Đầu Đà hành hóa tham lòng thế gian”.
Đến giữa năm Giáp Thìn, Ngài tu hạnh Đầu Đà đi giáo hóa nơi này
nơi kia để truyền bá và dọ hiểu lòng người ở thế gian.
“Du phương sơn thủy mọi ngàn”: Du phương tức là dạo khắp mọi nơi nào sông, nào rừng núi, nào các bến bờ.
“Người tôn kẻ báng thế gian sự thường”: Khi đến nơi này, lúc dạo nơi kia, có người hiểu biết quí kính, tôn trọng một ông vua dám bỏ ngai vàng đi tu. Người không biết lại phỉ báng xem thường như kẻ ăn mày. Như vậy, tuy Ngài là vua đi tu mà vẫn có người tôn kính, có kẻ phỉ báng, đó là chuyện thường ở thế gian.
Dân phàm chẳng biết Đế Vương,
Thế đầu học đạo chẳng phương thân mình.
Dù ai dẻ dói kiêu hành,
Chứng được pháp nhẫn tâm tình vui thay.
Khi Ngài đi tu, dân chúng không biết Ngài là vua, nên thấy một ông thầy tu cạo tóc học đạo không thương thân mình. Chữ thế đầu tức là cạo tóc, chữ phương là hại; cạo tóc học đạo chẳng hại thân mình, chẳng hại tức là không có thương. Như vậy người đời chỉ thấy Ngài là một thầy tu cạo tóc học đạo không thương thân mình. Nghĩa là Ngài sống rất kham khổ, không thương, không nghĩ đến thân, nên nói:
“Dân phàm chẳng biết Đế Vương,
Thế đầu học đạo chẳng phương thân mình”.
“Dù ai dẻ dói kiêu hành”: Chữ dẻ dói nghe rất khó hiểu. Dẻ dói là khinh bạc, kiêu hành tức là kiêu căng. Dầu cho ai có khinh bạc, có kiêu căng.
“Chứng được pháp nhẫn tâm tình vui thay”: Ngài được vô sanh pháp nhẫn rồi, nên chê khen hay khinh bạc Ngài cũng vui chớ không buồn, không bực. Còn chúng ta nếu được làm vua mà đi tu, có ai khinh, chắc chịu không nổi. Bởi vì tự nghĩ, ta đây thế này mà họ dám xem thường, còn Ngài là một ông vua đi tu mà bị người khinh hay bị người coi rẻ gì cũng được, đối sao cũng tốt, vì Ngài được vô sanh nhẫn rồi nên an nhiên vui vẻ. Chữ dẻ dói ở bản khác ghi là dễ dãi ; kiêu hành ghi là nhiều hàng, nghe khó hiểu. Ở đây chữ dẻ dói, kiêu hành là khinh bạc và kiêu căng ; nghĩa là có vẻ coi rẻ, khinh khi, không quí trọng.
Giảng pháp Nam Bắc Đông Tây,
Anh Tông có biểu thỉnh nay vào thành.
No mặt bách quan triều đình,
Cùng thụ giáo pháp tu hành làm nơi.
Tại gia tiệm giới, tiệm trai,
Tác phúc niệm Phật thương loài chúng sinh.
Khi nghe tin Ngài đi giáo hóa nơi này nơi kia, vua Anh Tông mới làm biểu thỉnh Ngài về để giáo hóa trong thành. Khi Ngài trở về thành.
“No mặt bách quan triều đình”: Chữ no mặt bách quan là đủ mặt bá quan trong triều.
“Cùng thụ giáo pháp tu hành làm nơi”: Tức là ai nấy cũng đều qui y, thọ giáo, tu hành.
“Tại gia tiệm giới tiệm trai”: Những người thọ giáo, tức nào là trai giới, tu theo tiệm tiến, nào là tam quy, ngũ giới v.v...
“Tác phúc niệm Phật thương loài chúng sinh”: Ngài dạy phải làm phước, phải niệm Phật, phải thương các loài chúng sinh.
Khoan nhân mẫn tuất nhân tình,
Phúc truyền con cháu hiển vinh muôn đời.
Ngài rằm mồng một chả nguôi,
Tiến dâng lục cúng, Bụt trời chứng minh.
Lời dạy này chắc là của ngài Chân Nguyên. Ngài nói:
“Khoan nhân mẫn tuất nhân tình”: Khoan là mở rộng lòng, nhân là thương yêu mọi người, mở rộng lòng thương yêu mọi người ; chữ mẫn là thương xót, chữ tuất là giúp đỡ, mở rộng lòng thương, giúp đỡ mọi người, nhân tình tức là tình đời. Như vậy Ngài dạy phải tu bằng cách mở rộng lòng mình, thương yêu mọi người để giúp đỡ họ, đó gọi là tu. Được như vậy:
“Phúc truyền con cháu hiển vinh muôn đời”: Phúc truyền cho con cháu được giàu sang muôn đời.
“Ngài rằm, mồng một chả nguôi”: Tức là những ngày đó phải luôn luôn nhớ không thể quên.
“Tiến dâng lục cúng, Bụt trời chứng minh”: Phải dâng lục cúng để cúng Trời, cúng Phật. Lục cúng là cúng những gì? Thường thường làm lễ lục cúng, là dâng hương, đăng, hoa, quả, trà, phạn gọi là lục cúng.
Tây phương cũng được thượng trình, Di Đà tiếp dẫn hóa sinh Liên Đài.
Hoặc người giải thoát trần ai,
Chẳng tham phú quí, tiền tài lợi danh.
Xuất gia đầu Phật tu hành,
Quả chứng công thành cứu được tổ tiên.
Đây là tư cách của ngài Chân Nguyên, chớ không phải của Sơ tổ Trúc Lâm. Ngài Chân Nguyên nói rằng nếu người biết dâng lục cúng thì sau này:
“Tây Phương cũng được thượng trình, Di Đà tiếp dẫn hóa sinh Liên Đài”.
Nghĩa là được về Tây Phương, được Phật Di Đà tiếp dẫn lên đài sen.
“Hoặc người giải thoát trần ai,
Chẳng tham phú quí tiền tài lợi danh”.
Người nào tu giải thoát trần ai thì không còn tham giàu sang phú quí, cả tiền tài, lợi danh, đều không tham hết.
“Xuất gia đầu Phật tu hành,
Quả chứng công thành cứu được tổ tiên”.
Nếu người tu chứng được quả thì sau này độ được tổ tiên mình. Như vậy phần căn bản của ngài Điều Ngư đi giáo hóa đã được tóm tắt lại ở phần trên.
---o0o---