Phật giáo Thiền tông thời Lý Trần

Một phần của tài liệu Những đóng góp của Tuệ Trung thượng sĩ cho thơ thiền Việt Nam (Trang 24 - 31)

Phật giáo khởi nguyên ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ thứ VI trước Công Nguyên. Người sáng tạo ra đạo Phật là thái tử Tất Đạt Đa. Cảm thông trước nỗi khổ của người dân, đặc biệt là tầng lớp nô lệ, năm 29 tuổi ngài đã từ bỏ ngai vàng và cuộc sống phú quý trong cung điện để tìm con đường giải thoát cho chúng sinh. Sau gần 7 năm lang thang, ngài đã giác ngộ được con đường

giải thoát trong lúc ngồi suy ngẫm dưới gốc cây bồ đề. “Con đường giải thoát” mà ngài tìm ra là con đường tránh được hai cực: lạc thú và khổ hạnh.

Ngài xem con người là sự tập hợp của nhiều yếu tố vật chất không ngừng biến hóa nên sẽ không có cái gọi là linh hồn bất tử.

Khi Phật Thích Ca mất, Phật giáo phân chia thành nhiều tông phái.

Trong đó nổi bật nhất là hai tông phái: Tiểu thừa và Đại thừa. Tông phái Tiểu thừa phát triển ở miền Nam Ấn Độ và truyền sang các nước Sơrilanca, Thái Lan, Campuchia… (nó còn được gọi là Phật giáo Nam phương hay Phật giáo Pali). Tông phái Đại thừa phát triển ở Bắc Ấn và truyền qua các nước Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản… (tông phái này còn được gọi là Phật giáo Bắc phương hay Phật giáo Sanskrit).

Việt Nam là đất nước nằm trong bán đảo Đông Dương, giữa chiếc nôi của hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Quốc nên hiển nhiên sẽ chịu ảnh từ cả hai phía. Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo truyền vào nước ta từ thế kỉ thứ II bằng con đường tiếp nhận tự nguyện từ các thương buôn và tu sĩ người Ấn Độ trước khi Trung Quốc áp dụng chính sách đồng hóa nước ta. Trong công trình Lch s Pht giáo Vit Nam, Nguyễn Lang có viết: “Luy Lâu là trụ sở của Giao Chỉ, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng Việt Nam, tức huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc ngày nay. Từ đây có những tuyến đường thủy bộ nối với Bành Thành và Lạc dương. Các nhà buôn người Ấn Độ và người Trung Á đến buôn bán ở đây rất sớm và theo sau họ là các nhà sư đến hành đạo và truyền đạo... Ở đây lại xuất hiện một trong những tác phẩm Phật giáo viết sớm nhất bằng chữ Hán, đó là cuốn Lý hoc Lun của Mâu Tử, viết vào thế kỉ thứ II, xuất hiện những người trưởng thành về tu luyện rồi sang Trung Quốc truyền đạo như Mâu Tử, Khương Tăng Hội...

[106, tr.29]. Nhà sư Đàm Thiên (người Trung Quốc) khi trả lời Tùy Văn Đế về Phật giáo Giao Châu cũng khẳng định: “Xứ Giao Châu có đường thông

sang Thiên Trúc. Phật giáo vào Trung Quốc chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy đã xây ở Liên Lâu hơn 20 bảo tháp, độ được 500 vị tăng và dịch được 50 bộ kinh rồi. Thế xứ ấy theo đạo Phật trước ta...” [106, tr.32].

