Thời gian nghệ thuật

Một phần của tài liệu Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc (Trang 83 - 103)

CHệễNG III QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

2) Thời gian nghệ thuật

Bên cạnh những đặc trưng nêu ở phần trên,nông thôn còn là không gian của huyền thoại và lịch sử. Đây là một loại thời gian nghệ thuật đặc biệt ,chỉ gắn liền với không gian nông thôn. Gắn nông thôn với thời gian của huyền thoại và lịch sử ,Bình Nguyên Lộc đã biến nó thành một không gian thiêng. Nhắc đến nông thôn miền Nam trong văn Bình Nguyên Lộc,chúng ta không thể không nhớ đến những câu chuyện về thần Sông,thần Cù, thỉnh thoảng lại xâm nhập vào thế giới con người ,thử thách con người đồng thời cũng trả ơn trả nghĩa cho con người… ( “Câu dầm” ) ; những câu chuyện về đức hi sinh thầm lặng và dẻo dai của biết bao thế hệ tiên phuông miền Nam trong những thế kỉ khai phá và mở mang bờ cõi ( “Rừng mắm” ).Thậm chí,hình tượng một người thanh niên đứng chống nạnh nhìn cánh đồng khô hạn bằng ánh mắt chinh phục cũng khiến ta phải liên tưởng đến cái sức sống kiên cường của đất nước được tiếp nối qua bao thế hệ, cái “sức mạnh rút từ trong lòng đất để rồi bồi bổ cho đất mạnh ra” ( 9, 299 )

Chính vì nông thôn là nơi của đùm bọc, yêu thương, của những mối tình hy sinh cao đẹp,của huyền thoại và lịch sử mà nông thôn trở thành nơi con người tìm thấy điểm tựa tinh thần cho mình. Những từ “điểm tựa tinh thần” nghe có vẻ khó hiểu,nhưng thực ra, Bình Nguyên Lộc nghĩ về nó khá đơn giản. Con người có một “điểm tựa tinh thần” khi không bị rơi vào lạc lõng, bơ vơ, khi có một tâm hồn bầu bạn để mà tin tưởng và chia sẻ (tựa như ông Thần Tốc, trong tiểu thuyết “Khi Từ Thức về trần”, từ bỏ tiền tài, quyền lực nhưng phũ phàng, bạc bẽo của chốn phồn hoa để trở về thôn dã, nơi có những nụ cười sung sướng chào đón ông sau mỗi ngày lao động vất vả ).Trong truyện “Người đẹp ven sông” ,anh Tư Được không chết nhưng vỡ mộng với đô thị.Cảm xúc chung của tác phẩm là xót xa,cay đắng,ê chề .Ngươc lại,trong truyện “Không một tiếng vang” ,anh Nhánh bị chết thảm thương dưới đáy sông nhưng cảm xúc chung của tác phẩm lại là sự ấp áp,bao bọc,bởi vì anh không cô độc.Anh ra đi trong tình yêu nỗi nhớ của người vợ hiền,của bà con chòm xóm,và thân thể anh thì được tan vào đất mẹ.Có khi, thiêng liêng hơn, như lời người phụ nữ trong truyện “Chiêu hồn nước”,nông thôn là linh hồn của quê cha đất tổ,nơi

những đứa con xa xứ tìm thấy bản ngã của mình : “Một vũng ao tù trong thôn xóm chăng ? Một chơn trời quen thuộc ? Một mùi cá nướng ? Một vài tiếng sáo mục đồng ? Hay là tất cả những thứ ấy nó họp lại để làm một linh hồn của quê cha đất tổ mà em ngỡ từ bỏ được, nhưng không thể được”

( 9, 946 ).

