1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Môi trường
1.2.8. Con người và môi trường
Vị trí độc tôn của con người trong sinh quyển:
Con người (Homosapicus) là loài duy nhất của họ Người (Homonidae) thuộc bộ Linh trường (Primates), sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hóa hữu cơ và trở thành một thành viên đặc biệt trong sinh quyển. Ví trí đặc biệt này được tạo nên bởi hai thuộc tính quy định bản chất của con người : Một là bản chất sinh vật, được kế thừa và phát triển hoàn hảo hơn bất kỳ một sinh vật nào;
Hai là thuộc tính văn hóa, thuộc tính này không một loài sinh vật có thể có được.
Hai thuộc tính này phát triển song song, biến đổi và tiến hóa theo từng giai đoạn lịch sử. Do đó tác động của con người vào môi trường được quyết định bởi hai thuộc tính này.
Những hoạt động của con người, bao gồm cả tư duy đều là những quá trình sinh lí, sinh hóa diễn ra trong các cơ quan chức năng. Những hoạt động này cũng chứa đựng thuộc tính văn hóa (lựa chọn thức ăn, phong tục tập quán…), xã hội, đặc thù riêng của loài người, đó cũng là sản phẩm của quá trình tiến hóa vật
muôn loài trong sinh quyển. Mặt khác, con người khi sinh ra đã được đặt vào cái nôi ấm áp, đầy đủ thức ăn mà thiên nhiên đã dành cho, sinh trưởng phát triển nhờ vào thiên nhiên, khai thác các dạng tài nguyên để sinh sống, phát triển, con người giai đoạn đầu này hầu như không đóng góp gì đáng kể cho quá trình phát triển của sinh quyển. Cũng như những sinh vật khác, trong hoạt động sống của mình, con người cần phải đồng hóa các yếu tố của môi trường để tạo dựng cơ thể mình, và đào thải vào môi trường những chất trao đổi như: hít thở khí trời, uống nước, khai thác thức ăn sẵn có từ thiên nhiên như muối, động thực vật trên cạn, dưới nước, khai thác nguyên vật liệu tạo dựng nơi ở. Con người đã chế tạo máy móc công cụ lao động, sinh hoạt, sử dụng năng lượng thay lực cơ bắp, mở rộng tầm nhìn vào vũ trụ. Như vậy con người là một tác nhân tiêu thụ đặc biệt, tham gia vào mọi bậc dinh dưỡng của hệ sinh thái. Nhờ vào bộ não phát triển và khả năng lao động sáng tạo, lại sống trong một cộng đồng xã hội được thông tin với nhau bằng ngôn ngữ, tin học, con người quá lạm dụng vị trí độc tôn của mình, ngày càng can thiệp thô bạo vào thiên nhiên theo hướng có lợi cho mình, dẫn đến sự suy giảm các nguồn tài nguyên, làm ô nhiễm và suy thoái môi trường.
Ảnh hưởng của yếu tố sinh thái, xã hội đến con người:
Do ảnh hưởng của lối kiếm ăn và yếu tố thức ăn, con người đã thoát thai từ động vật bốn chân, với bộ óc phát triển, hai chi trước tiến hóa thành đôi tay thần diệu và dáng đứng thẳng tạo nên hình dạng cân đối của con người. Yếu tố khí hậu, đặc biệt là chế độ nhiệt, bức xạ Mặt Trời và các phản ứng nhiệt hạch trong lòng đất đã tạo ra sự thích nghi của con người về hình thái, màu da và các phản ứng sinh lí.
Tác động của con người vào môi trường:
Cũng như mọi sinh vật, từ buổi đầu xuất hiện, con người đã tác động vào môi trường xung quanh để sống, nhưng thực ra, suốt một thời gian lịch sử lâu dài hàng triệu năm, những tác động đó chẳng đáng là bao do số lượng con người trên trái đất là quá nhỏ với một không gian thiên nhiên hết sức rộng lớn. Nhưng
trước công nguyên, một vạn năm sau tăng lên 5 triệu, một vạn năm sau nữa tăng lên 200 triệu và tới nay gồm 6 tỉ người, dự đoán đến năm 2020 có thể đến 7 tỉ người trên trái đất. Con người là kẻ độc tôn trên hành tinh, sinh sống ở những hệ sinh thái rất khác nhau về điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai, tài nguyên, cảnh quan địa lí...) và điều kiện xã hội. Bằng tiến bộ công nghệ, con người đã tác động vào thiên nhiên làm cho hiệu lực chọn lọc tự nhiên giảm đến mức thấp nhất. Các hệ sinh thái tự nhiên chuyển dần thành hệ sinh thái nhân tạo, hoặc bị tác động của con người đến mức bất ổn định và suy thoái. Các hoạt động chính của con người làm ô nhiễm và gây tác hại đến môi trường là:
- Sự khai thác tài nguyên thiên nhiên đến cạn kiệt, bởi lẽ nó là đối tượng lao động và là cơ sở vật chất của sản xuất, làm cho các chu trình vật chất trong tự nhiên bị phá hủy, cấu trúc vật lí của sinh quyển bị thay đổi. Việc khai thác gỗ và các loại sinh vật của rừng dẫn đến sự tàn phá rừng, thay đổi cấu trúc thảm thực vật trên hành tinh. Hậu quả dẫn đến sự thay đổi chế độ và chu trình chất khí của sinh quyển, như hàm lượng CO2 tăng, O2 giảm, nhiệt độ không khí có xu hướng tăng, hiện tượng xói mòn và cuốn trôi đất làm cho độ màu mỡ của đất giảm, nước nguồn bị nhiễm bẩn, chế độ dòng chảy của sông ngòi bị thay đổi, các loại động vật, thực vật quý hiếm bị tàn phá, tiêu diệt dần.
Các ngành công nghiệp khai hoang, khai thác khoáng sản, dầu mỏ..., đã đưa một lượng lớn các phế thải, các chất độc hại từ trong lòng đất vào sinh quyển.
Việc xây dựng đê đập, hồ chứa để khai thác thủy năng cũng làm cản trở dòng di chuyển của cá từ hạ lưu về thượng lưu trong mùa đẻ trứng, làm thay đổi độ bền vững của đất, gây ngập lụt, thay đổi khí hậu vùng hồ.
- Việc sử dụng một lượng rất lớn hóa chất làm phân bón, thuốc trừ sâu diệt cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng, sử dụng các hóa chất trong công nghiệp, trong quân sự, trong giao thông vận tải, trong nghiên cứu khoa học... dẫn đến việc đưa các chất thải độc hại vào không khí, nước, đất, gây nên sự ô nhiễm nghiêm trọng.