Tuệ Trung còn khác với nhiều đồng đạo đương thời, khi đạt đạo ông không còn để thì giờ luận thuyết các đề tài Phật giáo hay chú giải các kinh điển Phật giáo. Thượng sĩ chú trọng đề cao con đường “đốn ngộ” hơn là viện vào giáo lí, khái niệm để đạt đạo. Tuy nhiên phần nhiều những người mới tham thiền ít hiểu rõ điều này. Bởi vậy khi tìm đến với Phật pháp, họ còn tự trói mình vào những khái niệm cụ thể và từ bỏ mất cơ duyên ngộ đạo. Là một thiền gia uyên thâm theo lẽ sống tiến bộ của Thiền tông, trong tác phẩm của mình, Tuệ Trung Thượng sĩ đả phá mạnh mẽ tinh thần chấp vào khái niệm, táo bạo lật ngược một số vấn đề trong kinh bổn giáo lí cho phù hợp với thực tế Việt Nam. Ta có thể tham khảo cuộc đối thoại sau:
Hỏi: - Thế nào là pháp thân thanh tịnh?
Sư đáp:
Ra vào trong nước đái trâu Chui rúc giữa đống phân ngựa.
Lại hỏi: - Vậy làm thế nào mà chứng ngộ được?
Sư đáp: - Không có niệm nhơ bẩn tức là pháp thân thanh tịnh. Hãy nghe bài kệ của ta:
Xưa nay không bẩn sạch, Bẩn, sạch đều hư danh.
Pháp thân không vướng mắc, Nào “trọc” với nào “thanh”!
(Đối cơ)
Trong câu chuyện trên người đối thoại với Thượng sĩ đã bị ám ảnh bởi khái niệm “Pháp thân thanh tịnh” (Pháp thân trong sạch), tự trói mình vào khái niệm “thanh tịnh” và “ô nhiễm”. Câu trả lời của Thượng sĩ khiến người đối thoại bất ngờ, đánh đổ sập quan niệm của người đó bằng những hình ảnh hoàn toàn ngược lại với suy nghĩ, từ đó mà đi tới Pháp thân như một chứng ngộ đột ngột vượt lên trên khái niệm thông thường.
Trong kinh Bát nhã của Phật giáo có mệnh đề “sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Mệnh đề ấy chỉ cho con người khi thâm nhập thực tại phải thấy được sự chuyển hóa ảo diệu giữa “sắc” và “không” để siêu việt trên các khái niệm đó chứ không thể giải thích qua công thức sắc = không. Người học đạo nếu còn bám vào khái niệm sẽ tìm lời giải đáp từ công thức ấy hơn là sự chứng ngộ từ việc thể nhập. Vì thế khi học trò thắc mắc, Tuệ Trung đã trả lời:
“Nếu họ bảo vô tâm là đạo thì tất thảy cây cỏ đều là đạo cả sao? Bằng ngược lại nói vô tâm không phải đạo thì sao còn nói chuyện hữu, vô làm gì?”. Rồi ông đọc bài kệ:
Vốn không tâm không đạo, Có đạo chẳng có tâm.
Tâm, đạo là hư tịch, Biết nơi nào truy tầm?
(Đối cơ)
Tuệ Trung đã đi ngược lại điều được nói trong kinh giáo: “sắc chẳng phải không, không chẳng phải sắc”. Ở đây Thượng sĩ không hề có tư tưởng chống báng kinh giáo. Người chỉ muốn chỉ rõ kinh điển chỉ là “phương tiện”
dẫn con người đến với đạo, không phải là cái đích để con người bám víu vào đó. Bởi vì đạo mà khái niệm được thì không còn là đạo, vô tâm mà khái niệm được ắt không còn vô tâm. Làm những việc không nên làm như thế, khác gì
“luống công đem viên gạch mài vào nhau một cách khổ sở” [58, B.69]. Có nhọc nhằn đến mấy ta cũng không thể mài gạch thành gương cũng như nghiền ngẫm chữ nghĩa thì làm sao trực cảm tâm linh về Thiền được. Đạo chỉ có thể thực hiện bằng Thiền định, bằng nếp sống giới – định – tuệ, nhưng không cứ ở trong tu viện hay nơi thanh tĩnh mà ngay giữa cuộc đời, trong sinh hoạt hàng ngày.
Theo Tuệ Trung sở dĩ con người thường mê lầm, bám víu vào khái niệm như thế là do họ có cái nhìn “nhị kiến”, do cách nhận thức lưỡng phân về thế giới thực tại. Khi đặt ra vấn đề giải thoát, con người thường dựng lên ranh giới giữa phiền não với bồ đề, giữa phàm với thánh, giữa mê với ngộ, giữa niết bàn và cõi phàm trần… Vì thế họ có xu hướng từ bỏ vị trí của mình để tìm sang vị trí của giải thoát, của ngộ, của thánh, của niết bàn… Như vậy những gì ta cần tìm kiếm giờ đây sẽ thành đối tượng ở ngoài ta, nên ta khó lòng mà trực nhận được chúng.
Ở thế kỉ thứ II, Long Thọ (Nagarjuna) ở Ấn Độ đã “phân tích và lí luận trên nguyên tắc nhân duyên rằng thực tại vượt ra ngoài phạm trù sinh, diệt,
thường, đoạn, đến, đi, nhất nguyên và đa nguyên. Ông kết luận rằng những phạm trù kia chỉ là những tạo tác của khái niệm nhận thức – đem ra mà phân tích thì chúng không phù hợp với thực tại. Ví dụ về sinh và diệt: trên thực tế không có cái gì từ không mà trở thành có, không có cái gì đang có mà trở thành không; bởi vì mọi hiện tượng tồn tại trên đà chuyển biến và trở thành”
[106, tr.321-322]. Cách nhìn nhận như thế này đã xuất hiện trong khá nhiều tác phẩm của các thiền sư và tác giả đời Lý như:
Bài Chân dữ huyễn của Lã Định Hương:
Bản lai vô xứ sở, Xứ sở thị chân tông.
Chân tông như thị huyễn, Huyễn hữu tức không không.
Dịch nghĩa:
Đạo vốn không có xứ sở,
Xứ sở của nó chính là cái chân tông.
Nếu chân tông cũng là huyễn,
Thì cái“hữu” là huyễn và càng rõ cái“không” là không.
(Chân và huyễn) Bài Thị đệ tử của Vạn Hạnh:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh, thu hữu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch nghĩa:
Thân người như bóng chớp, có rồi lại không, Cây cối mùa xuân tươi tốt, mùa thu khô héo.
Tu đến bậc“nhậm vận” thì không sợ hãi vì sự thay đổi thịnh và suy, Thịnh suy như giọt sương đọng trên ngọn cỏ.
(Bảo đệ tử)
Hoặc trong các tác phẩm Vô đề (Lâm Khu), Hữu vô (Từ Lộ), Tầm hưởng (Minh Trí)… Đến Tuệ Trung điều này được thể hiện tập trung và dứt khoát hơn. Thượng sĩ cực lực đả kích cái nhìn “nhị kiến” phân chia thế giới thành hai cực rạch ròi. Bằng cách nói riêng của mình, Thượng sĩ phá tan mọi bức tường vây quanh, mang đến cho người có thượng căn, thượng trí cơ hội giác ngộ đột ngột không cần trải qua hằng chục năm tham khảo.
Với Tuệ Trung, mọi người đều có Phật tính như nhau nên không thể phân biệt phàm với thánh, Phật với chúng sinh:
Mi mao tiêm hoành tụy khổng thùy, Phật dữ chúng sinh đô nhất diện.
(Phàm thánh bất dị) Dịch thơ:
Cũng nét mày ngang đường mũi dọc, Phật với chúng sinh mặt khác nào.
(Phàm thánh chẳng có gì khác nhau – Huệ Chi dịch) Cũng không thể tách bạch rõ có và không, phiền não với bồ đề, chân như và vọng nghiệp… Bởi vì thực chất “xưa nay đều cùng một lẽ” [58, B.107], “có có, không không rốt cuộc là đồng nhất” [58, B.68], “trăng sáng đêm nay là trăng đêm qua, hoa nở năm mới cũng là hoa năm cũ” [58, B.101]… Đặc biệt vấn đề mà con người lầm lạc nhiều nhất là đem đối lập sinh với tử cũng bị Tuệ Trung phê phán mạnh mẽ. Ông viết:
Sinh tử do lai bãi vấn trình,
Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành.
Sơn vân dã hữu xuất sơn thế,
Giản thủy chung vô đầu giản thanh.
(An định thời tiết) Dịch thơ:
Sống chết về đâu chớ hỏi quanh, Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành.
Mây ngàn vốn tự bay về núi,
Nước suối thường khi đổ xuống ghềnh.
(Thời tiết yên định – Đỗ Văn Hỷ dịch)
Ông xem kẻ học đạo mà còn sợ sống và chết chỉ là “ngu nhân”. Chỉ có
“bậc trí có cái nhìn khoáng đạt, xem sống chết là lẽ thường mà thôi” [58, B.105]. Thực ra “trời đất chỉ như búng ngón tay, non sông chỉ bằng một tiếng đằng hắng” [58, B.83] và “sống chết đều từ một đợt sóng” [58, B.101] mà ra nên ta không thể xem chúng là hai cực riêng biệt. Không thấy điều cốt yếu này vì con người thường có cái nhìn huyễn hóa, “bỗng vì hoa mắt mà nảy sinh tình yêu ghét” [58, B.106]. Giống như trạng thái của một người tự lấy tay ấn vào mắt mình khiến cho con mắt nhìn cảnh vật vốn bình thường trở nên quái dị:
Xòe ra vẫn một bàn tay,
Ấn vào mắt đã thấy ngay nghìn hình.
(Đối cơ)
Mọi sự phân biệt chỉ tạo ra những giá trị ảo “giả danh”. Nó buộc ta phải sợ hãi, phiền não, khiến ta đi vào con đường lầm lạc chẳng khác nào tự rúc vào “bụng ngựa”, “thai lừa”, như “hươu khát đuổi bóng nước” chạy khắp Đông Tây rồi cuối cùng bị chết vì khát vậy. Nếu tâm còn vướng sự câu chấp thì con người chẳng khác gì “con cá măng nhảy lên ngọn trúc” [58, B.73].
Thái độ khôn ngoan nhất để thoát khỏi sự mê lầm là không bắt đuổi đối tượng
ngoài tự thân. Nói cách khác “chỉ cần bỏ nhị kiến, thực tại lộ hình dung” [58, B.107]. Một khi ta hành động “tùy duyên”, không tính toán, với cái tâm vô tư thì mới đạt hiệu quả. Cũng ví như vì leo cây mà sợ ngã, bám vào sự sống ảo ảnh mới có cái chết nhất thời. Nếu “như nhân bất thượng thụ, phong nguyệt hà sở vi?” (nếu người ta không trèo lên cây, thì gió lay, trăng rọi có làm gì được) [58, B.108].
Phủ định cái nhìn nhị kiến, Tuệ Trung không rơi vào sự phủ định hư vô chủ nghĩa. Ngược lại, nhờ nó ông trút bỏ được mọi sự ràng buộc trong nếp nghĩ cũng như trong nếp sống. Việc “trì giới kiêm nhẫn nhục” đối với ông rất đỗi nhẹ nhàng. Ông không buộc mình vào cực này hay cực kia, lại ăn thịt uống rượu như người trần tục. Nhắc đến Tuệ Trung ít ai quên giai thoại lý thú về việc đối đáp giữa ông với em gái là Nguyên Thánh Thiên Cảm Thái hậu được Trần Nhân Tông chép rất sinh động trong Thượng sĩ hành trạng: Ngày kia, Thái hậu làm tiệc lớn đãi người. Người dự tiệc, gặp thịt cứ ăn. Thái hậu thấy làm lạ hỏi rằng: “anh tu Thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được?”
Thượng sĩ cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh, anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng chẳng cần làm anh. Cô chẳng nghe các bậc cổ đức nói văn thù là văn thù, giải thoát là giải thoát đó sao?” [58, tr.545]. Câu trả lời độc đáo của Tuệ Trung phải chăng chính là sự gặp gỡ với quan điểm của lục tổ Huệ Năng ngày trước: “Bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai?” (Xưa nay không có một vật, lấy đâu vướng bụi đời). Đó cũng là tinh thần mà nhiều sáng tác của các tác giả đời Trần sau này tiếp nối. Ví dụ như bài Diên Hữu tự của Huyền Quang:
…Vạn duyên bất nhiễu thành già tục, Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng, Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.
Dịch thơ:
…Muôn duyên chẳng vướng: xa trần tục.
Một mảy nào lo: rộng nhãn quan.
Thấu hiểu thị phi đều thế cả, Dầu ma, dầu phật chốn nào hơn.
(Chùa Diên Hựu – Huệ Chi dịch) Bài sinh tử của Trần Thánh Tông:
Sinh như trước sam, Tử như thoát khố.
Tự cổ cập kim, Cảnh vô dị lộ . . . Dịch thơ:
Sống như mặc áo Chết tựa trút ra.
Xưa nay chẳng qua, Một con đường ấy . . .
(Sống và chết – Phạm Tú Châu dịch)
Đó cũng là tinh thần của người sáng lập phái Thiền Trúc Lâm trong bài Hữu cú vô cú:
... Hữu cú vô cú,
Hỗ bất hồi hỗ.
Lạp tuyết hài hòa,
Thủ chu đãi thố.
Hữu cú vô cú, Tự cổ tự kim.
Chấp chỉ vong nguyệt,
Bình địa lục trầm…
Dịch thơ:
... Câu hữu câu vô, Tác động lại qua.
Ôm cây đợi thỏ, Nón tuyết hài hòa.
Câu hữu câu vô, Dù nay dù xưa.
Quên trăng ngắm ngón, Chết đuối trên bờ…
(Câu hữu câu vô – Băng Thanh dịch)
Nhìn lại sáng tác của Tuệ Trung, ta thấy dẫu không viện đến lời lẽ có vẻ quá khích như thiền sư Lâm Tế “gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ”, song tinh thần phá chấp triệt để của Thiền Tông đã được Thượng sĩ thể hiện trọn vẹn và sinh động.