Các hoocmon kích thích sinh trưởng

Một phần của tài liệu Bg sinh hoc dai cuong phan 2 9754 (Trang 37 - 40)

CHƯƠNG II. SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN

I. SỰ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC QUÁ TRÌNH ÐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG Ở THỰC VẬT

2.2 Các hoocmon kích thích sinh trưởng

- Là nhóm chất mà ở nồng độ nhất định có vai trò kích thích, làm tăng quá trình sinh trưởng - phát triển ở thực vật.

- Gồm chất kích thích tăng trưởng tự nhiên và nhân tạo. Trong nhóm chất kích thích sinh trưởng tự nhiên có 3 nhóm quan trọng: Auxin, Gibberelin, Cytokinin.

2.2.1 Auxin

Là một trong các chất điều hoà sinh trưởng thực vật. Thường gặp nhất trong tự nhiên là axit indol acetic (AIA). Auxin hình thành trong đỉnh thân và rễ đang sinh trưởng.

Lịch sử phát hiện ra Auxin

- Năm 1880 Darwin đã phát hiện ra bao lá mầm của cây họ lúa rất nhạy cảm với ánh sáng.

- Năm 1919, Paal đã cắt đỉnh ngọn bao lá mầm và đặt trở lại trên chỗ cắt nhưng lệch sang một bên và để trong tối. Hiện tượng uốn cong xảy ra như trường hợp chiếu sáng một bên. Ông kết luận rằng đỉnh ngọn đã hình thành một chất sinh trưởng nào đó, còn ánh sáng xác định sự phân bố của chất đó về hai phía của bao lá mầm.

- Năm 1934, Giáo sư hoá học Kogl (Hà Lan) và các cộng sự đã tách ra một chất từ dịch chiết nấm men có hoạt chất tương tự chất sinh trưởng và năm 1935 Thimann cũng tách ra chất này. Người ta xác định bản chất hoá học của nó, đó là β- axit indol acetic (AIA), sau đó người ta lần lượt tách

được AIA từ thực vật bậc cao khác nhau.

- năm 1977, Winghtman đã phát hiện ra một hợp chất auxin khác có hoạt tính kém hơn nhiều so víi AIA.

- Hiện nay, bằng con đường hoá học người ta đã tổng hợp được nhiều auxin khác nhau.

Sự trao đổi chất của Auxin

Sự trao đổi chất thường xuyên ở trong cây bao gồm sự tổng hợp mới, sự phân giả làm mất hoạt tính và sự chuyển hoá thuận nghịch giữa dạng tự do và dạng liên kết.

- sự tổng hợp:

+ AIA được tổng hợp trong tất cả các thực vật bậc cao, tảo, nấm và cả ở vi khuẩn. ở thực vật bậc cao AIA được tổng hợp chủ yếu ở đỉnh chồi ngọn và từ đó được vận chuyển xuống dưới. Sự vận chuyển của auxin trong cây có tính phân cực rất nghiêm ngặt, tức là chỉ vận chuyển theo hưíng gèc.

+ sự tổng hợp auxin diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ trong cây. quá trình này được xúc tác bởi hàng loạt các enzyme đặc hiệu.

- Sự phân huỷ auxin: sự phân huỷ auxin cũng là một quá trình quan trọng điều chỉnh hàm luợng auxin trong cây. Auxin sau khi tác dụng có thể bị phân huỷ làm mất hoạt tính hoặc trong trường

cây, còn dạng liên kết là chủ yếu trong cây nhưng chúng không có hoạt tính sinh lý hoặc có nhưng rất thấp. AIA liên kết chủ yếu với gluxit và axit amin.

Như vậy, nhờ 3 quá trình trên của auxin tiến hành đồng thời trong cây mà hàm lượng auxin trong cây tương đối ổn định bảo đảm sự sinh trưởng phát triển của cơ quan và của cây hài hoà, không bị rối loạn.

Hiệu quả sinh lý của auxin

Auxin có tác dụng sinh lý rất nhiều mặt lên các quá trình sinh trưởng của tế bào, hoạt động của tầng phát sinh, sự hình thành rễ, hiện tượng ưu thế ngọn, tính hướng của thực vật, sự sinh trưởng của quả và tạo quả không hạt…

- Auxin kích thích sự sinh trưởng của tế bào, đặc biệt theo chiều ngang làm tế bào phình ra. Hiệu quả đặc trưng của auxin là lên sự giãn của thành tế bào.

- Auxin gây ra tính hướng động của cây (hướng quang và hướng địa).

