Hình ảnh tổn thương rất đa dạng, phải phân tích cẩn thận qua các phim phổi thẳng, nghiêng, cắt lớp và đỉnh ưỡn. Có thể chụp nhiều phim ở nhiều thời điểm khác nhau để theo dõi diễn tiến của tổn thương đối với điều trị. Các hình ảnh thường gặp:
Nốt: Rất thường gặp, kích thước 1-2 mm đến 1 cm rời rạc hay gôm tụ lại thành đám thâm nhiễm. Tổn thương thâm nhiễm chiếm khoảng 50-70% trong lao thứ phát.
Bóng mờ từng đám: ít gặp hơn, có thể theo hệ thống hay không, đông nhất hay không đồng nhất.
Hình ảnh hang: Một hình sáng được giới hạn rõ bởi một bờ cản quang. Để xác định sự có mặt của hang, điểm quan trọng là phải thấy bờ liên tục. Hang có kích thước to nhỏ rất khác nhau, có thể một hay nhiều hang, thường khu trú bất kỳ nơi nào của phổi nhưng thường gặp ở thùy đỉnh và sau của phổi, bờ hang có thể dày hay mỏng tùy theo lao mới hay cũ.
Hình lục lạc: Một bóng mờ hơi tròn, rất đậm nằm bên trong hang được bao học bởi một vòng sáng. “Hột” là một khối bã đặc di động ít nhiều trong hang lao, khi bệnh nhân thay đổi tư thế. “Hột” đôi khi do một khối nấm phổi, ghép vào bên trong hang lao.
Hình phế quản dẫn: Có thể được thấy rõ hoàn toàn, nhất là những hang dưới đòn, có dạng hai đường kẻ mảnh, xiên xuống dưới và vào trong, hướng về cực trên của rốn phổi, đường kẻ thẳng, không phải luôn luôn liên tục, song song dày từ 0,5-1 mm.
Khi có chổ nối tiếp của khe sáng với hang có hình vợt bóng.
Hình mờ đậm tròn: Thường gặp trong lao phổi, năm ở bất kỳ nhưng hay gặp ở thùy trên, kích thước thay đổi, đặc điểm chủ yếu là rất đậm, hình tròn hay bầu dục, bờ thường hoàn toàn đều đặn, có thể có những nốt vôi hóa ở trong bóng mờ. Trung tâm của chúng có thể là hình sáng tròn, dẹt như một khe hoặc không đều, nhưng không bao giờ có mực nước hơi. Hình mờ đậm tròn có thể là u lao thật sự, có thể là tổn thương bã đậu và cũng không loại trừ hình ảnh của ung thư phổi - phế quản.
Đường mờ: Đó là các đường mờ, rộng từ 0,5-1 mm thẳng hoặc cong, thường có hướng xiên xuống dưới và vào trong đi từ vùng hạ đòn tới cực trên rốn phổi. Nói chung chúng không song song với nhau mà bắt chéo nhau, đan lại thành hình vân đá, hình lưới.
Xơ và vôi hóa: Tổn thương lao là một quá trình vừa phá hủy vừa hàn gắn. Các tổ chức xơ phát triển ngay trong thời gian có tổn thương viêm cấp tính, có tác dụng hạn chế vi khuẩn lao lan tràn, song cũng hạn chế sự ngấm thuốc của các thuốc kháng lao.
Tổ chức bã đậu cũng bị khô dần, lắng đọng canxi và hình thành các hạt vôi. Hình vôi hóa chủ yếu dựa trên một đặc điểm đó là đậm độ, rất đậm, hình tròn hoặc bầu dục, đường kính 2-5mm gặp nhiều nhất ở đỉnh phổi. Nốt vôi hóa thường gặp trên phim lao phổi. Đây là dấu hiệu chẩn đoán nguyên nhân.
Các hình ảnh khác
- Hình ảnh màng phổi:
+ Tràn dịch màng phổi: Một bóng mờ đồng nhất, đậm độ cao hơn xương sườn, xóa góc sườn hoành và góc tâm hoành, giới hạn trên rõ, hướng lên trên và ra ngoài, không thể thấy nhu mô phổi bên trong. Có 3 mức độ tràn dịch màng phổi: lượng ít (chỉ xóa góc sườn hoành); lượng vừa (xóa góc sườn hoành và tâm hoành và giới hạn trên là một đường cong, bề lõm hướng vào trong trung thất); lượng nhiều chiếm toàn bộ cả một phế trường (mờ đồng nhất một bên phế trường đẩy trung thất sang phía đối diện).
Có hai kiểu tràn dịch màng phổi: khu trú và lan tỏa. Trong kiểu khu trú có thể có tràn dịch sau: tràn dịch màng phổi thể dưới phổi (trên cơ hoành), thể nách, thể rãnh liên thùy và thể trung thất.
+ Trong trường hợp tràn mủ hay máu màng phổi thì giới hạn trên của đường mờ là một đường thẳng nằm ngang hay cong lên.