Điều kiện địa lí kết hợp với những nhận định nêu trên cho phép kết luận Phật giáo buổi đầu được truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang nước ta bằng con đường tiếp nhận tự nguyện thông qua quá trình giao lưu văn hóa từ các thủy thủ và thương nhân, theo sau họ có thể là những tăng sĩ truyền đạo. Nhưng đạo Phật truyền vào Việt Nam thời kì này có giáo lí như thế nào và gồm các tông phái ra sao thì đến nay vẫn chưa có câu trả lời cụ thể. Có thể là tông phái Đại thừa với hạt nhân là Thiền tông du nhập vào nước ta từ Ấn Độ. Vì theo tác giả Lch s Pht giáo Vit Nam thì “ Nam Ấn là vùng đầu tiên xuất hiện kinh Đại thừa Bát Nhã. Hán dịch là trí tuệ (...) chính dựa trên bộ kinh Bát Nhã mà luận sư Long Thọ (Nagajuna) đã xướng thuyết Trung luận nổi tiếng có ảnh hưởng sâu rộng đến Phật giáo Việt Nam” [106, tr.23-24]. Ngoài ra có thể căn cứ vào hành trạng của các nhà sư nước ngoài đầu tiên đến truyền đạo ở Giao Châu để thấy được phần nào diện mạo của Phật giáo Việt Nam thời kì này. Theo Cao tăng truyn của Huệ Hạo, Ma-ha-kì-vực là người xứ Thiên Trúc đi khắp mọi nơi truyền đạo và có phép thuật linh dị. Khâu-đà-la lại gắn với sự tích về Man nương và tượng “tứ pháp” (pháp vân, pháp vũ, pháp lôi, pháp điện). Trong cuốn Lý hoc lun của Mâu Tử, Phật không được giới thiệu như một nhân vật lịch sử mà xuất hiện như một vị thần có phép thần thông quảng đại “có thể biến đi, có thể hiện ngay, có thể đi trên lửa mà không cháy, dẫm trên dao mà không bị thương, trong chỗ nhiễm không bị bẩn, trong chỗ họa mà không chịu tai ương, muốn đi thì bay, ngồi thì phát sáng...” [106, tr.40]. Đến thế kỉ thứ III, tăng sĩ xứ Đại Nhục Chi là Chi-cương-lương-lâu với sự hỗ trợ của tăng sĩ Việt Nam là Đạo Thành đã dịch một số kinh Đại thừa ở Giao Châu. Nổi tiếng nhất là bộ kinh “Pháp hoa tam muội”. Qua bộ kinh này

“có thể thấy học phái của Chi-cương-lương-lâu và Đạo Thành là Đại thừa giáo và có khuynh hướng Thiền học” [106, tr.75].

Từ năm 580, thiền sư Ấn Độ là Tì-ni-đa-lưu-chi sang Giao Châu truyền giáo và lập ra Thiền phái thứ nhất ở Việt Nam. Ông là học trò đắc pháp của Tăng Xán, tổ thứ 3 của Thiền tông Trung Hoa, nhưng dòng Thiền này vẫn mang sắc thái của Thiền học Ấn Độ. Phái Thiền này coi trọng sự tu định và tham thiền. Đây chính là pháp môn của Bồ-đề-đạt-ma, một đại biểu xuất sắc của Thiền tông Ấn Độ.

Năm 820, thiền sư Trung Hoa hiệu Vô Ngôn Thông, sang chùa Kiến Sơ làng Phù đổng tỉnh Bắc Ninh (Nay là Hà Bắc) lập ra phái Thiền thứ hai tại Việt Nam. Vô Ngôn Thông đắc pháp từ thiền sư Bách Trượng – học trò đời thứ 3 của lục tổ Huệ Năng rồi sang Việt Nam truyền đạo. Tư tưởng cơ bản của dòng thiền Vô Ngôn Thông là “chân lí không phải ở đâu xa mà ở ngay hiện tiền, ở trong bản thân mỗi người, nhưng chân lí đó chỉ có thể tu chứng trực tiếp chứ không thể nào nắm bắt được qua ngôn ngữ văn tự” [106, tr.119].

Đó chính là “đốn ngộ”.

Từ thế kỉ thứ X và trong suốt các thời kì Ngô, Đinh, Tiền Lê, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển. Một số trung tâm Phật giáo mới xuất hiện như Đại La, Hoa Lư… Hai phái Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. Ở giai đoạn này thật khó nêu lên sự khác biệt của hai phái Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông. Dường như đối với các nhà sư thuộc phái Vô Ngôn Thông, các vấn đề cơ bản của Thiền học được quan tâm nhất là: Tâm – Phật, sinh tử – vô sinh tử, chân như… Ở các nhà sư thuộc phái Tì-ni-đa-lưu-chi ta thường gặp các hình thức tu tập mang tính chất Mật giáo. Các nhà sư hay đọc các bài thần chú để chữa bệnh, cầu mưa... làm công việc giống các đạo sĩ Đạo giáo. Ngoài ra các nhà sư còn dùng hình thức kệ, sấm để tác động đến dư luận, nhất là việc chuẩn bị cho các cuộc vận động

chính trị (Pháp Thuận, Vạn Hạnh). Yếu tố Mật giáo còn được thể hiện ở các cột kinh ở Hoa Lư. Tuy nhiên Mật giáo chỉ biểu hiện ở những khía cạnh riêng lẻ, chưa hình thành tông phái độc lập. Ở Việt Nam thời bấy giờ cũng như về sau chỉ có các phái Thiền tông.