- Auxin gây ra hiện tượng ưu thế ngọn: hiện tượng ưu thế ngọn là một hiện tượng phổ biến trong cây. Nếu auxin làm tăng ưu thế ngọn thì ngược lại xytokinin lại làm yếu ưu thế ngọn, kích thích các chồi bên sinh trưởng. Mức độ ưu thế ngọn phụ thuộc vào tỷ lệ giữa auxin/xytokinin.

- Auxin kích thích sự hình thành rễ: trong sự hình thành rễ đặc biệt là rễ phụ, hiệu quả của auxin là rất đặc trưng.

- Auxin kích thích sự sinh trưởng của quả và tạo quả không hạt:

Tế bào trứng sau khi thụ tinh đã tạo nên hợp tử và sau phát triển thành phôi. Phôi là nguồn tổng hợp auxin nội sinh quan trọng, khuếch tán vào bầu và kích thích sự lớn lên của bầu thành quả. Vì vậy quả chỉ được hình thành khi có sự thụ tinh.

Việc xử lí ngoại sinh cho hoa sẽ thay thế được nguồn auxin nội sinh vốn được hình thành trong phôi và do đó không cần quá trình thụ tinh nhưng bầu vẫn lớn lên thành quả nhờ auxin ngoại sinh. Trong trường hợp này quả không qua thu tinh do đó không có hạt.

- Auxin kìm hãm sự dụng lá, hoa, quả vì nó ức chế sự hình thành tầng rời ở cuống lá, hoa quả vốn

được cảm ứng bởi các chất ức chế sinh trưởng. Vì vậy phun auxin ngoại sinh có thể làm giảm sự rụng lá, tăng sự đậu quả và giảm sự rụng nụ, quả non làm tăng năng suất.

- Auxin ảnh hưởng lên sự vận động của chất nguyên sinh, tăng tốc độ lưu động của chất nguyên sinh, ảnh hưởng lên các quá trình trao đổi chất.

2.2.2 Gibbrellin (GA)

Là hợp chất với 20 nguyên tố cacbon, ngày nay đã phát hiện được trên 30 GA khác nhau có bản chất là axit và trung tính. Chúng được tổng hợp chủ yếu ở lá và rễ. Chúng di chuyển thụ

động theo hệ mạch libe và mạch gỗ.

Sự tổng hợp

GA được tổng hợp ở trong phôi đang sinh trưởng, trong các cơ quan đang sinh trưởng khác như lá non, rễ non, quả non… GA được vận chuyuển không phân cực, có thể hướng ngọn và hướng gốc tuỳ nơi sử dụng. Trong tế bào thì cơ quan tổng hợp mạnh nhất GA là lục lạp.

Lịch sử phát hiện

- Từ việc nghiên cứu bệnh lí “bệnh lúa von”, dẫn đến nghiên cứu cơ chế gây bệnh và tách được hàng loạt các chất là sản phẩm tự nhiên của nấm gây bệnh cũng như từ thực vật bậc cao, gọi đó là gibberellin.

- Năm 1926, như nghiên cứu bệnh lí thực vật Kurosawa (Nhật Bản) đã thành công trong thí nghiệm gây bệnh von nhân tạo cho lúa và ngô.

- Yabuta vào khoảng 1934 – 1938 đã tách đuợc 2 chất dưới dạng tinh thể từ nấm lúa von gọi là gibberellin A và B nhưng chưa xác định được bản chất hoá học.

- Năm 1955 hai nhóm nghiên Anh và Mỹ đã phát hiện ra những bài báo cũ của người Nhật Bản về Gibberellin và cũng năm đó họ đã tách được chất này từ lúa von và xác định được công thức hoá

học của nó (C19H22O6).

- Hiện nay người ta đã phát hiện ra hơn 50 loại gibberellin khác nhau từ các thực vật bậc cao.

Cơ chế tác động

Một trong những quá trình có liên quan đến cơ chế tác động của GA được nghiên cứu khá

kĩ là họat động của enzym thuỷ phân trong các hạt họ lúa nảy mầm.

GA đã cảm ứng với sự tổng hợp α - amylase mới và các enzyme thuỷ phân khác. GA gây nên sự giải ức chế gen chịu trách nhiệm tổng hợp các enzym này mà trong hạt đang ngủ nghỉ chúng hoàn toàn bị trấn áp bằng các protein histon . GA đóng vai trò như là chất cảm ứng mở gen

để hệ thống tổng hợp protein enzym thuỷ phân hoạt động.

