Dựa theo thời gian cảm ứng, đau đƣợc chia hai loại chủ yếu là đau nhanh và đau chậm.
217
kích thích đau nhƣ cắt (sharp pain), đau nhƣ châm kim (pricking pain), đau nhƣ châm điện (electric pain), đau cấp (acute pain). Đau nhanh xảy ra ở da và hầu nhƣ không xảy ra ở các mô trong sâu của cơ thể, đƣợc dẫn truyền qua những sợi cảm giác đau loại A delta.
Đau chậm (slow pain) chỉ bắt đầu xầy ra sau một vài giây và đôi khi xảy ra sau hàng phút sau khi tạo kích thích, đƣợc mô tả đau chậm nhƣ đau rát bỏng (burning pain), đau nhức nhối (aching pain), đau ê ẩm (throbbing pain), đau âm ỉ (chronic pain). Loại đau này thường kèm theo tổn thương cấu trúc của mô. Đau có thể tăng dần và kéo dài, đau đớn không thể chịu nổi. Đau chậm xảy ra hầu hết các cơ quan hoặc mô bên trong thân thể, đƣợc dẫn truyền qua bằng những sợi cảm giác đau loại C.
3.2. Theo vị trí
Đau bụng có thể bắt nguồn ít nhất từ ba loại cảm giác đau dựa theo vị trí đó là đau tạng, đau chuyển vị, đau lá thành.
Đau tạng (visceral pain) là cảm giác đau chậm của sợi cảm giác C nằm trong mô của tạng bị kích thích. Các sợi cảm giác C của tạng bị kích thích do mô bị thiếu máu nuôi, mô bị viêm, mô bị hóa kích thích, mô bị căng dãn hoặc bị co thắt Một số tác nhân không thể kích thích sợi cảm giác C nhƣ kim châm, dao cắt, lửa đốt, nên không thể gây cảm giác đau tạng.
Những sợi cảm giác C là những sợi giao cảm từ mô tạng đến tủy sống, đƣợc tiếp nối tại sừng sau tủy sống và tại đồi thị, lên vỏ não. Đau tạng cho cảm giác đau trong sâu và rộng, giới hạn không rõ ràng.
Thiếu máu nuôi (ishemia). Thiếu máu nuôi gây đau tạng, đau loại này cũng giống nhƣ đau của các mô khác thiếu máu nuôi. Đau do các sản phẩm biến
218
bradykinin, các men tiêu đạm hoặc các chất khác. Chúng kích thích các sợi tận cùng của thần kinh cảm giác đau.
Dãn căng tạng rỗng (overdistention of hollow vỉscus). Sự căng dãn quá mức của tạng rỗng cũng cho cảm giác đau tạng. Đau do căng các sợi tận cùng của thần kinh cảm giác đau. Hơn nữa, căng quá mức cũng làm khít lòng các mạch máu bao quanh hoặc trong vách của tạng, do đó gây đau do thiếu máu nuôi.
Co rút tạng rỗng (spasm of hollow viscus). Sự co rút lòng ống tiêu hóa, túi mật, ống dẫn mật, niệu quản hoặc bất cứ tạng rỗng nào cũng cho cảm giác đau, đau giống nhƣ cơ vân bị co rút. Đau do kích thích cơ học làm siết chặt các sợi tận cùng của thần kinh cảm giác đau hoặc do giảm tưới máu đến cơ trong khi cơ đang cần tăng nhu cầu biến dƣỡng. Đau co rút cho cảm giác rất đau. Đau tạng dạng co thắt thường xảy ra dưới dạng đau quặn. Đau quặn khởi đầu tăng dần và sau đó giảm dần, tiến tình này tiếp tục nhịp nhàng mỗi vài phút. Đau từng cơn là do co rút từng đợt của cơ trơn.
Kích thích hóa học: Những chất gây tổn thương rò rĩ từ hệ tiêu hóa vào xoang phúc mạc, nhƣ acid tiêu đạm của dịch dạ dày tá tràng qua chỗ thủng của ổ loét. Dịch này hủy hoại một vùng lá tạng, kích thích các thần kinh đau.
