Đặt mốc trên bề mặt trát

Một phần của tài liệu Kỹ thuật thi công - p2 (Trang 151 - 158)

12.1.2. Những điều kiện để thi công trát

12.1.4.3. Đặt mốc trên bề mặt trát

Để bảo đảm lớp vữa trát có chiều dày đồng nhất theo đúng quy phạm kỹ thuật và bề mặt được bằng phẳng theo chiều đứng cũng như chiều ngang, trước khi trát cần phải đặt mốc lên bề mặt trát, đánh dấu chiều dày của lớp trát.

Tất cả các loại mặt trát l lớp, 2 lớp, 3 lớp đều phải đặt mốc trên bề mặt trát, đảm bảo chiều day, độ phẳng của mat trat.

Có thể đặt mốc bằng nhiều cách: bằng những vệt vữa, bằng những cọc thép, những

nẹp gỗ. |

a) Đặt mốc trên mặt tường bằng những cột vữa thẳng đứng

Những cột vữa mốc, có chiều rộng từ 8 đến 12cm, dày bằng lớp vữa trát, được trát lên mặt tường từng khoảng cách 2m (hình 12.1, 12.2).

Việc này tiến hành như sau: Ở một góc phòng, cách trần nhà chừng 20 cm và cách góc tường chừng 20 cm, đóng đinh vào mạch vữa, để định ló ra khỏi mặt tường 15 + 20 mm. Treo vào mũ đỉnh một quả dọi thả xuống gần đến mặt sàn và đóng một cây đinh cách sàn chừng 20 cm, mũ định chạm vào dây doi. O khoảng giữa hai đỉnh ấy, treo dây dọi, đúng một cõy định nữa. Hỡnh 12.1 đặt những cột vữa mốc thẳng đứng trờn tường. ệ phía góc kia của tường cũng làm như vậy.

4 3 5

_ 2

Hình 12.1. Đặt mốc trát tường.

I- Dây dọi để xác định mốc; 2- Đinh; 3- Dây căng xác định mốc phụ;

4- Mốc chính; 5- Mốc phụ; 6- Cột vữa chính; 7- Cột vữa phụ.

151

a ` ` LN <=—= . SN ch

Hình 12.2. Tạo các cột mốc vữa trên tường.

1- Thước tầm; 2- Vữa làm dải mốc; 3, 4- Mốc. 5- Cột mốc.

Sau đó, ở phía trên đầu tường, căng một sợi dây nằm ngang, buộc vào hai cây định đã đóng ở hai góc phòng và dọc theo dây cứ từng quãng 2m đóng một cây định, mũ định chạm vào dây. Ở đoạn giữa và ở chân tường cũng làm thư vậy. Chung quanh những cây định ấy, đắp vữa dày lên đến mũ đinh, làm thành những điểm mốc vữa phụ, sau đó dựa vào các mốc vữa phụ trát những cột vữa đứng có chiều rộng 8 - 12 cm, nối liền các điểm mốc; chiều dày các cột vữa được đảm bảo nhờ thước tầm đặt giữa hai cây đỉnh (hình 12.1). Muốn được chính xác hơn, có thể trát các cột vữa bằng vữa thạch cao với chiều rộng 2 + 3 cm.

Dựa vào các cột vữa đã trát trước, sau khi vào vữa xong, dùng thước tầm tựa lên các cột mốc vữa cán phẳng bể mặt trát, chỗ thừa vữa sẽ bị cán đi, chỗ thiếu vữa sẽ trát phụ thêm và tiếp tục cán đến khi phẳng.

b) Đặt mốc vữa trên trần

Đặt mốc vữa trần nhà cũng làm giống như ở tường. Ở giữa trần đặt một bệt vữa xi măng mác cao dày bằng chiều dày lớp vữa (khoảng 1,5cm) làm điểm chuẩn. Để trát được bệt vữa này chính xác, cần trát trước các mốc vữa trên trần làm thành một đường thẳng, đặt thước tầm và dùng nivô (hoặc dây ống nước) lấy thăng bằng giữa các điểm, sau đó trát nối các mốc vữa trên lại thành bệt vữa. Trên điểm chuẩn ấy đặt song song với ` một mặt tường một cây thước tầm và áp sát vào thước tầm một cái ni-vô lấy thăng bằng.

