1. Vị thế trong phân tích
- Xác định xem ai là đối tượng có vị thế trong phân tích.
• Ai là người có quyền hưởng lợi cũng như ai là người có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm chi trả cho các chi phí.
• Vấn đề vị thế quyết định góc nhìn của phân tích.
• Nó có thể có tác động lớn đến các tính toán lợi ích chi phí.
1. Vị thế trong phân tích
• Nên được nêu một cách rõ ràng và áp dụng một cách nhất quán trong suốt quá trình nghiên cứu
• Chuyển nhượng giữa người không có vị thế với người có vị thế được tính là lợi ích
• Chuyển nhượng từ người có vị thế sang người không có vị thế sẽ được tính là chi phí.
• Một chương trình có lợi ích ròng âm có thể là đáng mong đợi nếu như các chi phí bị áp đặt lên người giàu còn lợi ích được tích tụ cho người nghèo
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
- Nguyên tắc tổng quát
Một kết quả là kết quả xã hội thực chỉ khi nó làm biến đổi lợi ích ròng cho toàn bộ xã hội.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
a. Tính những kết quả tăng thêm
• Các lợi ích thêm là các kết quả chỉ có thể đạt được bằng cách thực hiện dự án, và chi phí thêm có thể tránh được bằng cách không làm dự án.
• Lợi ích hay chi phí thêm từ dự án phải được tính, mà không phải là tổng lợi ích hay tổng chi phí.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
a. Tính những kết quả tăng thêm
Ví dụ:
Mỗi năm khoảng 2 triệu tấn hàng được chuyên chở bằng xe lửa từ Sydney và Melbourne. Nếu đường ray được nâng cấp, với đường ray mới, thì số lượng hàng được vận chuyển tăng lên gấp đôi là 4 triệu tấn. Như vậy lợi ích của dự án xuất phát từ 2 triệu tấn tăng thêm chứ không phải từ 4 triệu tấn.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
b. Loại trừ các kết quả chìm
• Các chi phí phát sinh hay lợi ích phát sinh nhận được trước khi dự án bắt đầu gọi là “chi phí chìm” và “lợi ích chìm”
• Các chi phí và lợi ích chìm không làm thay đổi lợi ích xã hội ròng của các dự án mới do đó chúng phải được loại trừ.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
b. Loại trừ các kết quả chìm
Ví dụ: Cải thiện đường ray giữa Sydney và Melbourne chắc chắn liên quan tới việc di chuyển một số đường ray và công trình xây dựng. Những chi tiêu trước đây để xây dựng và lắp đặt những khoản này là chìm. Những chi tiêu này không thể lấy lại được và rõ ràng không là chi phí cơ hội dưới dạng một thu nhập trong tương lai bị mất đi do có một phương án sử dụng khác các khoản này.
Chi phí chìm không phải là một mất mát trong thu nhập do thực hiện các phương án mới, vì vậy không phải là chi phí cơ hội.
Lưu ý phân biệt chi phí đã chi tiêu xây dựng với chi phí bỏ ra để di rời hay phá bỏ.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
c. Loại trừ các chi phí chung
• Chi phí phải trả theo một số tiền nhất định – bất kể là sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu và sản xuất như thế nào.
• Các chi phí chung hay chi phí cố định không làm biến đổi lợi ích ròng giữa các phương án, và vì vậy chúng nên được loại trừ.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
c. Loại trừ các chi phí chung
Ví dụ: Một người nông dân có thể phải trả một khoản thuế hàng năm cố định cho chính quyền địa phương hoặc thuế tài sản, bất kể đất được sử dụng như thế nào. Số tiền thuế này được xác định chung cho tất cả mục đích sử dụng đất tiềm năng, do đó nên được bỏ qua trong bất cứ phân tích nào về các phương án sử dụng đất
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
d. Tính tất cả các thay đổi về chi phí
• Có những chi phí phát sinh trực tiếp bên trong dự án như phí tổn về đất, lao động, vốn để thực hiện dự án.
Nhưng cũng có những thay đổi về chi phí bên ngoài do dự án tạo ra.
Ví dụ: xây dựng một xa lộ mới có thể làm thay đổi luồng lưu thông ở những đường gần đó và làm tăng sự khó khăn để đi vào một số khu dân cư lân cận. Gia tăng chi phí đi vào khu lân cận là những chi phí thực cho xã hội xuất phát từ việc sử dụng xa lộ mới và do đó phải đưa vào tính toán.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
d. Tính tất cả các thay đổi về chi phí
• Lợi ích của một dự án có thể phát sinh do một sự giảm về chi phí
• Một phí tổn tăng lên do giảm về xuất lượng.
