Mô tả thực trạng kiến thức phòng và xử trí phản vệ

Một phần của tài liệu THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHẢN VỆ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ (Trang 27 - 45)

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.2 Mô tả thực trạng kiến thức phòng và xử trí phản vệ

3.2.1 Nhận thức về phản vệ

Việc tiếp cận với phản vệ

STT Đặc điểm Không

Tần số(n)

Tỷ lệ(%)

Tần số(n)

Tỷ lệ(%) 1.1 Thời gian gần nhất bạn có đọc tài liệu liên

quan đến phản vệ? 93 93.9 6 6.1

1.2 Thời gian gần nhất bạn có đọc thông tư 51

của BYT 93 93.9 6 6.1

1.3 Bạn đã từng được học hay được tập huấn về

phản vệ chưa? 90 90.9 9 9.1

1.4 Bạn đã từng phát hiện và xử lý phản vệ

chưa? 66 66.7 33 33.3

Nhận xét:

- Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 99 người tham gia nghiên cứu. Phần lớn các bạn có quan tâm đến các tài liệu về phản vệ, đặc biệt là thông tư 51 của BYT (93,9%). Và có (90,9%) đã được tập huấn về phản vệ.

- Có 66 nhân viên (66,7%) đã từng phát hiện và xử trí tình trạng phản vệ hoặc tham gia xử trí cùng (?)

Kiến thức về nguyên nhân gây phản vệ

STT Đặc điểm Đúng Sai

n % n % 1.5 Hoạt động gắng sức có gây tình trạng phản vệ được

không? 32 32.3 67 67.7

1.6 Thời tiết lạnh có gây tình trạng phản vệ được không? 46 46.5 53 53.5 1.7 Khi xuất hiện các triệu chứng phản vệ mà không xác

định được nguyên nhân. Gọi là phản vệ gì? 40 40.4 59 59.6 1.8 Sau khi tiếp xúc với di nguyên thấy xuất hiện mày

đay, ngứa thì gọi là dị ứng hay phản vệ 54 54.5 45 45.5 Nhận xét:

- Thông thường sau khi tiếp xúc dị nguyên nếu rơi vào 1 trong 3 bệnh cảnh lâm sàng theo hướng dẫn của thông tư 51 thì việc xác định phản vệ là khá rõ. Nhưng có bệnh nhân vẫn xuất hiện tình trạng phản vệ với những nguyên nhân rất hiếm gặp như gắng sức (phản vệ gắng sức), do thời tiết lạnh (phản vệ do lạnh). Hoặc có khi vẫn là tình trạng phản vệ thật sự mà không xác định được nguyên nhân (phản vệ không rõ căn nguyên)

- Ở nguyên cứu này cho thấy: Có 67,7% cho rằng gắng sức không liên quan đến phản vệ. 53,5% thời tiết lạnh không gây ra phản vệ. 59,6% không gọi tên được tình trạng phản vệ khi không xác định được dị nguyên.

- Tỷ lệ phân biệt tình trạng phản vệ hay dị ứng theo hướng dẫn của thông tư 51 là gần tương đương nhau. 54,5% nhận định đúng khái niệm phản vệ sau khi tiếp xúc với di nguyên thấy xuất hiện mày đay, ngứa. 45,5% vẫn cho rằng đó là tình trạng dị ứng.

3.2.2 Nhận biết về triệu chứng lâm sàng của phản vệ

STT Đặc điểm Đúng Sai

n % n %

2.1 Có biểu hiện đau buốt hoặc sưng to tại chỗ tiêm

truyền sau khi dùng thuốc 82 82.8 17 17.2

2.2 Có cảm giác bất thường (bồn chồn, hốt hoảng, sợ

hãi...) sau khi dùng thuốc 90 90.9 9 9.1

2.3 Nổi ban mày đay, ngứa. Phù qincke sau khi dùng

thuốc 44 44.4 55 55.6

2.4 Đau đầu, chóng mặt. Có khi ngất sau khi dùng thuốc 98 99.0 1 1.0

2.5 Vật vã, giãy giụa, co giật sau khi dùng thuốc 98 99.0 1 1.0 2.6 Mạch nhanh, nhỏ, khó bắt. Huyết áp thay đổi sau khi

dùng thuốc 96 97.0 3 3.0

2.7 Khó thở, nghẹt thở sau khi dùng thuốc 95 96.0 4 4.0 2.8 Đau quặn bụng, nôn, đái ỉa không tự chủ sau khi

dùng thuốc 91 91.9 8 8.1

2.9 Nổi mày đay ở bụng, đau bụng sau khi dùng thuốc là

phản vệ độ I 51 51.5 48 48.5

2.10 Phản vệ chia làm 4 độ và diễn biến tuần tự nặng dần

từ độ I đến độ IV 20 20.2 79 79.8

2.11 Nổi mày đay, khó thở sau khi dùng thuốc là phản vệ

độ II 82 82.8 17 17.2

Nhận xét:

Ở bảng nghiên cứu này cho thấy. Phần lớn đối tượng được nghiên cứu đã nhận biết được tình trạng của phản vệ. Tuy nhiên việc đánh giá giai đoạn của phản vệ và tiên lượng diễn biến về phản vệ vẫn còn hạn chế. Có 48,8% đối tượng nghiên cứu vẫn cho rằng nổi mày đay ngoài da, đau bụng xuất hiện sau khi dùng thuốc không phải là phản vệ độ II.

Đặc biệt trong 99 đối tượng tham gia nghiên cứu thì có đến 79 người (79,8%) vẫn chủ quan cho rằng “Phản vệ chia làm 4 độ và diễn biến tuần tự nặng dần từ độ I đến độ IV”. Nhưng thực tế thì mức độ phản vệ có thể nặng lên rất nhanh và không theo tuần tự. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc theo dõi sát, phát hiện sớm và xử trí kịp thời các tình trạng của phản vệ, đặc biệt là các mức độ phản vệ nặng.

2.2.3. Thái độ xử trí phản vệ

STT Đặc điểm Đúng Sai

n % n %

3.1 Ngừng ngay tiếp xúc với dị nguyên? 98 99.0 1 1.0 3.2 Cho thở oxi đầu tiên khi bệnh nhân phản vệ độ II

đang có khó thở nhiều 33 33.3 66 66.7

3.3 Chỉ cần dùng khí dung để giải quyết tình trạng khò

khè, có tiếng rít thanh quản 75 75.8 24 24.2

3.4 Nếu phát hiện phản vệ khi đang dùng thuốc phải

dừng lại để đi gọi Bác sỹ 73 73.7 26 26.3

3.5

Khi phát hiện tình trạng phản vệ nặng cần phải nhanh chóng chuyển bệnh nhân về khoa hồi sức cấp cứu để xử lý

57 57.6 42 42.4 3.6 Cho người bệnh nằm tại chỗ, đầu thấp, nghiêng trái

nếu có nôn. 91 91.9 8 9.1

3.7 Bác sỹ là người ra y lệnh dùng Adrenaline cho bệnh

nhân phản vệ từ độ II 69 69.7 30 30.3

3.8 Sinh viên mới ra trường không được thực hiện y

lệnh trực tiếp tiêm Adrenalin trên bệnh nhân 74 74.7 25 25.3 Nhận xét:

- Thái độ nhận thức đúng khởi nguồn cho hành động chính xác.

- Ở bảng nghiên cứu này phần lớn đối tượng được nghiên cứu đều có thái độ nhận thức tốt trươc tình trạng của phản vệ. 99% biết phải ngừng ngay tiếp xúc với dị nguyên. 91,9% biết cho bệnh nhân nằm tại chỗ, đầu thấp, nghiêng khi nôn. 73,7% biết tham gia xử trí phản vệ ngay trước khi gọi Bác sỹ. 69,7% tự ra y lệnh sử dụng adrenaline cho bệnh nhân có phản vệ độ II mà không phải chờ đội y lệnh của Bác sỹ. 57,6% cho rằng phản vệ là phải kịp thời xử trí tại chỗ

- Tuy nhiên có 66 đối tượng (66,8%) nghĩ rằng phải cho bệnh nhân thở oxi đầu tiên khi phản vệ độ II đang có khó thở nhiều mà không biết rằng lúc này adrenalin là chỉ định thiết yếu đầu tay. 42,4% quá lo lắng chuyển bệnh nhân về khoa hồi sức cấp cứu để xử trí. Những quan điểm sai lầm này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc kịp thời xử trí tình trạng phản vệ cho bệnh nhân.

3.2.4. Thực hành xử trí phản vệ

STT Đặc điểm Đúng Sai

n % n %

4.1 Chỉ dùng Adrenaline cho bệnh nhân khi phản vệ có

sốc 56 56.6 43 43.4

4.2 Adrenaline chỉ định tiêm bắp đùi cho phản vệ độ II

trở lên cho mọi đối tượng? 70 70.7 29 29.3

4.3

Adrenaline chỉ định pha tiêm tĩnh mạch sau khi đã tiêm bắp đùi 2-3 lần nhưng không cải thiện lâm sàng cho mọi đối tượng?

