Các dạng thức cú pháp của lời văn nghệ thuật Bình Nguyên Lộc

Một phần của tài liệu Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc (Trang 103 - 116)

CHệễNG III QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

2. Các dạng thức cú pháp của lời văn nghệ thuật Bình Nguyên Lộc

Ngôn ngữ học hiện đại cho rằng có 7 yếu tố tạo nên một quá trình giao tiếp hoàn chỉnh : người tạo lập văn bản, người tiếp nhận văn bản, nội dung thông tin, mục đích giao tiếp, kênh giao tiếp (phương tiện truyền tin), hoàn cảnh giao tiếp và phương tiện ngôn ngữ. Ưùng với mỗi một người tạo lập văn bản, người tiếp nhận văn bản , ứng với mỗi một nội dung, mục đích giao tiếp nhất định, văn bản có một phương tiện ngôn ngữ thích hợp. Văn học là một dạng thức giao tiếp đặc biệt của con người, cho nên nó có những đặc trưng riêng, khác với phong cách ngôn ngữ của các loại văn bản khác. Mặt khác, ở mỗi nhà văn, do cá tính, vốn sống, phong cách, quan niệm về nghệ thuật... không giống nhau, nên lời văn nghệ thuật của họ cũng khác nhau. Sự dị biệt ấy trong lời văn nghệ thuật là do mỗi nhà văn có một tập hợp những dạng thức cú pháp riêng. Cho nên, để

tìm hiểu đặc trưng văn xuôi nghệ thuật của một nhà văn thì không thể không tìm hiểu các kiểu dạng thức cú pháp trong lời văn nghệ thuật của oâng ta.

Tìm hiểu lời văn nghệ thuật Bình Nguyên Lộc, chúng tôi nhận thấy có các kiểu cú pháp sau đây :

Thứ nhất là kiểu cú pháp sóng đôi. Đó là kiểu cú pháp dựa trên sự cấu tạo giống nhau giữa hai hay nhiều câu hoặc hai hay nhiều ngữ trong câu. Nó tạo nên nhịp điệu dồn dập, góp phần phản ánh sự phong phú hiện thực, sự bề bộn, trong suy tư và cảm xúc của tác giả . Đây là kiểu cú pháp được nhiều nhà văn sử dụng, nhưng mỗi người một vẻ. Ơû Bình Nguyên Lộc, chúng tôi nhận thấy kiểu sóng đôi được nhà văn ưa thích nhất là kiểu sóng đôi bộ phận : lặp đi lặp lại một đơn vị ngữ pháp trong giới hạn một câu. Chẳng hạn : “không thể nào mà anh tưởng tượng nỗi sự thèm khát quê hương của một kẻ lìa xứ vĩnh viễn không hy vọng trở về như em. Thèm như là thèm một cá nướng chấm mắm nêm, thèm hương bưởi, thèm tiếng chuông chùa ngân nga vào buổi hoàng hôn, thèm cảnh cấy mạ vào đầu mùa lúa...” ( 9,945-946) hoặc :

“Tao không ham vui. Tao chỉ thương mến quê hương thôi. Đi, tao nhớ gốc cây đa đằng miếu, tao nhớ con rạch sau nhà, tao nhớ...tao nhớ đến cả cái mùi đất ở đây...” ( 9, 1070 )

Một kiểu sóng đôi khác cũng thường gặp ở Bình Nguyên Lộc là kiểu sóng đôi diễn đạt sự đối chiếu :

“Tình như xứ, nhớ nhà gồm nhiều yếu tố , mà nỗi thèm mùi đất là một yếu tố quan trọng. Nỗi thèm này có khi mãnh liệt như nỗi thèm mùi khói thuốc phiện của những con thằn lằn, những con chuột lắt sống trong buồng của những kẻ hút thuốc phiện, họ thèm và nhớ đất y như là đào hát thèm và nhớ sân khấu, vũ nữ thèm và nhớ đèn màu, và y như là cá thèm và nhớ nước...” ( 9, 981).

Ơû đoạn văn trên, kiểu cú pháp sóng đôi đã kéo tác giả liên tưởng liên tục từ con thằn lằn, con chuột lắc đến đào hát, vũ nữ và ...cá. Những đối tượng ấy khác nhau về bản chất nhưng giống nhau ở chỗ không thể sống được nếu tách khỏi môi trường quen thuộc của mình. Bằng kiểu câu

này, nhà văn làm cho nỗi nhớ nhà, nhớ xứ, vốn là một loại tình cảm trừu tượng, được trở nên cụ thể hoá .Cái hay trong câu văn có kết cấu sóng đôi của Bình Nguyên Lộc là vẫn tạo được nhịp nhàng cho câu văn mà không làm cho câu văn sa vào lối biền ngẫu của lời văn cũ như một số nhà văn Nam bộ thường mắc phải.Chẳng hạn câu văn sóng đôi của Bình Nguyên Lộc không biền ngẫu như câu văn sau củ Hồ Biểu Chánh : “Có đêm hai người đàm luận việc đời với nhau ,ông già đã lịch lãm nhơn tình,nên mỗi lời đều dè dặt, người trẻ còn tự cường tự đắc,nên mỗi lời đều cứng cỏi ,nhưng mà hai người chẳng khi nào chõi với nhau,trẻ có tính nóng nảy thì già chỉ lẽ chánh mà khuyên lơn, già có chán đời thì trẻ dùng lời êm mà an ủi ” ( “Ai làm được” ,NXB Mai Hương, SG,1958,tr 25 ).Lời văn nghệ thuật của Bình Nguyên Lộc tránh được lối biền ngẫu có lẽ vì ông cố ý tạo ra sự lệch pha trong kết cấu đối ( chẳng hạn, ở câu văn trên, có sự lệch pha về số lượng âm tiết : đào hát,vũ nữ, sân khấu,đèn màu – hai âm tiết- vaứ cỏ,nước - một õm tiết - ; hoặc giữa cỏc vế súng đụi thỡ xen vào một vài dơn vị ngôn ngữ để ngăn cách – chẳng hạn xen vào cụm từ chủ vị :

“họ thèm và nhớ đất y như là…” ).Sự lệch pha chứng tỏ lời văn ông tránh được kiểu biền ngẫu là hoàn toàn có ý thức đổi mới chứ không phải là một hiện tượng tự phát.

Bên cạnh đó,văn ông còn có kiểu “sóng đôi chồng chéo” , các cụm từ sóng đôi xen kẽ lẫn nhau ,kiểu như :

“ Sông con ơi ! Sài Gòn làm đỏm làm dáng mà người vẫn dơ , vẫn hôi mùi bùn non,mùi nước mắm,hôi cái mùi của những chị cần lao…”

( 9, 821)

Đọc đoạn văn trên,mặc dù nhà văn chỉ nói đến cái dơ dáy, bẩn thỉu của dòng sông,không dùng bất kì một từ ngữ có tính tình thái nào, nhưng người đọc lại vẫn cảm nhận được tình yêu của ông với những gì được nói đến.Hiệu quả nghệ thuật này sở dĩ đạt được là do kiểu cú pháp sóng đôi chồng chéo của câu văn. “Vẫn dơ”“vẫn hôi” là sóng đôi ,nhưng cặp cụm từ “hôi mùi bùn non,mùi nước mắm”“hôi cái mùi của những chị

cần lao” cũng được sóng đôi ,và ngay trong cụm từ “hôi mùi bùn non,mùi nước mắm” cũng được sóng đôi ( “mùi bùn non”“mùi nước mắm”

).Các bộ phận sóng đôi chồng chéo lên nhau , tạo ra một giọng điệu thiết tha,trìu mến,phản ánh một tình cảm chân thành của nhà văn.Tình cảm được thể hiện qua giọng điệu và cú pháp rõ ràng là có hiệu quả cao hơn nhiều cái tình cảm được thể hiện trực tiếp bằng lời .

Một kiểu cú pháp cũng thường xuất hiện trong lời văn nghệ thuật Bình Nguyên Lộc là kiểu cú pháp liên kết tu từ học. Đây là một kiểu câu nghệ thuật, theo đó, tác giả thường cố ý vi phạm logich thông thường trong kết hợp cú pháp giữa các vế của câu ghép nhằm làm cho việc trần thuật có những yếu tố chủ quan, những mục đích tu từ nhất định. Thông thường, các nhà văn hay dùng kiểu câu đẳng lập ( không có liên từ ) thay cho kiểu câu chính phụ (có liên từ) để tạo nên màu sắc tình cảm gần gũi và ấn tượng về sự am tường sâu sắc của mình với đối với đối tượng được nói tới .Chẳng hạn,đoạn văn sau của Sơn Nam trong truyện ngắn “Ngày mưa đầu mùa” :

“Thức đêm,đờn ca vọng cổ,say mèm,… những thứ vui luẩn quẩn ấy không còn quyến rũ được ai .Con người đâu phải là cái máy, lương tri còn đó,sáng chói từng chập, thúc giục khách ăn nhậu nhớ tới Tổ quốc”. (trong tập “Hương rừng Cà Mau”, T3, NXB Trẻ, 1999,tr131 )

Ơû câu tứ hai của đoạn văn trên, nếu Sơn Nam dùng kết từ (“bởi vì ...vẫn… và… nên…” : Con người đâu phải là cái máy,bởi vì lương tri vẫn còn đó sáng chói từng chập nên thúc giục khách ăn nhậu nhớ tới Tổ quốc ) thì quan hệ logich nhân-quả trở thành hiển nhiên, tính chất lý trí sẽ đẩy lùi mặt tình cảm và tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc sẽ trở thành cái bắt buộc, cái áp đặt. Ngược lại, việc bỏ các kết từ đã làm cho tinh thần trách nhiệm của người công dân với Tổ quốc như là hiển nhiên, tự nhiên như vốn có. Tính hiển nhiên này càng làm tăng thêm giọng điệu hài hước ,châm biếm của cụm từ “khách ăn nhậu” ( “khách ăn nhậu” chứ không phải là “khách giang hồ” hay “lữ khách bốn phương”…),do đó,chuẩn bị cho cách ứng xử tầm thường của đối tượng ở đoạn sau.

Bình Nguyên Lộc thì ngược lại. Oâng rất thích dùng kiểu câu có một kết từ. Có nghĩa là ở những câu ấy, ông đã lược đi một kết từ và giữ lại cái kết từ quan trọng (mặc dù, cái kết từ ấy cũng có thể bỏ đi được). Kết từ trong câu đã nhấn mạnh tính chất đặt điều kiện về mặt ý nghĩa và tính chất quyết liệt, áp đặt, dứt khoát, không thay đổi được về mặt màu sắc biểu cảm :

“Tôi thấy trước rằng tôi sẽ bùi ngùi nhớ nó, nhớ cái vùng quê mà nó tả, bởi tôi ở thôn quê, tôi hiểu được nó và niềm thương nỗi nhớ của nó cũng cùng một loại với niềm thương nỗi nhớ của tôi, thuở tôi rời làng lên đây. Con tôi không làm sao hiểu được hết, chúng nó không biết cái tình nhớ xứ là gì. Đô thị không phải là nơi mà người ta có thể nhớ được, huống chi đô thành Sài Gòn thật kém thơ mộng. Ngày mai, tôi phải cho gia đình ăn ốc gạo một bữa mới được, mặc dầu món ăn ấy rất kém vệ sinh. Con Tám Cù lần có thể nhớ nhiều kỷ niệm nữa, do ốc gạo gợi ra, sẽ nói thêm cái gì. Mà tôi thì rất ưa nghe nó thật thà kể lể những chuyện không đâu mà có mình nó với tôi là hiểu thôi” ( 9, 932).

Trong các câu ghép chính phụ, vế phụ luôn đứng trước, vế chính thường đứng sau ( Bởi tôi cũng ở thôn quê, tôi hiểu được nó, cho nên tôi thấy trước là tôi sẽ bùi ngùi nhớ nó / vì các con tôi không biết cái tình nhớ xứ là gì, cho nên chúng không sao hiểu được hết / Mặc dù món ăn ấy rất kém vệ sinh, tôi phải cho gia đình ăn một bữa ốc gạo mới được...). Ơû đây, Bình Nguyên Lộc đảo đổi vị trí thông thường của vế chính và vế phụ: vế chính đưa lên trước, nằm ở vị trí của vế phụ và vế phụ được nằm ở vị trí của vế chính. Điều này khiến cho trọng tâm thông báo được chia đều cho cả hai vế.

Kiểu cú pháp sử dụng giải ngữ (thành phần chú thích ) cũng là kiểu cú pháp Bình Nguyên Lộc ưa thích. Giải ngữ có thể làm sáng tỏ thêm một phương diện nào đó có liên quan gián tiếp đến câu làm cho người nghe hiểu đúng hơn câu nói. Sơn Nam có khi dùng giải ngữ đặt ở cuối câu,nhằm tăng tính khách quan cho lời kể : “ Sau khi rời khỏi trường quận,tuy thi rớt bằng sơ học nhưng hắn vẫn bình tĩnh.Ở chốn khỉ ho cò gáy,kẻ thi rớt sơ học nghiễm nhiên là nhà thông thái.Cũng như ở giữa đám đui,thằng chột làm vua ( nguyên văn lời hắn )” ( trong truyện ngắn