+ Tràn khí màng phổi: Là một hình sáng không có nhu mô phổi và mạch máu, có thể thấy rõ đường mờ màng phổi rất mỏng hay dày hơn phân cách nhu mô phổi và vùng bị tràn khí. Trong trường hợp tràn khí lượng nhiều làm cho mô phổi bị xẹp về rốn phổi tạo thành hình ảnh “mỏm cụt” dính vào trong trung thất và đẩy trung thất sang phía đối diện.
+ Tràn khí - tràn dịch màng phổi: Ngoài hai hình ảnh trên phối hợp còn có hình ảnh mực nước hơi dịch là đường thẳng nằm ngang phân cách vùng ánh sáng (tràn khí) ở trên và vùng mờ đồng nhất (tràn dịch) ở dưới.
+ Vôi hóa màng phổi: Dễ thấy được vì đậm độ cao đặc biệt và vị trí của nó, hình vôi màng phổi rất đa dạng, giống như hình san hô, hình ảnh nhánh cây. Hình ảnh dày dính màng phổi là đường mờ đậm độ cao chạy dọc sát bờ trong của lồng ngực (bình thường thì không thấy màng phổi).
- Hình rối loạn thông khí:
+ Những đám mờ hình tam giác định khu rõ một thùy hay một phân thùy, chứng tỏ có sự rối loạn về thông khí do tắc nghẽn phế quản trong lao mới hoặc lao cũ. Các thùy luôn bị tổn thương là thùy trên phổi phải và thùy giữa.
+ Thùy trên phổi phải có thể teo lại thành một bóng mờ còn dày khoảng 1 -2 cm, dán vào trung thất, còn thùy giữa giống như một dài mờ chỉ còn nhìn thấy được ở
tư thế nghiêng, xiên xuống dưới ra trước, đi từ rốn phổi đến góc trước và dưới của lồng ngực. Các hình ảnh này gợi ý cần cho soi phế quản và chụp phế quản cản quang.
- Mờ do hạch:
+ Hiếm gặp trong lao phổi thứ phát, hình hạch là dấu hiệu Xquang phổi nổi bật được thấy trong lao nguyên phát.
Hình ảnh lao phổi thứ phát trên Xquang
- Mặc dù lao thứ phát có thể ảnh hưởng lên bất kỳ thùy hoặc phân thùy nào của phổi, nhưng sự phân phối tổn thương đặc trưng thường gợi ý đến chẩn đoán bệnh.
- 95% tổn thương lao phổi khu trú ở phân thùy đỉnh hoặc sau của thùy trên hoặc phân thùy đỉnh của thùy dưới.
- Phân thùy trước của thùy trên thì hầu như không bao giờ bị tổn thương.
- Dạng tổn thương nhu mô điển hình là hình ảnh đông đặc phổi đồng nhất hay không đồng nhất. Thường có những đường mờ nối vùng tổn thương với rốn phổi cùng bên.
- Hình ảnh hang thì thường gặp, hiếm khi có phì đại hạch rốn phổi. Hang lao mới có bờ dầy, bề mặt bên trong nhẵn, không có mực nước - hơi và có nhiều thâm nhiễm dạng nốt xung quang hang.
- Khi tổn thương phổi trở nên mạn tính, chúng trở nên có giới hạn rõ hơn, đường nét không đều.
- Hình ảnh tổn thương lao cũ: hình hang có bờ mỏng hoặc những nốt vôi hóa hoặc hình ảnh những giải xơ gây co kéo nhu mô phổi, làm giảm thể tích phổi. Các hình ảnh này có thể riêng lẻ hoặc phối hợp.
Cần phân biệt hang lao với - Áp xe phổi:
+ Mực nước - hơi nổi bật.
+ Thường gặp ở thùy dưới.
+ Dấu hiệu lâm sàng đặc biệt liên quan đến động kinh, nghiện rượu, sâu răng.
- Carcinoma hoại tử trung tâm thường có bờ trong nham nhở không đều.
Tóm lại, có thể nói chắc chắn rằng không thể chẩn đoán xác định lao phổi trên một phim Xquang, nhất là khi đó chỉ có một phim duy nhất (sự quyết định là chẩn đoán vi khuẩn lao dương tính). Tuy nhiên có thể nhấn mạnh vào một vài yếu tố Xquang cho
phép hướng về chẩn đoán lao phổi, dù không chắc chắn. Đó là các yếu tố: tổn thương ở hai bên phổi, tổn thương ở đỉnh phổi, các nốt rải rác ở mô phổi quanh tổn thương chính, nhất là tổn thương hang, kết hợp di chứng màng phổi với tổn thương mô phổi. Các yếu tố trên càng kết hợp với nhau càng có xu hướng nghĩ đến lao phổi.
Lao sớm hoặc bắt đầu thường được coi là lao ít. Cũng như người ta có thói quen lầm lao nhiều (advanced tuberculosis) là lao cũ hay mạn tính. Song những từ “sớm”
(early), “bắt đầu” (incipient),” mạn tính” (chronic), “cũ” (old) có ý nghĩa về thời gian, trong khi những từ “ít” (minimal), “vừa”(moderate), “nhiều” (avanced) có ý nghĩa về khối lượng mô phổi bị bệnh.