Trong tâm thức mỗi con người luôn có một điều thiêng, một cõi tâm linh để ngưỡng vọng, an ủi, hoá giải. Không phải ngẫu nhiên mà các tôn giáo ra đời, người Ki-tô giáo tin vào sự hiện hữu của thượng để để cứu rỗi, che chở, gột rửa những lỗi lầm và chỉ lối cho các con chiên; Phật giáo lại tin vào sự màu nhiệm của cõi nết bàn — nơi tâm hồn thanh sạch của con người được tồn tại vĩnh cửu, phật pháp vô biên cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh, hướng đến cõi thiện...Con người vốn sinh ra đã mang nhiều trọng trách, với trình độ tư duy phức tạp, những yêu thương, oán hận, ước mơ, tham vọng...chồng chat chen lan trong doi sống bộn bề. Tìm về thế giới tâm linh, con người như được gột rửa, được khai sáng, rũ sạch mọi tỊ hiềm, tham vọng tầm thường.
Trong văn chương, yếu tố tâm linh được biểu hiện da dạng, có thể là sự đụng độ của thế giới tinh thần giữa cái thiện và cái ác ( Tội ác và hình phat, Anh
em nha Karamarov — Doxtoiepxki), có thé là sự chở che, khuyến thiện, là đức tin
vào Thượng để cao cả trong thơ Tagor...Văn học Việt Nam sau 1975 thôi hát khúc truyền thống tram hùng ngợi ca chiến trận, đi vào mạch sâu trong tâm hồn con người, yếu tố tâm linh xuất hiện. Văn xuôi có thể kê đến: Mỗi buôn chiến tranh (Bảo Ninh), Đò thiêng ( Phạm Minh), Thương nhớ đồng quê ( Nguyễn
Huy Thiệp), Bến trần gian (Lưu Minh Sơn), Thoạt kỳ thuỷ ( Nguyễn Bình Phương), ... Với thơ, thế giới tâm linh được coi như một thực thể thâm mĩ và đối
tượng phản ánh, tâm linh “là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao
cả ấy đọng lại ở hình ảnh, biểu tượng, ý niệm” [10, 12]. Thơ là tiếng nói tâm hồn
của con người, tâm linh sống trong đời sống tinh thần ấy mà nảy nở, sinh sôi:
“có thể nhấn mạnh phần trực cảm, linh giác, những khả năng bí ân của con người”. Thơ Việt Nam thời kì đổi mới đặc biệt chú trọng tới yêú tố tâm linh, coi đó là một biểu hiện văn hoá, tỉnh thần trong thơ: “ Hiện nay do nhu cầu của ý thức cá nhân, do những biến động của đời sống xã hội, đối mặt với những cuộc mưu sinh đầy phức tạp, trước sự thay đối của nắc thang giá trị về đạo lý, cương thường, con người có nhu cầu tìm về thế giới tâm linh. Đi vào thế giới tâm linh con người có cảm giác thư giãn, bằng an về tỉnh thần, tránh được nhiễu tâm do
thế giới trần tục tác động đến...” [51, 310]. Độ nhoè giữa hiện thực và hư ảo cấp
cho thơ một cảm xúc mới lạ: Hoàng Cầm viết nhiều bài thơ hiện đại, hư ảo hoá không gian, thời gian vùng quê Kinh Bắc, ông tìm về thiên nhiên mờ áo như thực như mơ; Không gian của những mê, say, vĩnh hằng, luân hồi, hư ảo...Thời gian của những Đêm Thổ, Đêm Kim, Đêm Thuỷ, Đêm Hoả...kiếm tìm một điều gì vô vọng trên bên trâm luân cuộc đời:
Em mười hai tuổi tìm theo chị Qua cau ba Sam, bén c6 Mua Di...