50 50.5 49 49.5 4.4 Adrenalin có tác dụng co mạch ngoại vi gây tăng 87 87.9 12 12.1

huyết áp. Nếu bệnh nhân tăng huyết áp có phản vệ độ II cần chống chỉ định tuyệt đối với Adrenaline?

4.5 Dùng Methylprednisolon cho bệnh nhân có phản vệ

độ I? 87 87.9 12 12.1

4.6 Trẻ 20 kg dùng liều Adrenalin 0,2ml tiêm bắp đùi

khi phản vệ độ II? 43 43.4 56 56.6

4.7 Adrenaline được chỉ định tiêm nhắc lại sau 10p nếu

tình trạng không cải thiện? 56 56.6 43 43.4

4.8 Liều Adrenaline tiêm bắp ở người lớn là 0,5-1 ml

(tương đương 1/2-1 ống)? 95 96.0 4 4.0

4.9

Liều adrenalin tiêm tĩnh mạch chậm trong cấp cứu phản vệ và liều adrenalin tiêm tĩnh mạch trong cấp cứu ngừng tuần hoàn đều giống nhau?

62 62.6 37 37.4 4.10

Đồng thời với việc dùng adrenalin truyền tĩnh mạch liên tục cần truyền nhanh dung dịch natriclorid 0,9%?

93 93.9 6 6.1 4.11

Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu cứu sống người bệnh bị phản vệ, phải được tiêm bắp ngay khi chẩn đoán phản vệ từ độ II trở lên?

100 100 0 0.0 4.12 Thở ô xy: người lớn 6-101/phút, trẻ em 2-41/phút

qua mặt nạ hở. 87 87.9 12 12.1

4.13

Adrenalin được khởi đầu bằng liều 0,1 mg/kg/phút, cứ 3-5 phút điều chỉnh liều tùy theo đáp ứng người bệnh.

91 91.8 8 8.2 Nhận xét:

- Ở bảng nghiên cứu này 100% biết rằng “Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu cứu sống người bệnh bị phản vệ, phải được tiêm bắp ngay khi chẩn đoán phản vệ từ độ II trở lên”. Có 91,8% đến 96% thực hành sử dụng đúng liều adrenaline ở người lớn. 56,6% biết tiêm nhắc lại liều adrenalin sau 2-3 phút. 62,6% phân định rõ liều adrenaline trong cấp cứu phản vệ và cấp cứu ngừng tuần hoàn là không giống nhau. 93,9% biết thực hành đồng thời với việc dùng adrenalin truyền tĩnh mạch cần truyền nhanh dung dịch natriclorid 0,9%?

- Do bệnh viện không có chuyên khoa nhi, việc lưu giữ và điều trị đối tượng nhi khoa cũng ít do đó vẫn đề thực hành xử trí phản vệ ở nhi khoa còn nhiều hạn chế. Có 56,6% không xác định đúng liều tiêm bắp cho trẻ nhi

20kg. 49,5% trong nhóm đối tượng vẫn chỉ định Adrenaline pha tiêm tĩnh mạch sau khi đã tiêm bắp đùi 2-3 lần nhưng không cải thiện lâm sàng ở trẻ nhi.

3.2.5. Phòng và theo dõi phản vệ

STT Đặc điểm Đúng Sai

n % n %

5.1 Thử phản ứng (test) cho tất cả các loại kháng sinh,

thuốc tiêm tĩnh mạch? 57 57.6 42 42.4

5.2 Phải luôn có sẵn các phương tiện cấp cứu phản vệ

khi dùng thuốc cho bệnh nhân. Trừ khi thử test? 71 71.7 28 28.3 5.3

Nếu người bệnh có tiền sử dị ứng thuốc hoặc dị nguyên và kết quả test lẩy da âm tính với dị nguyên đó thì tiếp tục làm test nội bì?

73 73.7 26 26.3 5.4 Người bệnh hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh

phải ký xác nhận vào mẫu phiếu đề nghị thử test. 80 80.8 19 19.2 5.5 Chỉ cần khai thác tiền sử phản vệ trước khi dùng

thuốc. Không cần khai thác tiền sử dị ứng? 92 92.9 7 7.1 5.6

Cần điều trị dự phòng cho các bệnh nhân thường xuyên xuất hiện các đợt phản vệ (>6 lần/năm hoặc

>2lần/2 tháng).

56 56.6 43 43.4

5.7

Trong giai đoạn cấp: theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, SPO2 và tri giác 5-10 phút/lần cho đến khi ổn định?

18 18.2 81 81.8

5.8

Trong giai đoạn ổn định: theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, SPO2 và tri giác mỗi 2-4 giờ trong ít nhất 24 giờ tiếp theo?

25 25.3 74 74.7 5.9 Phản vệ độ I chỉ nổi ban mày đay. Khi điều trị hết

ban có thể cho ra viện trong ngày? 58 58.6 41 41.4 5.10

Sau khi tình trạng phản vệ ổn định được 4-6 tuần, khám lại chuyên khoa dị ứng-miễn dịch lâm sàng để làm test xác định nguyên nhân phản vệ?

87 87.9 12 12.1 Nhận xét:

- Phản vệ là 1 bệnh lý phức tạp. Diễn biến khó lường. Đôi khi không theo tuần tự mà có thể rơi vào tử vong nhanh chóng. Có khoảng 20% tỷ lệ xuất hiện phản vệ pha II nên việc theo dõi sát để phát hiện và xử trí kịp thời các tình trạng của phản vệ là vô cùng cần thiết.

- Ở bảng nghiên cứu này bộc lộ yếu điểm trong vẫn đề theo dõi bệnh nhân phản vệ. Trong giai đoạn cấp có 81,8% không theo dõi đúng mạch, huyết áp, nhịp thở, SPO2 và tri giác 3-5 phút/lần cho đến khi ổn định. Trong giai đoạn ổn định có 74,7% không theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, SPO2 và tri giác mỗi 1-2 giờ trong ít nhất 24 giờ tiếp theo. Có 41,4% cho bệnh nhân xuất viện trước 24h ở những trường hợp phản vệ độ I đã tạm ổn định.

- Về dự phòng phản vệ thì phần lớn đều có nhận thức tốt. Có 71,7% luôn chuẩn bị sẵn các phương tiện cấp cứu phản vệ khi dùng thuốc và thử test cho bệnh nhân. 73,7% đối tượng được nghiên cứu thực hành cho người bệnh có tiền sử dị ứng thuốc hoặc dị nguyên làm test lẩy nếu kết quả da âm tính thì tiếp tục làm test nội bì. 80,8% là đúng thủ tục pháp lý (Người bệnh hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh phải ký xác nhận vào mẫu phiếu đề nghị thử test). 87,9% đối tượng nghiên cứu biết hướng dẫn người bệnh khám lại chuyên khoa dị ứng-miễn dịch lâm sàng để làm test xác định nguyên nhân phản vệ. 56,6% cho điều trị dự phòng cho các bệnh nhân thường xuyên xuất hiện các đợt phản vệ.

3.3 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức về phản vện của NVYT 3.3.1 Phân loại kiến thức chung về phản vệ của NVYT

Đặc điểm Tần số(n) Tỷ lệ(%)

Kiến thức phản vệ của nhân viên y tế

Tốt 28 28.3

Trung bình 64 64.6

Yếu 7 7.1

Tổng 99 100.0

Nhận xét:

Nhìn chung trong số 99 đối tượng được tham gia nghiên cứu phần lớn đều có kiến thức trung bình về phản vệ 64,6%. Có 28,3% đạt mức tốt và 7,1% đạt mức yếu.

3.3.2 Phân loại kiến thức về phản vệ của NVYT theo giới, trình độ học vấn và vị trí công tác

Đặc điểm Phân loại

Tốt Trung bình Yếu Giới tính

Nam Tần số 8 20 5

Tỷ lệ 24.2% 60.6% 15.2%

Nữ Tần số 20 44 2

Tỷ lệ 30.3% 66.7% 3.0%

Trình độ học vấn

Trung cấp Tần số 5 12 0

Tỷ lệ 29.4% 70.6% 0.0%

Cao đẳng Tần số 5 15 0

Tỷ lệ 25.0% 75.0% 0.0%

Đại học Tần số 15 29 4

Tỷ lệ 31.3% 60.4% 8.3%

Sau đại học Tần số 3 8 3

Tỷ lệ 21.4% 57.1% 21.4%

Vị trí công tác

Bác sỹ Tần số 10 19 4

Tỷ lệ 30.3% 57.6% 12.1%

Điều dưỡng Tần số 15 26 2

Tỷ lệ 34.9% 60.5% 4.7%

KTV Tần số 3 11 1

Tỷ lệ 20.0% 73.3% 6.7%

Dược sỹ Tần số 0 8 0

Tỷ lệ 0.0% 100.0% 0.0%

Tuổi

Dưới 40 tuổi Tần số 24 43 2

Tỷ lệ 34.8% 62.3% 2.9%

40 tuổi trở lên Tần số 4 21 5

Tỷ lệ 13.3% 70.0% 16.7%

Thời gian công tác

5 năm trở xuống Tần số 13 17 1

Tỷ lệ 41.9% 54.8% 3.2%

Trên 5 năm Tần số 15 47 6

Tỷ lệ 22.1% 69.1% 8.8%

Nhận xét:

Qua bảng này ta thấy đối tượng nữ giới có nhận thức về phản vệ tốt hơn nam giới (30,3/22,4%). Những người được đào tạo trình độ đại học sẽ có nhận thức về phản vệ tốt hơn chứ không phải là sau đại học. Và đối tượng điều dưỡng có nhận thức về phản vệ tốt hơn (34.9%) chứ không phải là bác sỹ (30.3%) và tỷ lện nhận thức được tooyts về phản vệ ở dược sỹ là thấp nhất (0.0%). Ở đối tượng dưới 40 tuổi và có thời gian công tác dưới 5 năm thì có tỷ lệ nhận thức về phản vệ tốt hơn so với những đối tượng khác.

3.3.3 Phân loại kiến thức về phản vệ của NVYT theo Khoa

Đặc điểm Phân loại

Tốt Trung bình Yếu

KHOA

CDHA Tần số 0 6 6

Tỷ lệ 0.0% 9.4% 85.7%

DƯỢC Tần số 0 8 0

Tỷ lệ 0.0% 12.5% 0.0%

HSCC-GM Tần số 7 10 0

Tỷ lệ 25.0% 15.6% 0.0%

KHÁM BỆNH Tần số 0 6 0

Tỷ lệ 0.0% 9.4% 0.0%

LCK Tần số 6 6 0

Tỷ lệ 21.4% 9.4% 0.0%

NGOẠI Tần số 1 6 0

Tỷ lệ 3.6% 9.4% 0.0%

NỘI Tần số 1 11 0

Tỷ lệ 3.6% 17.2% 0.0%

SẢN Tần số 3 6 0

Tỷ lệ 10.7% 9.4% 0.0%

XÉT NGHIỆM Tần số 1 4 1

Tỷ lệ 3.6% 6.3% 14.3%

YHCT Tần số 9 1 0

Tỷ lệ 32.1% 1.6% 0.0%

Tổng Tần số 28 64 7

Tỷ lệ 28.2% 64.6% 7.8%

Nhận xét:

Qua bảng số liệu này cho thấy. Các khoa lâm sàng có kiến thức về phản vệ tốt hơn. Nhận thức về phản vệ tốt nhất ở khoa y học cổ truyền (32.1%)và khoa HSCC (25.0%). ở khoa các khoa cận lâm sàng nhận thức về tình trạng phản vệ ở mức kém chiếm tỷ lệ cao, khoa CĐHA (85.7%, xét nghiệm (14.3%)..

3.3.4 Phân loại kiến thức của NVYT theo khả năng tiếp cận với phản vệ

Đặc điểm Phân loại

Tốt Trung bình Yếu Thời gian gần

đây có đọc tài liệu về phản vệ

Tần số 27 59 7

Tỷ lệ 29% 63.3% 7.5%

Không Tần số 1 5 0

Tỷ lệ 16.7% 83.3% 0.0%

Thời gian gần đây có đọc thông tư 51

Tần số 28 59 6

Tỷ lệ 30.1% 63.4% 6.5%

Không Tần số 0 5 1

Tỷ lệ 0.0% 83.3% 16.7%

Đã từng tập huấn về PV

Tần số 28 56 6

Tỷ lệ 31.1% 62.2% 6.7%

Không Tần số 0 8 1

Tỷ lệ 0.0% 88.9% 11.1%

Đã từng phát hiện và xử trí PV

Tần số 22 41 3

Tỷ lệ 33.3% 62.1% 4.5%

Không Tần số 6 23 4

Tỷ lệ 18.2% 69.7% 7.1%

Nhận xét:

Trong nhóm 99 người tham gia nghiên cứu ở bảng này để đánh giá thái độ quan tâm đến phản vệ và đã từng tiếp xúc phản vệ ta thấy. Phần lớn các đối tượng đều có kiến thức trung bình về phản vệ. Với những người đã từng đọc tài liệu về phản vệ, đọc thông tư 51, được tập huấn về phản vệ hay đã từng phants hiện và xử trí phản vệ sẽ có kiến thức về phản vệ tốt hơn.