Như vậy kể từ lúc du nhập vào Việt Nam cho đến cuối thời Tiền Lê, Phật giáo đã trải qua một chặng đường phát triển khá dài với các đặc điểm nổi bật sau:

 Phật giáo Việt Nam là sự hòa hợp từ 3 nguồn du nhập:

+ Phật giáo Đại thừa mang đậm xu hướng Thiền từ Nam Ấn trực tiếp du nhập vào Việt Nam vào thế kỉ thứ II.

+ Thiền tông Ấn Độ qua Trung quốc truyền vào Việt Nam ở thế kỉ thứ VI qua thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi.

+ Thiền tông Trung Quốc trực tiếp truyền sang Việt Nam vào thế kỉ thứ X qua thiền sư Vô Ngôn Thông.

 Phật giáo truyền vào Việt Nam không hoàn toàn giống Phật giáo của đức Thích Ca cũng như Phật giáo Ấn Độ đương thời. Nó đã thay đổi cho phù hợp với tín ngưỡng và truyền thống tư tưởng của người Giao Châu gắn với trung tâm Luy Lâu.

 Thiền tông là tông phái chủ yếu của Phật giáo ở nước ta. Thiền tông buổi đầu còn chịu ảnh hưởng từ Mật tông và Tịnh độ tông (chủ trương niệm Phật để cầu vãng sinh cực lạc), nhưng càng về sau càng biến đổi cho phù hợp với tâm lí người Việt.

Sang đời Lý, hai phái Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông tiếp tục phát triển song song. Theo Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi có các thiền sư như Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Minh Không, Thiền Nham... đều nổi tiếng có phép thuật, thể hiện rõ sự ảnh hưởng của khuynh hướng Mật giáo. Họ không chỉ tu đạo mà còn góp phần giải quyết nhu cầu thực tế như: cầu an, chữa bệnh, thu

phục thú dữ… Phái Thiền Vô Ngôn Thông tồn tại ở đời Lý từ thế hệ thứ 5 đến thế hệ thứ 15. Nổi bật là các thiền sư có tên tuổi như: Đa Bảo, Viên Chiếu, Lý Thái Tông, Mãn Giác, Ngộ Ấn… Các thiền sư phái này chủ trương

“đốn ngộ”. Muốn đạt đến cảnh giới bừng sáng ấy thì người tu Thiền không được có cái tâm phân biệt và phải chống lại sự phân tích lí tính. Ở Thiền phái này cũng chịu ảnh hưởng của Mật giáo nhưng không sâu đậm như ở ở phái Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi.

Nhìn chung các nhà sư đời Lý đều đề cao “đốn ngộ” nhưng không gạt bỏ “tiệm ngộ”. Trong văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh dựng năm 1118, thiền sư Pháp Bảo có viết: “tuy giáo pháp chia ra đốntiệm; là tùy cơ ngộ có nông sâu. Khiến chúng sinh vượt hố đoạn thường; lên bờ tịch diệt.”

[97, tr.332].

Đặc biệt ở thời Lý, ngoài hai tông phái đã nêu trên còn xuất hiện phái Thiền Thảo Đường. Người mở đầu cho phái Thiền này là thiền sư Thảo Đường, người Trung Quốc. Ông theo sư phụ sang Chiêm Thành truyền đạo, bị Lý Thái Tông bắt làm gia nô của quan Tăng lục khi bình định Chiêm Thành. Về sau vì có đạo hạnh nên ông được vua tôn làm quốc sư. Sách vở của phái thiền Thảo Đường còn lại rất ít nên ta có thể lĩnh hội tinh thần của tông phái này qua lời của Thảo Đường trong bài Cnh sách: “Thiền vốn không có cửa vào nhất định, không phải người có đủ linh căn thì phần nhiều rơi vào đường lầm lạc, trọn đời trôi nổi, khó mà giác ngộ. Phép quán tâm thì rất tế nhị, tinh vi, nếu không có trí tuệ Bát nhã thì ít đạt tới sự chứng nghiệm. Chỉ có lối niệm Phật rất mau lẹ, tiện lợi. Từ xưa đến nay người thông minh, kẻ ngu độn cùng tu được, đàn ông, đàn bà đều chuộng, muôn người không một sai lầm như bốn lời dạy đã tỏ rõ. Chỉ cần tự phân tích lấy tâm mình, chớ nghi ngờ mình làm không được...” [13, tr.20-21]. Như vậy tinh thần của phái Thảo

Đường tổng hợp cả Thiền và Tịnh, gần gũi với dân thường, tiếc là sự truyền thừa của nó không được kéo dài (qua 4 đời).