Kích thích hóa học thường cho cảm giác rất đau.
Đau chuyển vị: là vị trí đau khác với vị trí mô bị tổn thương. Sợi cảm giác tạng và sợi cảm giác thân thể cùng giao thoa tại tủy sống. Do đó một vùng tạng bị kích thích trong sâu thường chuyển vị đến một vùng đau ở thân thể. Đau chuyển vị thường nằm ở lớp da, đôi khi ờ mô dưới da hoặc đau dạng co rút (spasm) một nhóm cơ.
219
Đoạn trên của ống tiêu hóa (phần cuối thực quản, dạ dày, tá tràng, hệ gan mật và tụy gây đau vùng thƣợng vị.
Đoạn giữa của ống tiêu hóa (ruột non, ruột thừa, đại tràng lên, đoạn trước đại tràng ngang) gậy đau vùng quanh rốn.
Đoạn dưới của ống tiêu hồa (phần sau đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng) gây đau vùng hạ vị. o Tử cung, bàng quang gây đau vùng hạ vị.
Chuyền vị tại một bên bụng
Hệ mật gây đau vùng trên bờ sườn phải và dưới xương vai phải, ở thận gây đau vùng hạ vị cùng bên.
Niệu quản gây đau vùng bẹn, vùng sinh dục ngoài hoặc co rút nhóm cơ thắt lƣng.
Những kích thích dưới hoành như khối máu tụ, khối_u, áp xe, viêm phúc mạc gây đau chuyển vị vùng phần trên vai.
Viêm phổi hoặc màng phổi, viêm cơ tim hoặc màng tìm, đau tạng vùng ngực và gây đau chuyển vị tại vùng thượng vị hoặc vùng hạ sườn.
Đau thành: là đau của lá thành phúc mạc. Vùng đau thành là vùng lá thành phúc mạc tiếp xúc với vùng tạng bị tổn thương. Tổn thương từ lá thành có thể lan đến các mô của thành bụng, tạo cảm giác đau của thành bụng. Đau thành biểu hiện khác nhau tùy theo mức độ viêm. Viêm vừa bắt đầu, thành bụng có phản ứng dội.
Viêm còn khu trú thì thành bụng đề kháng khu trú. Viêm đã lan rộng thì thành bụng đề kháng một vùng rộng hoặc co gồng toàn thể. Đau tăng Ịên nếu thành bụng cử động, ngƣợc lại đau sẽ hạn chế nếu thành bụng đƣợc giữ yên.
220
thình lình nhấc lên khỏi thành bụng, khi tay gõ vào thành bụng hoặc khi trẻ ho.
Phản ứng dội có thể là dấu hiệu ban đầu của bệnh ngoại khoa khẩn, cũng có thể dấu hiệu củạ bệnh nội khoa nhƣ viêm dạ dày ruột nặng, viêm phổi, ngộ độc chì, ban Henoch-Shonlein.
Đề kháng thành bụng là cơ bụng co gồng để hạn chế đau của lá thành, khi bị một áp lực từ bên ngoài vào. Vùng cơ bụng đề kháng tương ứng với vùng lá thành bị viêm.
Gồng thành bụng là các cơ bụng gồng cứng để giữ yên lá thành. Thành bụng co gồng rõ rệt đối với trẻ lớn tuổi. Thành bụng co gồng không rõ rệt khi bị sốt, khi thành bụng nhiêu mỡ hoặc nhão, khi các cơ bụng mỏng và yếu hoặc nếu trẻ nhỏ tuổi.
cần phân biệt đau thành bụng với đau cơ bụng và co rút cơ bụng. Đau cơ bụng do máu tụ bao cơ hoặc do viêm cơ. Co rút cơ bụng, không kèm đau bụng do bệnh cơ hoành hoặc bệnh lồng ngực. Co cứng cơ bụng cũng có thể gặp trong uốn ván.