Nông thôn luôn gắn liền với nỗi nhớ,điều ấy có nghĩa là khoảng thời gian đẹp nhất là thời gian quá khứ .Bình nguyên Lộc quan niệm con người ta chỉ yêu được miền đất nào người ta có nhiều kỉ niệm-những kỉ niệm được tạo nên bằng sự gắn bó của nhiều thế hệ con người .Người ta chỉ yêu được một mái nhà ,khi ở đấy có cái bàn thờ đã ba đời, có “những chiếc rổ ,chiếc thúng treo giàn cho khói un giết mọt ,chìm dưới một lớp bụi thời gian ”( 11,831 ).Oâng từng khẳng định : “Tôi không hiểu người Do Thái làm sao mà thương được nước Israel .Riêng tôi,tình quyến luyến của một ngôi nhà,một làng hẻo lánh,một thành phố ,một quê hương phải bắt nguồn trong một dĩ vãng lâu đời mà nước mắt và nụ cười của bao thế hệ đã ràng buộc con người vào đất ,vào vật và người” ( 9,830 ).Như vậy tình yêu quê hương luôn được tạo nên bằng những kỉ niệm,mà kỉ niệm thì thì luôn được tạo nên bằng dĩ vãng .Chính vì thế ,Sài Gòn ông yêu không thể nào là Sài Gòn đang phương Tây hoá,Mĩ hoá,hay nói nhẹ nhàng hơn là

“quốc tế hóa” ,ngược lại,đấy phải là Sài Gòn của những ngày xưa.Như ông nói, “thủ phủ miền Nam là một thành phố mới .Cây đá,nhà phố, phong tục đều chưa mang được cái vẻ cổ kính ,chưa biết kể lể những kỉ niệm cảm động để quyến luyến con người

Nhưng trong cảnh thiếu thốn bản sắc riêng ấy ,may thay,Sài Gòn còn được con sông Oâng Lãnh

….Con sông gợi tình,thỉnh thoảng màu nước trong xanh biến ra vàng sậm vì từ lòng đất vẩn lên phù sa gợi nhớ Thuỷ Chân Lạp hoang vu nê địa ,gợi nhớ cuộc đổ xô vào Nam ,gợi hình ảnh đẹp đẽ của đoàn người chiến đấu với thiên nhiên để khai thác đất mới… ” ( 9,821 )

Có thể nói Sài Gòn của nông thôn và dĩ vãng luôn đầy ắp trong tâm hồn ông ,chỉ cần một hình ảnh,một âm thanh ,một mùi vị gợi hứng,lập tức nó được trào ra,tràn đầy trên đầu ngọn bút : “… rồi thì từ tất cả các thứ ấy ,vẳng lên : “Ai chè đậu…cháo cá …hông ? ”

Bất giác ta bị đẩy lùi về thế kỉ trước,và câu ca dao :

Bắp non mà nướng lửa lò Đố ai ve đặng con đò Thủ Thiêm

Như được một người bình dân nào bập bẹ cho nó thành hình,chập chững lần dò,bỏ một tiếng,thêm một lời, để tỏ tình gián tiếp với cô gái chèo thuyền có tấm thân như dòng sông uốn khúc” ( 9,823 )

Do vậy mà,cuối cùng, chỉ có nông thôn, ngoài ra không thể còn một không gian nào khác, chỉ có nông thôn mới là nơi hun đúc cho con người một nhân cách đích thực. Nói như cụ ông trong thiên truyện “Phân nửa con người” thì đời người qua tuổi ấu thơ mà chưa được hưởng cái thú bắt dế thì nhân cách… chỉ còn một nửa. Và thiêng liêng hơn, theo quan niệm nghệ thuật của Bình Nguyên Lộc, chỉ nông thôn mới là nơi hun đúc cho con người một tấm lòng yêu nước chân chính, tức là, rèn luyện cho con người một nhân cách chân chính. Nếu nói nhân cách của một con người được thể hiện qua mối quan hệ của anh ta với thế giới xung quanh, thì đây, chính ở nông thôn, mà người ta có tình máu mủ ruột rà, có tình làng nghĩa xóm, có tình yêu với mái bếp, ruộng đồng … Còn ở đô thị, người ta không yêu được cái gì hết, mặc dù đây là nơi người ta kiếm được rất nhiều tiền. Sống ở nơi này,người ta có thể biết có bao nhiêu người chết ở Irắc ,ở Palestin mỗi ngày ,nhưng có khi ông hàng xóm nhập viện đã ba tuần mà chẳng hay.Còn nói như bà cụ trong truyện “Lửa tết”,thì đèn màu, vũ trường, cinema, thời trang … không phải là cái để người ta nhớ vì nó thay đổi luôn luôn. Đoạn đối thoại sau đây trong thiên truyện “Đất không chết” (tập “Nhốt gió”) phản ánh rõ nhất quan niệm trên đây của nhà văn:

- “ (…)nếu ta bắt buộc phải chiến đấu,tinh thần ta sẽ bị đem ra thử thách một cách ghê hồn .Chẳng may trong một khi yếu đuối ,nó bị lung lay,anh sẽ bám vào đâu ?

- Anh ngờ lòng yêu nước của tôi sao ?

- Tôi biết anh yêu nước như anh Quang,anh Khắc,như hầu hết mọi người khác .Như lòng yêu nước của anh thiếu chất ,cũng như tô canh chua thiếu vài cọng rau om.Sự thiếu thốn ấy không làm giảm vẻ đẹp của tô canh nhưng làm bớt mùi vị ít nhiều.

- Toõi khoõng hieồu

- Anh yêu nước vì thầy bạn,bạn ,sách vở dạy anh yêu nước.Chớ không phải tự nhiên mà anh yêu.

- Anh tự nhiên mà yêu à ?

- Chớ sao.Tôi quan niệm rằng yêu nước là một mớ hỗn hợp ý tình.Ý và tình,anh nghe chưa ? Vì bở có cả ý lẫn tình nên yêu nước không phải dạy mà có được.Hay được cũng không bền vững.Cái phần tình ấy (…)nó len lẻn vào ta mỗi khi một ít,hồi nào,nào ta có hay,thấm nhuần lòng ta,đâm chồi nảy lộc,bao phủ thớ thịt,xâm chiếm tế bào,hột huyết của ta.Một khi ta cần đến nó,ta khỏi kêu gọi,nó cũng hiện hình .Chỉ có hoàn cảnh riêng là đồng nội mới tẩm được thứ tình ấy

Những người sanh trưởng ở châu thành như anh thiếu những sợ dây vô hình nó ràng buộc họ với quê hương

Phải có những nếp nhà đã chứng kiến bao nước mắt,bao nụ cười của bao thế hệ trong dòng họ ta,những nếp nhà mà mỗi món đồ( từ thếp đèn thưa gãy chân đến cây ngạch cửa mòn lẵn dưới bàn chân của bao người mến yêu ) đều là bầu bạn của ngày buồn lẫn ngày vui của ta .Phải có những con đường mòn bò quanh quẩn trong làng mà mỗi phiến đá bên lề biết kể lể một câu chuyện đau thương hay ngồ ngộ .Phải có những vuông ruộng sau nhà mà nơi đó lưỡi cày của tổ tiên ta đã lặn hụp từ mấy ngàn năm.Phải có gương mặt của từ mẫu nghiêng xuống bên tai ta mà rót vào đó những câu ru ta không hiểu mà ta thích nghe.Hoặc nhỏ to kể lể những câu chuyện đời xưa cảm động hay hãi hùng.

Phải có những cái ấy .Chúng lẩn lút trong người ta ,ràng buộc ta mãi với quê hương .Khi,vì nghịch cảnh, lòng tin ta bị lung lay tận gốc ,ta nghiêng mình xuống đáy lòng ,múc đầy hi vọng và sức mạnh mới .Phải cần những đau khổ chung, những nguyện vọng tha thiết để kết chặt những người rời rạc lại .Cần những truyền tục,những kỉ niệm,nói tóm lại những cái gì nó buộc ta yêu quê hương nhỏ của ta trong quê hương lớn” (8, 295)