ngay thang lui tìm không thấy
(Quá vườn ổi)
Thơ Phùng Khắc Bắc, Nguyễn Quyến chứa đựng nhiều khoảng không gian siêu thực với những Chúa, cơn đại hồng thuỷ, đêm giáng sinh...Cõi tâm linh trong thơ khác với niềm tin trong tôn giáo, thơ tìm đến tâm linh dé thấu suốt và trải nghiệm đầy đủ những dư vị trần thế, đau cùng nỗi đau con người, khát khao giãi bày những ước muốn cải sinh; tôn giáo hướng đến sự tịch diệt. Tuỳ vào cá tính sáng tạo cũng như vốn sống khác nhau của các nhà thơ mà việc sử đụng, trải
nghiệm tâm linh trong thơ cũng khác nhau, tạo nên tính da sắc diện thâm mĩ cho thơ.
Với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, tâm linh hoá thân trong những miền kí ức, trong đòng suy tưởng chất chồng, trong bản thân những vật thiêng (như Cá thiêng, con bống đen...), trong sự gột rửa trước nghỉ thức tôn giáo (Cây ánh sáng), hay suy tưởng về đời sống trong cõi nhiệm màu (Nhịp điệu châu thổ mới), hoặc trong nghi thức, phong tục cổ truyền... Anh viết về cái đẹp, về Thiên đường ngay trong những điều bình thường nhất của cuộc sống: “ Là một chiều đi chân trần trên cánh đồng rực vàng của lúa chín với cõi lòng thanh sạch vô cùng...
được đắm chìm trong hương lúa, trong gió từ những chân trời vô tận thôi về trong bầu trời trong vắt. Và lúc ấy, một giai điệu ngọt ngào từ đâu đó vang lên mãi tràn ngập tâm hồn va thé xác tôi. Và tôi tin hơn bao giờ hết đây là một hình ảnh đích thực của Thiên đường...Khi chúng ta nhận biết được vẻ đẹp của thiên nhiên và sự sống thì nghĩa là chúng ta nhận biết được Thiên đường.Thiên đường
không phải là nơi chốn chúng ta được đến đó sau khi chết. Nó hiện lên mọi nơi
mọi lúc trừ nơi u tối và lú lẫn của con người...Những gì tôi nói một cách đơn giản nhất trong những dòng chữ đơn giản này không mang tính tôn giáo hay thần học. Tất cả sự chiêm ngưỡng của tôi, của chúng ta trong đời sống mà thôi”.
Nhung doc tho anh ta thực sự được mở mang, được khai sáng bởi những S¿zn hồi, Gọi hỗn, Câu nguyện... được tiếp xúc với đời sống vĩnh hằng phía sau cái chết sinh học của cõi người (Nhịp điệu châu th mở), đặc biệt có những bài thơ mang trải nghiệm của văn hoá — tôn giáo Tây phương trên những vùng đất xa lạ trong tập thơ Cây ánh sáng: “ Cầu nguyện ở thánh đường Thomas More”. Đời sống con người đang sống thừa tiện nghi song đang thiếu niềm tin, niềm tin vào những điều tốt đẹp, tin vào sự an toàn, con người bị truy đuổi bởi biết bao cám dỗ của linh hồn tội lỗi, họ chạy trốn tat thay:
Họ chạy trong thành phố, những ngõ sâu hốc hác, những lề đường ê chễ, những công viên mắc bệnh...
Thành phô không chốn an toàn cho họ giấu đủ một ngón tay (Lời cầu nguyện)
Vừa chạy trốn họ vừa bị lôi léo bởi những ảo giác đê hèn: ““ Những con mắt của áo giác đê hèn vẫn lần tìm con đường của họ...”. Và vang lên trong nhịp sông của tiện nghi lộng lẫy - tiếng chuông rên tha thiết:
Chuông rồn ri
Trong những chóp nhà thờ Bẩy ốc vặn phú rêu
Lửa cháy rừng rực quảng trên cỏ Những vòm cây tự xé rách lưỡi mình Trong cơn ngứa ăn nhằm ảnh sảng Những dòng sông tự cào tướp họng...