• Tất cả “lợi ích do giảm chi phí” và “chi phí do giảm xuất lượng” phải được đưa vào tính toán.
Ví dụ: một con đường lớn mới đưa vào sử dụng làm giảm chi phí chuyên chở cho các nông dân dọc theo con đường.
Dù những người sản xuất này không tăng sản lượng, việc giảm chi phí chuyên chở của họ là một lợi ích thực cho xã hội và phải được tính đến.
Các chương trình phòng chống lũ lụt có thể làm giảm chi phí thiệt hại do lũ gây ra.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
e. Tính tất cả các thay đổi về lợi ích
• Gia tăng trực tiếp về sản lượng hàng hóa và dịch vụ do dự án tạo ra
• Gia tăng về sản lượng do dự án tạo ra, nhưng xảy ra ở bên ngoài dự án.
• Tất cả các thay đổi về lợi ích, gắn với một dự án, phải được tính đến.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
f. Loại trừ các khoản thanh toán chuyển giao
• Các khoản thanh toán chuyển giao không đo lường lợi ích từ hàng hóa, hay chi phí của và do đó chúng phải được loại trừ.
• Tiền có thể được chuyển từ một cá nhân hay nhóm đến người khác mà không trao đổi hàng hóa hay nguồn lực nào gọi là “các khoản thanh toán chuyển giao”
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
f. Loại trừ các khoản thanh toán chuyển giao
Ví dụ: Tiền hưu trí của Chính phủ trả cho người già, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế là sự chuyển giao từ chính phủ cho các tầng lớp trong xã hội. Những người này không phải trả lại bất cứ thứ gì tương ứng. Quà biếu của các tổ chức kinh doanh, quà từ thiện cũng là thanh toán chuyển giao, viện trợ quốc tế cho các quốc gia…
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
g. Lưu ý đối với thuế và trợ cấp
Thuế và trợ cấp đôi khi được xem như các khoản thanh toán chuyển giao nhưng trong một số trường hợp khác chúng không phải là khoản thanh toán chuyển giao.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
g. Lưu ý đối với thuế và trợ cấp
Nếu xuất lượng là một sự gia tăng ròng về tổng xuất lượng, hàng hóa được định giá theo sự sẵn lòng trả của người tiêu dung cho chúng - đó là giá bao gồm cả thuế
Nếu sản phẩm mới thay thế sản phẩm hiện có, hàng hóa mới sẽ được định giá theo chi phí cơ hội của sản xuất. Chi phí cơ hội này là giá trị của nhập lượng mà lẽ ra được tiết kiệm do không sản xuất sản phẩm bị thay thế - là sản phẩm được tính theo giá của nhập lượng loại trừ thuế
Xuất lượng của dự án
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
g. Lưu ý đối với thuế và trợ cấp
Nếu một dự án đưa tới một sự gia tăng ròng về nhập lượng có thể sẵn sàng cung ứng, mỗi đơn vị nhập lượng được định giá theo chi phí cơ hội thực của nó – đó là chi phí xã hội thực của những tài nguyên thực – giá này không gồm thuế nhưng gồm trợ cấp
Nếu dự án sử dụng nhập lượng mà trước đây được sử dụng ở nơi khác, thì chi phí cơ hội của nó là giá mà người sử dụng khác sẵn lòng trả cho chúng – đó là chi phí gồm cả thuế nhưng không gồm trợ cấp.
Nhập lượng của dự án
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
g. Kiểm tra các lệ phí của Chính phủ
• Các lệ phí biểu hiện chi phí của việc sử dụng các đầu vào do đó được tính đến trong tính toán chi phí – lợi ích.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
i. Tránh tính trùng
• Tính trùng có nghĩa là tính chi phí hay lợi ích nhiều hơn một lần.
• Một lợi ích hay chi phí có thể được tính theo 2 cách và ta vô ý tính cả hai cho nó hay hai kết quả loại trừ lẫn nhau nhưng ta vô ý tính cả hai
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
i. Tránh tính trùng Ví dụ:
Nhu cầu lúa mì có thể suy ra từ nhu cầu bột mì mà nhu cầu này suy ra từ nhu cầu bánh mì. Nếu ta cộng giá trị bánh mì, giá trị bột mì và giá trị lúa mì, ta tính ba lần. Sự sẵn lòng trả cho lúa mì là sự đánh giá đủ về sản phẩm của dự án.