Giữ cho thước thăng bằng rồi trát ở mỗi đầu thước một bệt vữa mốc bằng vữa xi măng.

Cũng như thế, quay thước thẳng góc với hướng trước và đặt những bệt vữa mốc. Dựa trên những điểm mốc ấy, đặt thêm những điểm mốc gần các bức tường. Sau cùng trát các vệt

152

vữa dài nối liền các điểm mốc ấy lại thành các băng vữa với khoảng cách giữa các băng vữa 1,5 + 2m. Khi trát cũng tựa vào các băng vữa đã trát chuẩn ở trên để cán phẳng khi

vào vữa, tạo mặt phẳng cho mặt trần.

2 1

worl

Hình 12.3. Làm dải mốc vữa trên trần.

1- Mốc chính; 2- Mốc phụ; 3- Dây căng ngang lấy thang bang; 4- Dai vita;

5- Dây căng dọc lấy thăng bằng; 6- Dậy ống nước; 7- Thước tầm lấy mốc cho các điểm

Cũng có thể đặt các mốc chính ở góc tường trước, sau đó căng dây hoặc dùng thước tầm để trát các mốc vữa trung gian ở giữa. Căng dây giữa các điểm, dùng nivô hoặc ống nước để xác định thăng bằng của các mốc vữa.

Hình 12.4a. Đo thăng bằng các mốc. Hình 12.4b. Căng dây làm mốc trung gian.

1- Mốc 2- Thước do 1- Mốc trung gian 2- Dây căng.

153

Hình 12.ác. Cán vữa tạo các mốc vữa ở trần.

c) Đặt mốc bằng các nẹp gỗ, thép (hoặc nhôm)

Phương pháp này thường dùng đặt mốc vữa cho tường. Cách tiến hành như sau: Ở hai góc tường cách trần 20cm và góc tường cũng khoảng 20cm, đóng các định vào mạch vữa để cho định nhô lên đúng bằng chiều dày lớp vữa. Từ 2 đỉnh thả dây dọi xuống, dựa vào dây dọi đóng một đỉnh cách mặt sàn 20cm, giữa hai định đóng định thứ 3. Căng 3 dây nằm ngang xác định chiều dày lớp vữa trát.

1 3

⁄ ⁄

7

NẹẹNẹNNNNNNN

Hình 12.5. Đặt mốc bằng nẹp gỗ (thép, nhôm).

1-Dây căng để xác định mốc; 2- Đinh; 3- Nẹp gỗ (thép, nhôm), 4- Dây dọi; 5- Quả dọi.

Dưới các dây căng ngang này đặt những mốc nẹp gỗ rộng khoảng 5cm, chiều dày bằng chiều dày lớp vữa rải (hoặc có khi làm bằng thép hay nhôm), những mốc này được ghim chặt vào tường theo phương thẳng đứng, khoảng cách các mốc nẹp gỗ là 1,5 + 2m.

Khi trát tường, sau khi vào vữa người ta dùng thước tầm tỳ lên các nẹp gỗ chuẩn để cán tạo mặt phẳng cho tường. Khi trát tới đâu ta tháo bỏ các nẹp gỗ (hộc thép) tới đĩ.

12.1.4.4. Thao tác trát |

Trát thường có hai thao tác cơ bản:

- Vào vữa và cán phẳng.

- Dùng các dụng cụ chuyên dùng xoa phẳng và nhắn cho bề mặt trát hoặc tạo mặt cho _ bể mặt lớp trát.

154

Tùy theo từng mặt trát khác nhau, với những yêu cầu kỹ thuật khác nhau mà các thao tác trát cũng có nhiều cách khác nhau.

a) Vào vữa và cán phẳng

* Dụng cụ dùng để trát

Dụng cụ dùng để trát thông thường gồm:

- Bay, dao xây, bàn xoa mặt phẳng, bàn xoa góc v.v... bàn tà lột, gáo múc vữa.

- Các loại thước: thước tầm, thước ngắn, thước vê cạnh, nivô, chối đót, dây đọi v.v...

L0

38

335

H20

1 =. Z ———: ey + 300 | 312 460

a) en)

Hinh 12.6. Các loại bay, bàn xoa phục vụ công tác trát.

a) Bay thông dụng; b) Bay lá đề; c) Bay trát vấy; đ) Bàn xoa gỗ

* Thao tỏc vào vữa: ơ

Bao giờ cũng tiến hành trát từ trên xuống dưới, làm như vậy đảm bảo được chất lượng mặt trát, các đợt vữa sau ở bên dưới có chỗ bám chắc, các thao tác trát sau không phá hỏng mặt trát trước đó.

Mặt trát một lớp vữa: Đối với các mặt trát một lớp, chỉ vào vữa một lần, vì vậy phải

vào vữa tương đối chuẩn, mặt phẳng tương đối phẳng. Sau khi vào vữa, mặt vữa se là xoa phẳng ngay do đó cần cán phẳng, mặt vữa phải nằm ngang hoặc thẳng đứng.

Mặt trát 2-3 lớp vữa: Đối với các mặt trát 2-3 lớp vữa, sẽ có 1-2 lớp vữa lót, đảm bảo chiều dày lớp trát. Vì vậy các lớp vữa lót sau khi vào vữa chỉ cần cán phẳng, không cần nhãn để tạo độ bám dính cho lớp mặt. Mặc dù chỉ là lớp vữa lót, mặt lớp vữa cũng cần phẳng, ngang bằng, thẳng đứng. Với mặt trát 2 lớp vữa, có một lớp vữa lót, một lớp mặt, 155

lớp vữa lót cần chờ khô hẳn mới trát tiếp lớp mặt. Với mặt trát 3 lớp vữa, có 2 lớp vữa _ lót, một lớp mặt. Lớp vữa lót thứ nhất cũng cần chờ khô hẳn mới trát tiếp lớp vữa lót thứ

2, lớp vữa lót 2 khô hẳn mới trát lớp vữa mặt ngoài.

Sau đây là thao tác vào vữa cho các kết cấu:

- Vào vữa bằng bay: Người công nhân tay phải cầm bay, tay trái cầm bê đựng vữa, dùng bay lấy vữa trát lên mặt tường, trần, dùng bay cán sơ bộ cho mặt vữa tương đối - đồng đều. Phương pháp này năng suất thấp.

- Vào vữa bằng bàn xoa: Người công nhân lấy vữa tương đối đầy bàn xoa, nghiéng bàn xoa khoảng 15° so với mặt trát để dua vữa vào mặt trát. Thao tác này phải giữ được cữ tay cho chuẩn sao cho lớp vữa vào không quá dầy, mặt vữa tương đối bằng phẳng.

Khi vào được một diện tích nhất định thì dùng bàn xoa vuốt cho mặt trát tương đối bằng phẳng. Phương pháp này sử dụng khá phổ biến trong thi công trát. -

- Vào vữa bằng bàn tà lột: Bàn tà lột giống bàn xoa nhưng lớn hơn, kích thước bàn tà lột 170x600mm dày IÔmm ở giữa, xung quanh vuốt mỏng còn khoảng 7 + 8 mm.

Thường dùng bàn tà lột để vào vữa cho trát tường. Vào vữa bằng bàn tà lột thao tác

như sau: Lấy vữa lên bàn tà lột, dùng hai tay nâng bàn tà lột lên và áp nghiêng vữa vào mặt tường đồng thời vuốt lên cao, vữa sẽ bám đồng đều vào mặt tường tương đối phẳng.

Phương pháp này cho năng suất cao nhưng đòi hỏi thợ phải có tay nghề giỏi mới thao tác tốt.

a) b)

Hinh 12.7. Cách vào vữa cho tường.

a) Vào vữa bằng bàn xoa; b) Vào vữa bằng bàn tà lột.

- Vào vữa bằng phương pháp vấy: Có thể dùng bay hoặc cũng có thể dùng gáo để vay.

156

* Thao tác vẩy vữa:

Dùng bay mũi tròn dé vay vữa. Công nhân tay trái cầm bê đựng vữa, tay phải dùng bay lấy vữa trên bê vay mạnh lên tường, trần. Khi vầy cữ tay phải chuẩn để vữa vào đúng vị trí và tương đối đồng đều. Có thể dùng gáo để vấy: dùng gáo lấy vữa ở thùng vay thẳng lên tường, trần. Phương pháp này có ưu điểm là vữa bám chặt vào mặt trát, năng xuất cao hơn các phương pháp vào vữa khác.

* Thao tác cán phẳng:

- Cán phẳng mặt trát tường.

(1,5 - 2)m (1,5 - 2)m | Hình 12.8. Thao tác cán phẳng mặt trát tường.

I- Các mốc vữa;.2- Các cột vữa; 3- Thước tầm; 4- Lớp vữa cán

Sau khi đã vào vữa được một diện tích nhất định, ta tiến hành cán phẳng lớp vữa đã vào.

Nếu đây là lớp trát đệm thì chỉ cần dùng bàn xoa cán cho bé mặt lớp trát tương đối đồng đêu, chờ cho vữa khô trát tiếp lớp mặt. Nếu đây là lớp mặt thì dùng thước tầm cán phẳng:

đặt thước tầm tựa lên các mốc vữa, hoặc mốc gỗ hay mốc thép đã đặt trước đó cán đều từ dưới lên. Sau mỗi lượt cán ta phải bù vữa số

cho các vị trí lõm và lại tiếp tục cán. Cứ tiếp tục cán vài lượt như vậy ta có mat

vữa tương đối phẳng. Chờ cho vữa se mặt, ta bắt đầu xoa nhắn mặt trát. Không để quá lâu mặt trát bị khô khi xoa mat tường trần sẽ bị xờm (cháy).

Hình 12.9. Cán vữa ở trần theo mốc.

1- Dâi mốc; 2- Thước cán.

- Cán phẳng mặi trát trần.

157

b) Xoa phẳng nhẫn mặt trát

Thao tác này là làm cho các lớp mặt. Lớp mặt phải phẳng, có chiều dày lớp vữa theo đúng thiết kế, mặt trát theo phương đứng phải thẳng đứng, theo phương ngang phải bằng . phẳng, đồng thời bề mặt phải nhắn, bóng mịn đáp ứng được yêu cầu về mỹ quan.

Dụng cụ dùng xoa phẳng nhắn thường dùng là bàn xoa gỗ. Thao tác xoa nhấn mặt tường được làm từ trên mép trần xuống dưới. Tại những chỗ giấp nối giữa các đợt trát cần chú ý xoa phẳng, có thể dùng chổi đót vầy nước cho tương đối ẩm mặt và xoa đều tránh gồ ghề chỗ giáp nối. Thao tác xoa phẳng: tay xoa nhẹ, nghiêng bàn xơa khoảng 1° + 2° so với mật trát, đưa bàn xoa về phía nào thì nghiêng về phía đó một cách linh hoạt để bàn xoa không vập vào mặt vữa. Có thể xoa theo vòng tròn hoặc theo hình số tám. Đầu tiên xoa

rộng vòng để tạo mặt phẳng, sau đó thụ hẹp và nhẹ tay dân để tạo độ bóng cho mát trát.

Những vị trí vữa đã quá khô có thể vẩy thêm nước để xoa, không xoa cố mặt trát sẽ bị xờm (cháy), những vị trí vữa còn ướt có thể để vữa khô hơn mới Xoa, vì xoa khi còn ướt mặt trát sẽ để lại các gợn xoa khi khô, giảm độ bóng mặt trát.

Hình 12.10. Thao tác xoa nhẫn mặt trát tường. — Hình 12.11. Thao tác xoa phẳng mặt trần.

Đối với các góc nhà: Dùng những bàn xoa góc bằng gỗ hoặc thép. Thi công các góc nhà phải cẩn thận, vì những sai sót dù nhỏ ở các góc cũng dễ nhận thấy.

Khi trát các góc ở trần cũng dùng các bàn xoa góc, nếu các góc hình cung tròn thì ta có thể dùng bàn xoa hình tròn.

Một phần của tài liệu Kỹ thuật thi công - p2 (Trang 151 - 158)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(220 trang)