( Con bỗng đen đẻ trứng)
Nỗi đau đớn dày vò được diễn đạt qua lớp ngôn từ lạ lẫm: “tự xé rách lưỡi mình”, “Tự cào tướp họng”...thế giới trở về tình trạng hỗn mang, phản bội đớn đau: đền chùa gục ngã, pho kinh phản bội, trái cây tự rơi vào thuộc độc...Lúc này cuộc đời đã đi vào màn cuối vở hài kich bi dat của nỗi u mê. Có một tiếng
gọi cất lên đánh thức linh hồn “tôi” thôn thức:
Có ai đó gọi tôi qua linh hỗn của ô cửa sổ Có ai đó gọi tôi dọc linh hồn của những ngõ sâu
Và ai nữa gọi tôi từ nắm mộ ngôi nhà
Tiếng gọi trong mờ hồ thắm xa, là câu kinh cầu, là sự sám hối, thanh lọc hay sự dìu đỡ ? Tiếng gọi ấy an dau tiềm thức về cõi tâm linh u huyền mang lại sự cứu rỗi. Thế giới sẽ hồi sinh trong những hạt giống thần gieo trên cánh đồng goá
bua, va khi con bống đen nỗi lên giữa dòng sông Đáy — “Con bồng suốt đời cha dứt tóc ngóng trông”:
Đôi mắt sáng hai vẳng Nhật, Nguyệt Dé cho ban mai mét dải trứng hỗng
Sự hồi sinh kì vĩ diễn ra trong biểu tượng thiêng — con bống đen, tràn ngập ánh sáng hai vằng Nhật Nguyệt, con bống đen đem dải trứng hồng tưới vào ban mai tinh khiết, sinh sôi và xoá bỏ những hoang tan, bat trắc. Bài thơ “ Con bồng đen đẻ trứng” mang một thông điệp về niềm tin, sự trỗi đậy của những điều thiêng, của cái đẹp bừng lên sau bao tăm tối, và chính nó sẽ dìu đỡ tâm hồn con người.
Nếu như ở các tập tho truée Cay ánh sáng, tôn giáo không được nhắc tới một cách rõ ràng, có chăng chỉ mơ hồ chạm vào câu kinh sám hối, thì trong tập thơ này yêú tố tôn giáo như một điểm tựa cho mỗi điều linh thiêng trong cuộc đời.
Nói tới tôn giáo là hướng đến thế giới tâm linh. Và lời nguyện cầu trên thánh đường ngắm vào người đàn ông đứng trong im lặng:
Những người thiên chúa giáo, những người hôi giáo, phật giáo vẫn ri ram
.... Người đàn ông vẫn đứng trong bóng tôi bắt động và nguyện câu trong im lang
Như đứng đó nguyên câu từ khi thánh đường chưa được dựng lên
( Cầu nguyện ở thánh đường Thomas More)
Lời nguyện cầu này không cụ thể của một thứ tôn giáo nào, nó vang ngân
trong linh hồn bắt diệt hướng về cõi thiện. Trong bài thơ Cây ánh sáng Chúa và
Thiên đường (biểu tượng của Kitô giáo) được nhắc đến với một mức độ đậm đặc:
Giờ con nhận ra chính trong bóng tôi quá nặng nỄ nơi con lại ngập tràn ánh sáng của Người
...Hãy để những giọt máu chảy từ hai bàn tay bị đóng định của Người rửa sạch tâm hôn con
Đề ánh sáng của Người xua tan trong lòng con bóng tôi của khiếp sợ, của tội lỗi, của tuyệt vọng.
..Hõi Chúa Trời, xin cho con dug quy dưới chân Người, xin cho con được cất lên lời cầu nguyện .