Bảo vệ đất có thể làm tăng sản lượng nông nghiệp và giá trị của đất. Đây là hai kết quả loại trừ. Nếu sử dụng đất để canh tác làm tăng sản lượng nhưng nếu bán đất thì đem lại thu nhập do giá trị đất cao.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
j. Loại trừ các kết quả quốc tế
• Doanh thu xuất khẩu và chi phí nhập khẩu phát sinh bên trong quốc gia là các khoản gia tăng thực về lợi ích và chi phí cho quốc gia, vì vậy phải tính đến.
• Loại trừ lợi ích và chi phí phát sinh bên ngoài biên giới quốc gia.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
k. Xem xét các thay đổi về giá trị tài sản
• Đối với dự án có thời gian tồn tại xác định, tính thu nhập hàng năm cho đến khi kết thúc dự án, tính chi phí thay thế khi chúng phát sinh, và đưa vào tính toán bất cứ thay đổi nào về giá trị tài sản cuối dự án.
• Đối với dự án có thời gian tồn tại vô hạn, tính thu nhập hàng năm theo toàn bộ thời gian tồn tại và đưa vào bất kỳ chi phí thay thế nào cần thiết để duy trì giá trị tài sản ngay khi chúng phát sinh.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
l. Phân biệt kết quả tư nhân với kết quả xã hội
• Các lợi ích và chi phí phù hợp với một công ty tư nhân hay hộ gia đình có thể không phù hợp với xã hội và ngược lại.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
m. Tính các ngoại tác
• Ngoại tác xuất hiện khi sản xuất hay tiêu dùng của cá nhân (hay nhóm) ảnh hưởng tới sản xuất hay tiêu dùng của cá nhân (hay nhóm) khác và không có sự đền bù hay thanh toán nào được thực hiện bởi cá nhân gây ảnh hưởng.
• Tất cả các ngoại tác phải được nhận dạng, định giá và đưa vào tính toán vì chúng là những thay đổi thực về lợi ích xã hội ròng
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
n. Xét các lợi ích cấp hai và chi phí cấp hai
• Trong thị trường cạnh tranh và tất cả các nguồn lực toàn dụng , không có lợi ích và chi phí cấp hai thực và do đó chúng không được đưa vào tính toán. Nhưng trong các thị trường cạnh tranh không hoàn hảo các kết quả cấp hai có thể hiện hữu và phải được nhận dạng.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
n. Xét các lợi ích cấp hai và chi phí cấp hai
Ví dụ: Sự gia tăng sản lượng lúa mì nhờ dự án thủy lợi, ta xác định lợi ích ròng cấp 1 là sự gia tăng thặng dư cho nông dân. Lợi ích ròng cấp 2 là thặng dư mà người cung cấp các yếu tố đầu vào cho các trang trại hay chế biến lúa mì của các trang trại. Chúng là những thặng dư tăng thêm mà các ngành công nghiệp cấp hai được hưởng khi cung ứng dịch vụ cho dự án.
2. Các nguyên tắc khi nhận dạng chi phí, lợi ích
o. Tính các kết quả không có giá
• Lợi ích và chi phí không có giá là các thay đổi thực về lợi ích xã hội ròng. Vì vậy chúng phải được nhận dạng và đưa vào phân tích.
Các phương án sẽ có một số kết quả không có giá thị trường thậm chí đó là những kết quả rất quan trọng. Ví dụ: chất lượng nước, không khí được cải thiện, sức khỏe tốt hơn, nhiều nơi giải trí hơn, bảo tồn nhiều động vật hoang dã hơn.
3. Lập bảng phân loại chi phí, lợi ích
Lợi ích
Cấp 2 Cấp 1
Không có giá Có giá
Có giá Không
có giá
3. Lập bảng phân loại chi phí, lợi ích
Chi phí
Cấp 2 Cấp 1
Không có giá Có giá
Có giá Không
có giá
3. Lập bảng phân loại chi phí, lợi ích
• Các khoản mục trong bảng chỉ là mô tả định tính
• Tính trùng có thể được kiểm tra và tránh
• Kết quả cấp 2 phải được kiểm tra đảm bảo chúng thật sự tồn tại
CHƯƠNG 3: