3.2.1. Hình ảnh thơ mang tính tượng trưng
Thơ vốn là tiếng nói của cảm xúc. Mọi con đường đi đến thành công trong nghệ thuật là tạo được tiếng nói từ tâm hồn, và thơ cũng như các thê loại văn học khác cần tái tạo được hiện thực đời sống một cách nghệ thuật, một cách biểu cảm nhất. “ Thơ phải làm cho người ta cảm và làm cho người ta nhận, hay nói cách khác hơn là làm cho người ta nhận thức bằng cảm xúc”. Hình ảnh là một mắt xích nối kết cảm xúc thơ với tương quan đời sống và cảm nhận của người
thưởng thức nghệ thuật. Bêlinxki, nhà phê bình Nga vĩ đại thế kỷ XIX đã viết:
Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng hình tượng và các bức tranh...Nhà kinh tế chính trị được vũ trang bằng các số liệu thống kê, dùng chứng mình để để tác động tói trí tuệ của người đọc, người nghe...Nhà thơ được vũ trang bằng sự miêu tả sống động và rõ nét, tác động đến trí trởng tượng của bạn đọc bằng cách trình bày hiện thực trong một bức tranh hiện thực...một người chứng mình, một người trình bày và cả hai đều thuyết phục, chỉ có một đằng bằng các kết luận lôgíc một đằng bằng các bức tranh [53, 10]
Hình tượng nghệ thuật là một cấp độ khái quát hơn hình ảnh, cùng có một chức năng chung là tái tạo lại hiện thực đời sống một cách sinh động, gợi cảm:
Hình tượng nghệ thuật là cái được sang tao, duoc khai quat, khong phai la cai sao chép, có sẵn. Hình tượng nghệ thuật có được là phải nhờ sự chế tác qua chất liệu, tạo dựng từ cái vô hình để mà hữu hình trong thé giới nghệ thuật.Hình tượng nghệ thuật không đòi kế lễ hay trình bày chỉ tiết mà cần chọn lọc những
chi tiết điển hình và giàu sức biểu hiện. [47, 92]
Hình tượng nghệ thuật hay hình ảnh là điều kiện số một của sáng tác văn
học, và thực chất nó là hình ảnh của hiện thực khách quan được nhà văn cảm hoá, đưa vào ý tưởng sáng tác của mình. Trong thơ tượng trưng, hình ảnh không chỉ được phô tả một cách thông thường mà như cách nói của Hêghen: “ Hình tượng với tư cách là tượng trưng mà biểu hiện ra là một tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo, một mặt vừa cho thấy đặc điểm của nó, mặt khác lại bộc lộ một ý nghĩa phô biến sâu rộng hơn cái sự vật cá biệt được miêu tả ra. Do đó hình tượng tượng trưng giống như là một câu đồ đòi hỏi chúng ta đi tìm kiếm cái ý nghĩa nội tại đằng sau hình tượng.”
Manlacmê - một nhà thơ tiêu biểu cho thơ tượng trưng từng nói: “ Các nhà thơ Thi sơn nắm bắt sự vật trong toàn bộ và trình bày ra hết, do đó đã xoá mat bí ân. Họ tước bỏ cái niềm vui lớn nhất của tâm hồn người đọc, tức là tin vào những gì họ sáng tạo. Gọi tên đối tượng tức là phá huỷ ba phần tư sự hưởng
thụ bài thơ, nó tạo thành niềm lạc thú được đoán ra dần dần. Khêu gợi đó là ước
mơ và mục đích. Tượng trưng cho phép sử dụng hoàn toàn cái bí ân đó: nó gợi ra phần nhỏ cái vật thé trong tượng trưng để cho thấy một trạng thái tâm hồn hay ngược lại, chỉ ra đối tượng rồi sau đó giải mã nó, để giải thoát ra một trạng thái
tâm hồn cần phái có”. [74, 67].
Thơ tượng trưng bởi những lẽ đó, !à tiếng nói của thế giới, là khát vọng tìm kiếm những cái bí ẩn ở đằng sau, bao gồm bản chất thể giới, các hiện tượng của
tâm linh con người, của thể giới cảm giác và vô thức. [74, 73]. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều không ngừng tìm kiếm cái bí ân ấy sau những lớp sóng hình ảnh.
Sự tiếp xúc, ép sát, dâng trào của mật độ dày đặc những hình ảnh, thanh âm, màu sắc tạo nên con sóng mạnh mẽ đầy lôi cuốn, mê hoặc của thơ. Nếu như Baudelaire đã tạo nên một thiên nhiên trong rừng biểu tượng, các biểu tượng hội họp thành một thể thống nhất thắm sâu với chuyên động xuyên thấm, hoà trộn của ngôn ngữ âm thanh, sắc màu, hương thơm trong bài thơ Tương ứng thì với Nguyễn Quang Thiều, tạo được những biểu tượng mang ý nghĩa nghệ thuật cũng là một mục đích sáng tạo. Biểu tượng làm cho hình ảnh thơ sinh sôi, thực sự được sống trong tư thế chuyển động không ngừng và mang giá trị bền vững, không chỉ đừng lại ở ý nghĩa ân dụ thông thường.
Vào lúc ban mai tiếng ngựa hí vang
Một thiếu nữ Achill đi trên sườn đôi, nàng tạc bằng đá hoa cương trắng
Mắt nàng là hai viên ngọc xanh, tóc nàng như một đám rong biển dập dòn, tâm hôn nàng là sao mai
Bẩy cừu ngoan ngoãn đến bên nàng, ngước nhìn nàng và cất tiếng Nàng cúi xuống vuốt ve những con cừu rồi đi lên đỉnh đôi
Nàng nhìn biển cả và những con sóng hung dữ bỗng trở lên ngoan ngoãn ( Bài ca ban mai trên những quả doi Achill)
Những hình ảnh ngồn ngộn nổi lên sau lớp ngôn từ gợi cảm: ban mai, tiếng ngựa, thiếu nữ, sườn đồi, đá hoa cương, trắng, mắt nàng, ngọc, rong biển, sao mai, bầy cừu, biển cả, sóng. Những âm thanh, màu sắc làm nổi lên đường nét tuyệt mĩ của ban mai, vẻ đẹp thần diệu ấy tạc lên thiếu nữ Achill đi trên quả đổi
~ nàng là một tặng phẩm quý báu của thiên nhiên. Nàng là ai? Một dấu ấn mới lạ
ở một vùng đất xa xôi ư? Nàng quen hay lạ? Thực ra thi sĩ đặt nàng ở rất gần
thôi, trong chính mỗi khoảnh khắc sống của mỗi người. Vẻ đẹp thần diệu có ở bất cứ nơi đâu và nó có một sức mạnh cảm hoá ghê gớm.
Dưới trăng và một bậc cửa là một sảng tạo mang phong cách đặc trưng trong thơ Nguyễn Quang Thiều, ở đó hình ảnh thơ rậm đặc, theo chuyên động của đêm trăng, một cuộc vận hành, sinh sôi diễn ra vô cung manh mé: “ Tran
đến bậc cửa rỗi”, say sưa khát thèm múc từng thìa tring; “Trdn qua bac cia
rồi”, mọi ước mơ, cái chết, sự phản trắc, bóng tối, sinh sôi cùng trỗi đậy và định hình; “Đã #ràn qua bên kia”, cuộc hồi sinh “ Những rễ cây chộp lấy tôi và nghiền tôi thành nước — Tôi lao theo những thớ cây vùn vụt lên cành” lúc này con sóng đã dâng lên điểm cao trào chuẩn bị vỡ oà trong lòng biển. Cơn sóng thuỷ triều dâng ào ạt trong lớp lớp hình ảnh thơ, khuấy động không gian bằng nhịp câu chữ, bằng những hình ảnh rậm đặc. Tính nhạc được tạo ra trong con sóng ồn ào ấy, bán giao hưởng với những biến tấu bất ngờ, táo bạo, day dứt, để rồi ùa về một niềm say mê thoả thích: “ Hình như có một bậc cửa cho tôi bò qua
— Nơi ấy sóng trăng đang vật vã". Nguyễn Quyền viết: “ Nhịp thơ gấp gáp rồi chậm rãi hệt như nước thuỷ triều bị chi phối bởi mặt trăng. Những động từ mạnh như va đập vào vách đá. Nhịp câu thơ chùng xuống như thể sóng lui xuống một
nhịp rồi lại bùng nỗ với một động từ khác. Vách đá trơ lì của thế giới không thê
không rung động.”
Chính sự đồn nhịp của những câu thơ tạo nên nhạc điệu - một thuộc tính bản chất của thơ. Ta thường bắt gặp những câu thơ phức điệu đa âm đa tầng trong thơ Nguyễn Quang Thiều. Hợp âm của chúng tạo nên thứ âm thanh lạ lẫm:
“Âm thanh do đó là gợi ý, thể giới của sáng tạo. Tìm ra âm thanh có nghĩa là tìm ra nhịp điệu của câu thơ, câu văn, tìm ra được giọng điệu chính của hình tượng”
[52. 243]. Âm thanh ấy chính là tính nhạc, là tiêu chuân đánh giá cái đẹp và là
tăng giá trị biểu hiện của văn chương. Véclen cho rằng “ phải có âm nhạc trước tiên, phải có âm nhạc nữa, âm nhạc mãi”. Xuân Diệu đề cao tiếng nhạc thoát ra từ tâm hồn: “ Nhạc điệu của thơ là thứ nhạc điệu không phải chỉ ở lỗ tai nghe, đúng hơn có thông qua lỗ tai nghe mà đi tới tâm hồn”. Và trước hết, để tạo tương ứng đó ( thơ - tiếng nhạc của tâm hồn), nhạc điệu là sự phô tả chính hình tượng của đời sống, đưa những cảm nhận của người nghệ sĩ trở thành điểm tựa để thâm nhập sâu vào thế giới chữ, toát lên ý tưởng của tâm hồn. Thơ Nguyễn Quang Thiều mang chất nhạc không mượt mà, dễ nghe, mà đặm đà một dư vị đắng đót xen lẫn ngọt ngào; sôi nỗi, đữ dội song kết thúc địu êm, có khi trầm lắng trong suy tư trầm mặc. Bài ca những con chứn đêm cùng trong nhịp thở ấy của câu chữ:
Như chỉ còn sóng rì rào, như chỉ còn lại nước
Như chỉ còn xa xăm, thiêm thiếp những quả đổi Như chỉ còn gió đi qua rừng bạch đàn thẩm tôi Buôn bã lời thở than của điệp lục suy tàn
Mật độ dày đặc của hình ảnh thơ khiến chúng ta có cảm giác như chúng xô dạt, ép sát vào nhau, tức tưởi một không gian ngột ngạt, tù đọng. Vậy mà sự trống rỗng vẫn tăng lên trong cảm xúc, sự sưy tàn, thẩm tối kia là biêu tượng của
cái chết, cái héo úa, suy kiệt. Và tiếng chim đêm loang mãi bên kia quả đồi là sự
sống duy nhất cô đơn khắc khoải. Hiện thực Nguyễn Quang Thiều tạo ra trong thé giới thơ là một hiện thực mang màu sắc huyền áo ( thuộc tính đặc trưng của chủ nghĩa siêu thực - một bước tiếp nối sau cái chết của chủ nghĩa tượng trưng).