Như vậy, trong quan niệm nghệ thuật của Bình Nguyên Lộc, nông thôn là một không gian văn hóa, đại diện cho dân tộc thậm chí đồng nhất với dân tộc. Ngược lại, đô thị là một không gian phi bản sắc, có tính chất quốc tế. Chính ở đô thị mới xuất hiện những con người như Lucie Minh, không xa lạ với bất kỳ một món ăn ngoại quốc nào, không ngỡ ngàng trước bất kỳ một phong cách xã giao quốc tế nào. Đó là những con người thích hợp với mọi không gian văn hóa, có nghĩa là nó không thuộc về một không gian nào cả (“Những đứa con thương của đất mẹ”). Như cách

gọi của vị giáo sư trong “Căn bệnh bí mật của nàng”, đó là những tâm hồn “đô thị và quốc tế”. Ta thấy quan niệm của Bình Nguyên Lộc khá tương đồng với quan niệm của các nhà văn hóa học hiện nay, theo đó, đô thị là một không gian mở, không gian của truyền bá và du nhập, nông thôn là một không gian khép, thiên về bảo lưu những sản phẩm văn hóa có tính dân tộc và truyền thống. Mà với một con người “lấy dân tộc làm trung tâm” như Bình Nguyên Lộc, lại sống trong bối cảnh mà tư tưởng

“tìm về dân tộc” là tư tưởng chủ đạo, thì, như ông nói, dẫu có “đi xa mười năm vẫn nhớ Sài Gòn. Không nhớ những phố lớn, nhà cao, vô vị vì giống phố nhà nơi khác, mà nhớ con sông nho nhỏ, khổ đau vì chở nặng những ghe chài khẳm lừ hàng hóa, thủ phận người vợ hiền chăm nuôi con dại, và bỡ ngỡ như một chị nhà quê lạc lõng vào thành phố ” ( 9, 820).

Để kết luận ở chương này,chúng tôi thấy có thể trao đổi với Bình Nguyên Lộc chút ít .Nói rằng người thị dân không thể có lòng yêu nước đích thực, rằng chỉ có nông dân ở thôn quê mới là những người yêu nước thực lòng thì liệu có cực đoan quá chăng ? Dĩ nhiên, chúng ta có thể hiểu vì sao Bình Nguyên Lộc nghĩ như thế khi nhìn tình hình văn hóa và chính trị của Sài Gòn thời ấy, nhưng dẫu sao, Sài Gòn cũng chưa bao giờ là Las-Vegas, là Cali hay Los Angelas. Ngay cả ở thời điểm này, ngoại trừ Singapore và Băng Cốc, tâm thức đô thị khá rõ nét, thì hầu hết đô thị Đông Nam Á, dĩ nhiên trong đó có các thành phố nước ta, tâm thức nông thôn vẫn là tâm thức chủ đạo. Mặt khác, nếu nói rằng người nông dân yêu làng mạc của họ, quê hương của họ thì rất đúng, nhưng nếu “suy rộng ra” như Bình Nguyên Lộc, khi người ta đã yêu quê hương nhỏ thì người ta cũng sẽ yêu quê hương lớn là đất nước, thì không hẳn đúng. Khi miền Nam bị xâm lăng, thì ở miền Bắc, lớp người đầu tiên nổi giận chính là các Nho sĩ (thế kỷ XIX) và thanh niên thị dân (thế kỷ XX); khi miền Bắc bị tàn phá, thì ở miền Nam, lớp người đầu tiên cất cao “Tiếng hát những người đi tới” chính là sinh viên- thanh niên thành thị. Nông thôn là không gian khép, trong kiến thức của người nông dân, không gian có thể trải rộng ra cả thế giới, nhưng trong tâm thức của họ, toàn bộ không gian chỉ là làng xã mà họ yêu quý. Chỉ có trong tâm thức của người dân đô thị, không gian của đất nước mới được định hình rõ nét và đầy đủ. Còn về lòng yêu nước của người nông dân, chúng tôi đồng ý với ý kiến của nhà

nghiên cứu Trần Đình Hượu : “(…) ta nói nông dân ta yêu nước thì có đúng không ? Dân biết nước là cái gì mà yêu ? Dân làm sao mà biết nước được, dân chỉ biết làng thôi, dân giỏi nhất là biết đến huyện, chứ làm sao mà biết nước được ? Cho nên không thấy vai trò của nhà nho trong tư tưởng yêu nước mà lại tưởng nông dân yêu nước là sai. Nông dân đứng đằng sau nhà nho mới có tư tưởng yêu nước chứ nếu nông dân mà không có tầng lớp văn hóa là nhà nho thì không thể biết yêu nước” ( 6, 274).