Ngoài vai trò cảm ứng hình thành enzym thì GA còn có vai trò kích thích sự giải phóng các enzym này vào nội nhũ. Cơ chế kích thích sự giãn của tế bào bởi GA có lẽ cũng liên quan đến cơ

chế hoạt hoá bơm proton như auxin. Tuy nhiên các tế bào nhạy cảm với auxin và gibberellin có những đặc trưng khác nhau. Điều đó liên quan đến sự có mặt của các nhân tố tiếp nhận hormon khác nhau trong các kiểu tế bào khác nhau.

Vai trò sinh lý của Gibbrellin

- Hiệu quả sinh lý rõ rệt nhất của GA là kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng kéo dài của thân, sự vươn dài của lóng cây họ lúa

- GA ảnh hưởng rất rõ rệt lên sự sinh trưởng của các đột biến lùn.

- GA kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, do đó nó có tác dụng đặc trưng trong việc phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của chúng.

- Trong nhiều trường hợp GA kích thích sự ra hoa rõ rệt. ảnh hưởng đặc trưng của GA lên sự ra hoa là kích thích sự sinh trưởng kéo dài và nhanh.

- Trong sự phát triển và phân hoá của cơ quan sinh sản thì GA ảnh hưởng đến sự phân hoá giới tính: ức chế sự phát triển hoa cái và kích thích sự phát triển hoa đực.

- Trong sự sinh trưởng của quả và tạo quả không hạt thì GA có vai trò gần như auxin vì nó làm tăng kích thước của quả và tạo nên quả không hạt trong một số trường hợp. Hiệu quả này càng rõ rệt khi phối hợp tác dụng với auxin.

2.2.3 Cytokinin

Là loại hormon sinh trưởng cần cho sự cảm ứng phân bào của thực vật. Nơi tổng hợp chủ yếu ở đỉnh sinh trưởng của rễ cây đang sinh trưởng. Từ rễ cytokinin được vận chuyển lên thân, cành và lá

Sự tổng hợp

Nhiều nghiên cứu khẳng định răng cytokinin được hình thành chủ yếu trong hệ thống rễ của thực vật. Ngoài ra một số cơ quan còn non đang sinh trưởng mạnh cũng có khả năng tổng hợp như chồi, lá non, quả non, tầng phát sinh… Sư vận chuyển cytokinin trong cây không phân cực như auxin, có thể hướng ngọn và hướng gốc. ở trong cây chúng bị phân giải bằng các enzym, tạo nên sản phẩm cuối cùng là ure.

Lịch sử phát hiện

Năm 1955, Miller và Skook và các cộng sự đã tách được một hợp chất từ việc hấp mẫu ADN của tinh dịch cá thu có khả năng kích thích sự phân chia tế bào mạnh mẽ trong nuôi cấy mô

gọi là kinetin.

Cytokinin tự nhiên trong cây được tách lần đầu tiên năm 1963 bởi Letham và Miller ở dạng kết tinh từ hạt ngô gọi là zeatin.

Cơ chế tác dụng

Tác dụng đến quá trình phân chia tế bào, đến các quá trình phát sinh cơ quan, kìm hãm sự hoá già… có lẽ ở mức độ phân tử. Khi thiếu cytokinin thì tế bào không phân chia được mặc dù ADN có thể tiếp tục được tổng hợp nhưng quá trình tổng hợp protein không xảy ra.

ADN mARN Protein

Cytokinin

Hiệu quả của cytokinin trong việc ngăn chặn sự hoá già có liên quan nhiều đến khả năng ngăn chặn sự phân huỷ protein, axit nucleic và clorophin hơn là khả năng kích thích tổng hợp chóng.

Vai trò sinh lý

- Hiệu quả sinh lý đặc trưng nhất của cytokinin đối với thực vật là kích thích sự phân chia tế bào mạnh mẽ.

- Cytokinin ảnh hưởng rõ rệt và rất đặc trưng lên sự phân hoá cơ quan của thực vật, đặc biệt là sự phân hoá chồi.

- Cytokinin có khả năng kìm hãm sự hoá già của cơ quan và của cây nguyên vẹn.

- Cytokinin trong một số trường hợp ảnh hưởng lên sự nảy mầm của hạt và củ.

- Ngoài ra, trong mối tương tác với auxin, cytokinin có ảnh hưởng tới ưu thế ngọn của cây.

Cytokinin làm yếu hiện tượng ưu thế ngọn, làm phân cành nhiều.

- Cytokinin còn ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất như quá trình sinh tổng hợp axit nucleic, protein , clorophin và do đó ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của cây.

Một phần của tài liệu Bg sinh hoc dai cuong phan 2 9754 (Trang 37 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(63 trang)