VẬT LIỆU TRONG CÔNG TÁC XÂY

Một phần của tài liệu Kỹ thuật thi công - p2 (Trang 128 - 131)

11.3.1. Gạch

Gach dùng để xây có 2 loại: Gạch đất sét nung và gạch không nung.

Gạch đất sét nung có thể được sản xuất theo phương pháp thủ công, hoặc bằng máy.

Gạch sản xuất theo phương pháp thủ công có chất lượng kém hơn gạch máy.

1I1.3.1.1. Gạch đất sét nung

Gạch đất sét nung chia thành 2 loại: Gạch đặc và gạch rỗng.

a) Gạch đặc

Thường để xây móng, tường và các bộ phận của công trình. Theo kích thước gạch đất sét nung có các loại được giới thiệu trong bảng 11.1.

128

Bảng 11.1. Kích thước gạch đất sét nung

Tên, kiểu gạch . Dài Rộng _ Dày

- Gạch đặc 80 (GĐ60) 220 105 60

- Gạch đặc 45 (GĐ45) 190 90 `, 45

Theo độ bền cơ học, gạch đất sét nung có các mác sau: 50; 75; 100.

Gạch đất sét nung được phân thành gạch loại A, B và C: . - Loại A: Gạch chín già, bảo đảm hình dạng, kích thước, màu sắm không bị nứt nẻ, cong vênh. Có cường độ chịu lực cao trên 75 kg/cm’.

- Loại B: Gạch chín, bảo đảm hình dạng kích thước, màu hơi nhạt, có thể bị nứt nẻ nhẹ. Không bị cong vênh. Có cường độ chịu lực trên 50kg/cm’.

_~ Loai C: Gach chin già, từng phần bị hoá sành, bảo đảm hình dạng kích thước, mầu s4m hoặc hoá sành, có thể bị nứt nẻ, cong vênh. Có cường độ chịu nén cao.

b) Gạch rỗng 7

Khối xây được xây bằng gạch rỗng sẽ làm giảm nhẹ trọng lượng công trình. Thường | dùng xây tường bao che nhà khung chịu lực. Gạch rỗng có nhiều loại tuỳ theo hình dáng, kích thước và sự phân bố các lỗ rỗng trên bề mặt viên gạch.

11.3.1.2. Gach xây không rung

Thành phần gồm: Chất kết dính như vôi, xi măng; cốt liệu như cát, xỉ. Một SỐ loại gạch không nung: Gạch silicát thường gồm có cát thạch anh nghiền nhỏ trộn với vôi bột, thạch cao đem nhào trộn kỹ và được ép bằng máy, dưỡng hộ trong điều kiện tự nhiên hay chưng hấp. Cường độ đạt từ 75 đến 250 kg/cm”; Gạch silicát xỉ gồm xỉ lò nghiền nhỏ, trộn với vôi có kích cỡ khác nhau, thường được sản xuất theo phương pháp thủ công, có cường độ thấp.

11.3.2. Vữa

Gạch được xây bằng vữa, vữa làm nhiệm vụ gắn kết những viên gạch riêng lẻ lại với nhau thành một khối, vữa làm bằng phẳng bề mặt lớp xây, làm cho lực phân bố giữa các viên gạch đều hơn và chèn kín mạch.

Vita xi măng cát bao gồm có xi măng, cát và nước có cường độ cao hon vữa tam hợp,

chịu được nước và nơi ẩm ướt nhưng độ dẻo kém hơn. Vữa ximăng cát thường được sản

xuất có mác 50, 75, 100, 150, 200.

Vữa tam hợp được tạo nên bởi hỗn hợp vôi, cát, xi măng và nước có độ dẻo cao nhưng chịu ẩm kém, thường dùng để xây nơi khô ráo, không chịu được ẩm ướt. Vữa tam hợp thường được sản xuất có mác 10, 25, 50.

, 129

Vữa vôi gồm có vôi và cát, có cường độ chịu lực kém, không chịu được nước và độ ẩm, thường dùng để xây tường tạm, không chịu lực. Vữa vôi thường được sản xuất mác 2, 4.

Tuỳ theo khối lượng riêng ở trạng thái khô, vữa được chia thành: Vữa nặng khi y > 1500 kg/m' và vữa nhẹ khi y < 1500 kg/m'.

11.3.3. Sản xuất và vận chuyển vữa 11.3.3.1. Sản xuất vữa

Đối với các công trình ít quan trọng, khối lượng đá xây ít có thể trộn vữa bằng thủ công. Đối với các công trình quan trọng, khối lượng lớn nên trộn vữa bằng máy.

Khi cân đong cấp phối vữa, phải dam bảo độ chính xác + 2% so với cấp phối quy định.

Cấm tuỳ tiện đổ thêm nước vào vữa để trộn cho dễ.

Nếu sử dụng máy để trộn vữa phải đảm bảo máy quay đều với tốc độ quy định cho từng loại máy, thời gian trộn tối thiểu phải bằng 2,5 phút.

Vữa vôi dùng vôi nhuyễn trộn bằng thủ công làm như sau: Dé vôi nhuyễn vào một thùng gỗ cùng với lượng cát cần thiết, lấy xẻng hoặc cào gỗ trộn đều, trong quá trình trộn cho thêm nước dần dần cho tới khi vữa có độ dẻo cần thiết.

Trộn vữa vôi dùng vôi đã tôi thành bột và trộn vữa xi măng bằng thủ công làm như sau: trộn khan vôi bột hoặc xi măng với cát cho tới khi được một hỗn hợp thật đều, lúc đó mới cho nước vào trộn thêm cho đủ độ dẻo cần thiết.

Trộn vữa xi măng - vôi, xi măng - sét bằng thủ công làm như sau: Hòa vôi nhuyễn hoặc sét thành nước vôi, nước pha sét, sau đó trộn khan xi măng với cát cho thật đều, rồi dé dan nước vôi hoặc nước pha sét vào, trộn thêm cho tới khi đạt được độ đẻo cần thiết.

11.3.3.2. Vận chuyển và sử dụng vữa a

Trong khi chuyên ché, phai gid cho vita khong bi phan li. Néu c6é hién tugng nay phải trộn lại mới dùng được.

Dụng cụ chứa vữa, sau và trước khi dùng phải rửa sạch, không được để vữa đã đông cứng và các tạp chất dính vào.

Vữa phải sử dụng trước khi nó bắt đầu ninh kết. Thời gian bắt đầu ninh kết của vữa do thí nghiệm xác định. Nếu không có điều kiện xác định, có thể tham khảo các số liệu dưới đây:

a) Đối với vữa có xi măng:

- Không quá 1 giờ 30 phút nếu nhiệt độ ngoài trời dưới 20°C.

- Khong quá 1 giờ nếu nhiệt độ ngoài trời từ 21 đến 32°C.

- Không quá 30 phút nếu nhiệt độ ngoài trời trên 32°C.

b) Đối với vữa vôi thường không có xi măng: Không quá 2 giờ.

c) Đối với vữa vôi thuỷ không có xi măng: Không quá 6 giờ.

130

Một phần của tài liệu Kỹ thuật thi công - p2 (Trang 128 - 131)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(220 trang)