Tóm lại đạo Phật thời Lý thể hiện sự dung hòa của cả Thiền, Mật và Tịnh, trong đó Thiền tông vẫn là yếu tố chủ đạo. Đó là đạo Phật rất đại chúng, góp phấn tạo nên sự hưng thịnh cho triều đại nhà Lý về nhiều mặt. Đáng tiếc là về cuối đời Lý, đạo Phật lại có biểu hiện suy thoái. Năm 1198, tể tướng Đàm Dĩ Mông tâu với vua Lý Cao Tông: “đương nay số tăng đồ và phu dịch ngang nhau. Chúng quy kết bè lũ, lập càn người chủ, tụ họp từng bọn làm nhiều điều ô uế...” [103, tr.116].

Sang đầu đời Trần, sự thay đổi của thời đại đã thổi một luồng không khí mới vào Phật giáo làm nó trở nên trong sạch và nhập thế. Các nhà Thiền học uyên thâm như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Trần Nhân Tông đều là những con người xông pha trận mạc, lập bao chiến công hiển hách. Đối với các thiền sư cũng như tất cả người yêu Thiền lúc bấy giờ, Phật giáo là đạo Phật hết sức gần gũi.

Nói đến Phật giáo đời Trần không thể không nhắc đến sự hình thành của phái Thiền Trúc Lâm – phái thiền của Việt Nam. Người chính thức khai sáng và được xem là tổ thứ nhất của phái Thiền này là Trần Nhân Tông. Song tư tưởng của phái Thiền này thì đã bắt nguồn từ nhiều bậc thầy trước đó như Trần Thái Tông, Đại Đăng, Tiêu Dao, gần nhất là Tuệ Trung Thượng sĩ – một thiền gia với tư tưởng đặc biệt phóng khoáng, cởi mở, có thể xem là đại biểu cho phong thái Thiền tông đời Trần. Trên cơ sở kế thừa Thiền tông đời Lý, dung hòa “tiệm ngộ” và “đốn ngộ”, chắt lọc sự tinh túy của Nho giáo và Đạo giáo, đời Trần đã tạo nên một đạo Phật có đặc điểm riêng, phù hợp với người Đại Việt.

Từ những khảo sát trên, ta thấy Thiền tông Việt Nam thời Lý Trần ngoài tôn chỉ chung của Thiền tông là “phá chấp” (cởi bỏ mọi vướng mắc,

chấp trước, phân biệt “nhị nguyên”), “đốn ngộ” (“kiến tính” bằng con đường trực giác), “tâm truyền” (trao truyền thẳng vào lòng người, không thông qua văn tự), còn có một số nét riêng:

Thiền được đưa vào cuộc sống, gắn bó với cuộc sống, phục vụ nhân dân. Nhiều thiền sư trong giai đoạn này chọn lối sống cư sĩ, nhưng khi đất nước cần thì sẵn sàng tham chính, mặc áo giáp ra trận, vừa hành đạo vừa làm việc đời. Đạo Phật trở thành thứ đạo lí để nuôi dưỡng chân tính, tu dưỡng nhân cách của con người, giúp họ an nhiên tự tại, vui sống, tự tin vào bản thân.

Thiền dung hợp với yếu tố tích cực của cả Nho giáo và Đạo giáo để giúp con người phát triển toàn diện, phù hợp với con đường phát triển của thời đại. Thiền dung hợp với cả với Tịnh độ, Mật tông, hòa cùng tín ngưỡng dân gian bản địa để phù hợp với thực tiễn và mang tính đại chúng.

Tóm lại Phật giáo thời Lý Trần là hệ tư tưởng phù hợp với đạo lí và tâm lí của con người Đại Việt, là một trong những yếu tố giúp Đại Việt khởi sắc. Nó vừa góp phần tạo lòng tin cho mỗi người, vừa khuyến khích con người quay trở về với chân tâm của mình. Đó là đạo Phật đầy sức sống, không hề hư vô, yếm thế, không thoát li khỏi đời sống. Nó là hệ tư tưởng được nhiều người chọn để thể hiện trong thơ văn, tạo nên cho thời đại Lý Trần một dòng văn học đặc biệt mà mỗi cái tên là một khám phá thú vị.

Một phần của tài liệu Những đóng góp của Tuệ Trung thượng sĩ cho thơ thiền Việt Nam (Trang 24 - 31)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(132 trang)