“Mối tình đầm lai” , sđd ,tr 131 ).Trong đoạn văn này,nhà văn lấy lời của một nhân vật làm lời của mình ,mà đấy lại là một lời triết lí ,cho nên thành phần giải ngữ ở cuối câu ( nguyên văn lời hắn ) làm cho người đọc cảm nhận được tính chất khách quan của lời được kể và có ấn tượng nhất định về tính cách ưa triết lí vớ vẩn, ưa khoe chữ và ưa tự tâng bốc bản thân của nhân vật. Ơû Bình Nguyên Lộc, giải ngữ thường có nhiệm vụ bổ sung các chi tiết, nhấn mạnh những tình ý quan trọng, nhắc nhở người đọc chú ý những chỗ cốt yếu:

“Chiếc bánh phơ-lăng do chính tay em làm, có cháy khét đi nữa, cũng được hương vị của tình thương của em đối với gia đình, chứ không vô hồn như chiếc bánh đết-sẽ của các hiệu ăn sang trọng” ( 9, 966).

Đất có mùi thật sự, nhất là đất mới, một mùi rất đặc biệt mà mùi họ quen ngửi cho đến ghiến, thiếu thì họ nghe thèm” ( 9, 981).

“Bà ấy để dành được một ve nước mắm, và hôm ấy bà ta đã đãi cháu món cá kho, kho bằng thứ nước xốt của quê nhà giấu kín gần mười năm rồi, với một thứ rau có mùi tương tự như hương hành ta” (9,1062).

Thành phần giải ngữ thường nằm ở giữa câu, nhưng ở Bình Nguyên Lộc, có khi nó nằm ở cuối câu. Lúc này, bên cạnh chức năng bổ sung chi tiết, nhấn mạnh thông tin, nó còn làm cho sức liên tưởng của người đọc được kéo dài. Có khi, đến những chỗ ấy, người đọc phải dừng lại vì bị sự liên tưởng ngoài lề ấy chi phối :

“...và có ăn ở với những ông Huê kỳ hai mươi năm nữa, chắc họ cũng không chịu được nhạc Jazz. Họ là người Việt Nam một trăm phần trăm, trước kia, bây giờ và mười năm nữa ( 9, 1051).

Tương tự như kiểu câu dùng giải ngữ là kiểu câu dùng thành phần

“chêm xen” – thành phần có chức năng phân cách các bộ phận khác nhau trong câu.Nhìn chung,thành phần chêm xen,cũng như thành phần giải ngữ,là những yếu tố “dư thừa”. Nếu cắt bỏ những cụm từ ấy đi,câu văn vẫn đầy đủ ý nghĩa,người nghe vẫn hiểu. Đây cũng là một đặc điểm thường thấy của văn xuôi các tác giả Nam bộ như Hồ Biểu Chánh ( và nột số người khác)… Họ không thích kiểu câu văn quá chặt chẽ,khúc chiết , không thừa không thiếu một chữ . Nhưng cái đặc biệt của nhà văn xứ Đồng Nai là ở chỗ cái lôi cuốn,cái hấp dẫn nhất của câu văn,cái khắc

chạm vào trái tim người đọc , nói khác đi,linh hồn của câu văn,là ở những chỗ dư thừa ấy. Đọc lên thấy dài dòng,nhưng chỉ cần cắt đi những bổ ngữ không cần thiết ,người ta sẽ thấy sức nặng của câu văn mất đi gần hết.

Những bộ phận nòng cốt của câu chỉ cung cấp thông tin,còn những bộ phận dư thừa – vốn dùng để tạo ra khoảng cách giữa động từ và bổ ngữ chính của nó - lại cung cấp giọng điệu ,thái độ,cảm xúc…

“ Cây chuối có chiếc gậy mầu đưa em về trong phút giây quê hửụng yeõu daỏu aỏy… ” ( 9, 918 )

“ Chúng nó sẽ về đất mẹ,và đáng lí vì được toại nguyện chúng lại nhơù khôn nguôi và một cách ngược đời quê hương của người khác” ( 9, 918 )

Những thông tin dư thừa này giúp tạo ra những cụm từ biệt lập trong câu. Mọi sức nặng của câu được tập trung vào cái cụm từ thừa ấy,vì những cụm từ này vừa bổ sung ý nghĩa cho những động từ đứng trước nó, vừa tạo ra một khoảng cách nhất định giữa động từ này và bổ ngữ chính của nó ( trong hai dẫn chứng trên, động từ “về” và bổ ngữ chính chỉ nơi chốn “quê hương yêu dấu” được phân cách bằng cụm từ bổ ngữ phụ :