TÓM TẮT CHƯƠNG IV

Chương IV trình bày về thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc.Trong chương này,chúng tôi nêu bật đặc trưng hai loại không gian nghệ thuật trong văn ông : nông thôn và đô thị. Có một điều đáng chú ý là không gian nghệ thuật trong văn xuôi của ông thường được định hình bằng ba yếu tố : mùi vị ,âm thanh và những hình ảnh thị giác.Không gian nông thôn được coi là không gian của văn hoá, của tình người,là nơi con người tìm thấy một điểm tựa tinh thần,là đối tượng của những niềm thương nhớ,là không gian đồng nhất với dân tộc.Đô thị là không gian gắn liền với cái quốc tế ; mâu thuẫn,đối lập với không gian nông thôn. Nó là cửa ngõ để những yếu tố ngoại lai xâm nhập .Nó không phải là nơi con người gặt hái được hạnh phúc.Nó tạo ra những con người vong bản…Loại thời gian nghệ thuật đặc trưng trong văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc là thời gian kỉ niệm, thời gian quá khứ,thời gian của nỗi nhớ thương,của tình người,của văn hoá…Loại thời gian này luôn luôn gắn bó chặt chẽ với không gian nông thoân.

CHệễNG V

NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT BÌNH NGUYÊN LỘC

Nếu hội họa dùng màu sắc, đường nét ; âm nhạc dùng giai điệu, âm thanh; điêu khắc dùng hình khối… thì văn chương dùng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt. Cũng như màu sắc, âm thanh, hình khối trong nghệ thuật khác màu sắc, âm thanh, hình khối ngoài tự nhiên, ngôn ngữ văn chương cũng khác ngôn ngữ cuộc sống. Chỉ riêng với lí do đó, ngôn từ nghệ thuật đã có một ý nghĩa quan trọng, đã là một đối tượng không thể thiếu được của nghiên cứu văn học, là một “cửa ngõ” cần vượt qua để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. Tuy vậy, ý nghĩa của ngôn từ nghệ thuật đối với việc nghiên cứu văn học còn nằm ở một bình diện khác, quan trọng hơn. Hoạt động văn học thực chất là một hoạt động giao tiếp, nhưng là một dạng giao tiếp đặc biệt. Đối với các dạng giao tiếp thông thường của con người, ngôn từ chỉ đơn giản là một công cụ, một phương tiện giao tiếp, chứ không phải là một nội dung giao tiếp.

Nhưng ở văn chương thì khác. Người ta không chỉ thưởng thức cái nội dung, tư tưởng, ý tứ … do nhà văn nói ra, mà còn thưởng thức cả ngôn từ của nhà văn nữa. Đọc một bài báo, một thông cáo khoa học, một nghị quyết chính trị, một văn bản luật, … không ai lại đi thưởng thức ngôn từ của chúng, nhưng đọc Truyện Kiều thì không chỉ đến với chủ nghĩa nhân đạo, đọc Nguyễn Tuân thì không chỉ đến với nền văn hoá tài tử của thế hệ trước …. mà còn là đến với ngôn từ của chúng nữa. Do vậy, trong luận văn này, để đạt mục đích tiếp cận đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc, chúng tôi dành hẳn một chương để khảo sát ngôn từ nghệ thuật của nhà văn.

1.Các dạng thức đa thanh,phức điệu trong lời văn nghệ thuật Bình Nguyên Lộc

Điều chúng tôi tâm đắc nhất khi đọc hai công trình “Ngôn ngữ tiểu thuyết ““Những vấn đề thi pháp Đoxtôiepki” của M.Bakhatin, là

Một phần của tài liệu Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc (Trang 83 - 103)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)