BÀN LUẬN 4.1 Kiến thức về phòng và xử trí phản vệ

Phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, khởi phát nhanh và có thể gây tử vong. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bác sĩ, nhân viên y tế phải bảo đảm các nguyên tắc dự phòng phản vệ sau đây:

(1) Chỉ định đường dùng thuốc phù hợp nhất, chỉ tiêm khi không sử dụng được đường dùng khác.

(2) Không phải thử phản ứng cho tất cả thuốc trừ trường hợp có chỉ định của bác sĩ.

(3) Không được kê đơn thuốc, chỉ định dùng thuốc hoặc dị nguyên đã biết rõ gây phản vệ cho người bệnh. Trường hợp không có thuốc thay thế phù hợp mà cần dùng thuốc hoặc dị nguyên đã gây phản vệ cho người bệnh phải hội chẩn chuyên khoa dị ứng - miễn dịch lâm sàng hoặc do bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ để thống nhất chỉ định và phải được sự đồng ý bằng văn bản của người bệnh hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh.

Việc thử phản ứng trên người bệnh với thuốc hoặc dị nguyên đã từng gây phản vệ cho người bệnh phải được tiến hành tại chuyên khoa dị ứng - miễn dịch lâm sàng hoặc do các bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ thực hiện.

(4) Tất cả trường hợp phản vệ phải được báo cáo về Trung tâm Quốc gia về Thông tin Thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc Trung tâm Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh về Thông tin Thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc theo mẫu báo cáo phản ứng có hại của thuốc hiện hành theo quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện.

(5) Bác sĩ, người kê đơn thuốc hoặc nhân viên y tế khác có thẩm quyền phải khai thác kỹ tiền sử dị ứng, phản vệ với thuốc hoặc dị nguyên của người bệnh trước khi kê đơn thuốc hoặc chỉ định sử dụng thuốc theo quy định. Tất cả thông tin liên quan đến dị ứng, dị nguyên phải được ghi vào sổ khám bệnh, bệnh án, giấy ra viện, giấy chuyển viện.

(6) Khi đã xác định được thuốc hoặc dị nguyên gây phản vệ, bác sĩ, nhân viên y tế phải cấp cho người bệnh thẻ theo dõi dị ứng ghi rõ tên thuốc hoặc dị nguyên gây dị ứng, giải thích kỹ và nhắc người bệnh cung cấp thông tin này cho bác sĩ, nhân viên y tế mỗi khi khám bệnh, chữa bệnh [1].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng có 71,7% NVYT luôn chuẩn bị sẵn các phương tiện cấp cứu phản vệ khi dùng thuốc cho bệnh nhân, kể cả khi thử test. Có 92,9% lựa chọn khai thác rõ tiền sử dị ứng, phản vệ của NB trước khi dùng thuốc; 42,4% vẫn cho rằng cần thử phản ứng thuốc cho tất cả NB có dùng thuốc. Kết quả này có sự khác biệt với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Vân (2013) với 47,4% ĐD cho là vẫn thử test kháng sinh với NB đã bị dị ứng với loại kháng sinh đó và 8,8% điều dưỡng cho rằng không phải khai thác tiền sử dị ứng trước khi dùng thuốc. Sự khác biệt này có thể do sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu và thời gian nghiên cứu. Nếu như Nguyễn Thanh Vân tiến hành nghiên cứu vào năm 2013 – thời điểm áp dụng Thông tư 08/1999/TT- BYT ngày 4 tháng 5 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản vệ thì nghiên cứu của chúng tôi tiến hành năm 2022 – khi đã áp dụng Thông tư 51/2017/TT-BYT về hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ. Nội dung của 2 thông tư này có nhiều điểm khác nhau về loại thuốc cần thử phản ứng trước khi sử dụng cho người bệnh.

Khoản 1 Điều 6 trong Thông tư 51 đã nêu rõ: Adrenalin là thuốc quan trọng hàng đầu để tiêm bắp ngay cho người bị phản vệ khi được chẩn đoán phản vệ từ độ II trở lên. Thông tư 08/1999 khuyến cáo sử dụng adrenalin đường tiêm dưới da. Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu sau đã làm thay đổi

Một phần của tài liệu THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHẢN VỆ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ (Trang 27 - 45)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(45 trang)