“trong phút giây” ; động từ “nhớ” và bổ ngữ chính chỉ đối tượng “quê hương của người khác” được phân cách bằng cụm từ bổ ngữ phụ : “khôn nguôi và một cách ngược đời” ). Khoảng cách này có chức năng gây nên một sự bất ngờ trong chờ đợi . Nếu viết “chúng lại nhớ quê hương của người khác” thì chưa lột tả hết sự oái oăm của sự việc , chưa thể hiện hết sự trăn trở ,băn khoăn của tác giả ,không tạo được sự bất ngờ cho người đọc…

Kiểu cú pháp thứ tư phổ biến trong lời văn nghệ thuật Bình Nguyên Lộc là kiểu “trường cú”. Trường cú là một kiểu câu rất dài, được cấu tạo bằng sự trùng điệp của những cụm từ có mối liên kết chặt chẽ. Thực ra, tác giả có thể tách câu ấy thành những câu ngắn để dễ đọc hơn. Nhưng khi ấy, cái ấn tượng về phức tạp của hiện thực, sự phong phú của các sự kiện trong đời sống, sự liền mạch chặt chẽ trong tư duy người viết... sẽ không còn. Một câu trường cú, do đó, chỉ với cái cấu trúc nội bộ phức tạp của mình , đã có thể làm nổi rõ một nét bản chất nào đó của vấn đề.

Nó thường có hai phần ,phần trước và phần sau,có quan hệ đối lập và

thống nhất logich ,và trong mỗi phần thường có nhiều cụm từ quan hệ chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa.Theo chúng tôi được biết,trong văn xuôi nghệ thuật viết bằng chữ quốc ngữ thì tác phẩm “Thầy Lararo Phiền” của Nguyễn Trọng Quản (1887 ) là một trong những truyện ngắn đầu tiên có nhiều trường cú .Chẳng hạn :

Song nghỉ đi nghỉ lại một hồi,lại bàn rằng : chuyện người mình muốn biết mà chi, nên tôi lại cuối xuống xem bọt nước vận sau lái tàu trào lên như bạc sôi, lại một hai khi có yiếng sáng trăng giọi xuống thì bọt nước ấy hoá ra như bạc vàng lộn lại vậy mà dẩu thế nào thế nào thì trí khôn tôi có cũng bắt tưởng tới chuyện thầy tu nên tôi quyết lòng lần này xuống xin thầy ấy thuật chuyện mình ra” ( in trong : Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX ,NXB Văn nghệ TP.HCM , tr 20 . Chúng tôi không sửa các lỗi chính tả của nhà văn )

Viết trường cú là một điều khó ,bởi lẽ người viết phải có một tư duy khá chặt chẽ để xắp xếp các ý theo những quan hệ hợp lý nào đó : nguyên nhân – kết quả, điều kiện-kết quả, đối lập,tương phản, lựa chọn,đẳng lập … Sự chặt chẽ ,mạch lạc của câu văn được tạo nên phần lớn là nhờ sự sắp xếp này chứ không phải ở việc dùng nhiều hay ít các kết từ .Câu văn trên của Nguyễn Trọng Quản có nhiều lần dùng kết từ ( song,lại, mà, nên, mà, lại, mà dẫu…thế nào…thì, nên )nhưng rõ ràng ý tứ còn khá lan man.Trong câu văn nghệ thuật tiếng Việt hiện đại ,trường cú có nhiều kết từ xuất hiện không nhiều,mà phổ biến là những câu văn ngắn gọn , ít có kết từ nhưng ý tứ khá chặt chẽ.Chẳng hạn, câu văn sau của Nguyễn Quang Sáng : “Hoả lực phòng không của ta đã bắn rơi hai chiếc, chúng bay dạt đi một lúc rồi bầy khác lại kéo tới ” ( truyện ngắn

“Chị Nhung”,Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng,NXB Văn Nghệ TPHCM,1992,tr131 ), hoặc câu văn của Sơn Nam : “Quan hai Phẹt-Năng gật đầu rồi đưa tay vỗ nhẹ lên đầu giáo Chích như người ta khen đứa con có hiếu.Thầy giáo Chích thấy đau xót lạ lùng”( truyện “Hai ông già”

,sđd,tr 114 ).Cả hai lời văn trên đều có kết cấu nhân – quả ,nhưng không có những kết từ chỉ quan hệ ấy.Tuy vậy,ý nghĩa câu văn vẫn mạch lạc,quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng được nói tới vẫn rõ ràng.Văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc thì vừa phổ biến những câu văn ngắn

Một phần của tài liệu Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc (Trang 103 - 116)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)