Ánh sáng, Chúa Trời, Thánh ca nhóm lên ngọn lửa của sự sống đắm say, xua đi những tội lỗi, những đê hèn của dục vọng xấu xa. Tôn giáo có sức mạnh gột rửa mạnh mẽ những tâm hồn lầm lạc tìm lại con đường của điều thiện bằng chính sức mạnh thiêng liêng trong đức tin cao cả. Từ đức tin ấy, đời sống con người hình thành theo những dòng chảy khác nhau của tập tục, của văn hoá tín ngưỡng. Trong thơ Nguyễn Quang Thiều, bức tranh đời sống phong tục người
Việt hiện lên đậm đà, biểu hiện một đời sống tâm linh phong phú trong tâm thức
từ ngàn đời:
Nến được đốt lên sớm hơn mọi thế kỷ trước Vâng dương thốn thức trên cảnh đông vải liệm
Có tiếng gõ lên cánh cửa vô hình và tiếng mở cửa vang xa
...Khếẽ củi đâu, khẽ mỉm cười, trong vô bờ nhận biết
Nười Nông Dân Già căng lén vat do sang của mình Có con thuyền trở đây trẻ con đồ xuống khu vườn Tiếng đùa nghịch ào lên rỗi chìm trong đất
Đọc “ Nhịp điệu châu thổ mới” tin vào một cõi siêu nghiệm của hiện thực, su song bên kia cái chết chỉ cách hiện thực trần thế một cánh cửa, người Nông Dân Già sau khi vĩnh biệt sự sống trên cõi đời thực, xách hành lý của mình bước
sang cuộc đời khác — nơi ấy có khu vườn, những đứa trẻ và kiếp luân hồi...Nghi lễ tiễn đưa bà là âm nhạc của trồng, kèn, nhị, cờ phướn, cờ ngũ sắc, cây cầu dẫn vong, khúc hát cầu niệm của “những người đàn bà già của làng đồng phục màu nâu”, cánh đồng vải liệm...Tất cả hiện lên sinh động tục ma chay, thờ cúng tổ tiên của người Việt, và hơn hết thảy, bài thơ chói lên một niềm tin vào sự sống
bất diệt và nhịp điệu của tỉnh thần sống: “ Cái nhịp điệu mà tôi nói đến là nhịp
điệu của tinh thần sống. Nhịp điệu này không phụ thuộc vào sự thay đổi của bắt cứ cấu trúc xã hội nào. Có thê đến một ngày nàođó, nhịp điệu này không còn hiện hữu trong đời sống xã hội người. Đời sống đô thị đang giết chết những cảm xúc trong sáng. Cái tôi của quá nhiều chúng ta đang bị biến tấu bởi tốc độ từ một phía của đời sống đô thị. Cái phía này có nguy cơ sẽ giết chết chúng ta.” ( Nguyễn Quang Thiều - Đời sống đô thị đang giết chết những cảm xúc trong
sáng) . “Nhịp điêu châu thổ mới” đậm chất siêu thực “ Chủ nghĩa siêu thực dựa
vào lòng tin ở thực tại siêu đẳng của những hình thái liên tưởng sơ lậu, ở giấc mơ vạn năng, ở tư duy không vụ lợi” [24, 13]. Và khi đi sâu vào thế giới các biểu tượng khác trong thơ anh người đọc sẽ còn được trải nghiệm hết từ bất ngờ này sang bất ngờ khác qua cách anh xử lý hình ảnh, mở rộng trường liên tưởng theo cách riêng hết sức đắc địa.
2.3.3. Cặp biểu tượng sóng đôi : Nước và dòng sông
Nước và dòng sông là những hình ảnh tạo nên trừơng liên tưởng phong phú, giàu tính biểu trưng trong thơ Nguyễn Quang Thiều. Trong thế giới nước ngụp lặn những ước mơ và khao khát, nơi ấy khởi nguyên một sự sống thiêng liêng, vô tận.
Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thể giới Nước là một trong bỗn dạng vật chất cấu thành nên vũ trụ (nước, lửa, đất và không khí) theo quan niệm của triết học cổ phương Tây, và là một trong ngũ hành tạo nên vạn vật (Kim, mộc, thuy,
hoa, thổ) theo quan niệm của người phương Đông. Nước tượng trưng cho: nguồn sông, sự thanh tay và trung tâm tái sinh. Kinh Coran cho rằng nước là vật thiêng được ban phép lành, nước từ trên trời rơi xuống là một trong những dấu hiệu của chúa trời. Cơ đốc giáo coi trọng nghi lễ rửa tội và đó là biểu tượng cho sự đằm mình trong nước để rồi lại đi ra mà không tự hoà tan hết vào trong đó. Nước có sức mạnh phi phàm, trừng trị những kẻ có tội nhưng không làm hại những người
chính trực. Trở về với thế giới nước là trở về nguồn.
Dòng sông: Biểu tượng dòng sông hay dòng nước chảy tượng trưng cho sự lưu chuyển, cho khả năng của vạn vật, của sự phong nhiêu, của cái chết và của sự đổi mới. Dòng sông chảy miệt mài không ngừng nghỉ, gần với biểu tượng nước thượng giới, sông biểu trưng cho sự giải thoát, sự tẩy uế. Các dòng sông gợi nên sự tôn kính và sự sợ hãi. Người ta chỉ có thể băng qua sông sau khi đã tiến hành những nghỉ lễ tây uế và cầu nguyện. Người ta thờ cúng các dòng sông trên trần gian bởi chúng đem lại sự sống và sợ hãi những con sông nơi địa ngục bởi chúng mang đến đau đớn, vết bỏng, lời than khóc, sự khiếp Sợ, sự lãng quên.
Dòng sông còn tượng trưng cho chuỗi đài những mong ước, biến cố...của đời người, bước chân vào dòng chảy ấy, vươn lên những linh hồn qua hơi nước ẩm ướt.
Trong những tập thơ của Nguyễn Quang Thiều mà chúng tôi lựa chọn khảo sát, từ tập Sự mát ngủ của lửa trở về sau, biểu tượng nước và dòng sông luôn
chiếm ưu thế nổi trội. Đặc biệt ở tập thơ Bài ca những con chứn đêm nước
dường như trở thành hình ảnh chủ đạo, vận hành toàn bộ những cuộc tái sinh của sự sống. Những biểu tượng thơ không chỉ hiện lên trực tiếp trên câu chữ mà còn
gián tiếp biéu hiện bằng những hỉnh ảnh giàu sức gợi.
Thé gidi nudc trong tho Nguyén Quang Thiéu luôn trong thế vận động, chảy trôi. Những dòng chảy tràn lên nhịp câu thơ, nước, dòng sông sóng đôi mải miét chan chứa trong kí ức tuổi thơ bên bờ sông Đáy:
Sông Đáy chảy vào đời tôi
Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau buổi chiều đi làm về vat va Tôi dụi mặt vào lưng người đãm mô hôi mát một mảnh sông đêm
..Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên ngang tri cho tôi được nhìn thấy
Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bong
đến làm tô được giàn dụa nước mưa sông.
Sông Đáy ơi chiều nay tôi trở lại
Những cánh buẳm cổ tích đã bay xa về một niềm tức tưởi
Em đã mang đôi môi màu dâu chín sang đò một ngày sông vắng nước (Sông Đáy)
Nơi con sông Đáy chảy qua là quê hương, làng bản, là nơi nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ. Nơi ấy có dòng nước mát trong như bầu sữa ngọt, Sông Đáy gieo lại miền kí ức ngọt ngào, tức tưởi một nỗi buồn dâng lên man mác - nỗi buồn
trước sự chảy trôi của thời gian nhọc nhằn vai áo mẹ, kỉ niệm một ngày sông vắng nước em sang đò...Nỗi buồn ngày trở về oà vỡ trên bến sông, “sông đáy cháy vào đời tôi”, giọt nước mắt hoà tan trong miền nhớ: “ Sông Đáy ơi, sông Day oi...chiéu nay téi trở lại/ Mẹ tôi đã già như cát trên bờ/ Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi/ Tôi quì xuống ấp cát vào mặt/ Tôi khóc/ Cát từ mặt tôi chảy xuống dong dòng. ” Xuất hiện không nhiều trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” nhưng hình ảnh nước và dòng sông luôn đem đến những liên tưởng bắt ngờ, đó là dòng