3.2.2. Tính siêu thực của hình ảnh thơ
Tuyên ngôn thứ nhất của chủ nghĩa siêu thực, André Breton viết: Tính ứự động của tâm li thuẫn tuý, bài chính tả của tr duy, vắng mặt mọi giám sát của li
trí, đứng ngoài mọi thiên kiến thẩm mĩ hay đạo đức. Chủ nghĩa siêu thực với lòng tin ở thực ta siêu đẳng của những hình thái liên tưởng sơ lậu, ở giắc mơ vạn năng, ở tư duy không vụ lợi.[ 24, 13]. Thứ hiện thực siêu nghiệm, không thê cảm nhận bằng lý trí hay trực giác mà chỉ có thể kiếm tìm trong giấc mơ vạn
Vợ tôi có mớ tóc của lửa gỗ Có tư duy ảnh chớp của nhiệt Có vóc hình của đồng hồ cát
Vợ tôi có vóc hình rải cá trong hàm răng con hồ
Vợ tôi có miệng như đoá hoa bằng lụa và chòm sao cực lớn Có hàm răng dấu tích của chuột bạch trên đất trắng...
(André Breton - Tw do két hôn)
Những hình ánh như vậy không thể lí giải bởi lý trí thông thường được, nó xoá bỏ mọi lôgíc của một thực tại thông thường và sống trong mách bảo của tự động ý thức. L. Aragon viết: “ Chúng tôi phơi bày toàn bộ sức mạnh của hình
ảnh. Chúng tôi đánh mất quyền lực điều khiển chúng. Chúng tôi trở thành tài
sản, thành cái khuy của chúng”. Các nhà siêu thực dùng hình ảnh làm phương tiện giải phóng cái nhìn, gắn kết tưởng tượng với tự nhiên, xoá nhoà ranh giới của các giác quan:
Giờ run rấy dưới đáy thời gian hỗn loạn
M6t con chim dep khoáng hoạt mạnh mẽ hơn cát bụi Kéo lê trên tắm gương một cái xác không đầu
Những viên mặt trời làm mêm đôi cánh Và gió từ mặt đất khiến ánh sáng rụng rời
Điều kì diệu nhất được phát hiện ở nơi đây
( Marcha cười với thiên thần)
Nguyễn Quang Thiều dụng công xây dựng những hình ảnh chủ quan, “ được cải tạo” bởi trí tưởng tượng của nhà thơ, không phải từ ống kính hiện thực chủ nghĩa, mà từ điểm nhìn của chủ thể siêu thực : Tôn trọng sự cảm nhận tự nhiên, tôn trọng nhận thức trực giác.
Tôi đi theo những ngọn gió không mùa
Trong tiếng khóc khàn khàn của những cánh đông goá bụa Những vết nẻ ngoạm chân tôi và nuốt
Gió đang vặt lông những đảm mây vàng
( Trong tiếng súng bắn tía) Mùa đông mở chiếc bị cói thời gian
Lấy chiếc lược gỗ của họ thả vào con cà cuống Về cánh đồng xăm xắp tóc màu rêu
Mùa đông lấy đôi guốc của họ thả vào một đôi rùa trắng Về ao sen ở phía không chùa
( Những người đàn bà mùa đông)
Không gọi tên được cụ thể hiện thực nhưng một cảm thức về nỗi cô đơn được trải rộng thênh thang, ngập trong lớp ngôn từ mới lạ.
Càng những tập thơ về sau, chất huyền ảo càng gia tăng mạnh mẽ, hình ảnh thơ trở nên mờ nhoè, bàng bạc cõi vô thức:
Đã thiếp ngủ những hài cốt trong nghĩa địa ngoại thành, những con giun mộng du miên man trong đất
Đã thiếp ngủ đâu đấy tội lỗi, lương thiện đâu đấy cũng ngủ, những pho sách ngủ mãi từ thể kỉ trước bởi quá mệt mỏi
( Cây ánh sáng)
Mật độ dày đặc của hình ảnh làm gia tăng sự biểu cảm trong thơ, tạo những biến thể về ngôn từ, tạo chất nhạc, nhịp điệu phong phú, và một mặt cũng làm cho chỉ tiết thơ trở nên linh hoạt. Sự khoẻ khoắn của ngôn ngữ, sự phá cách về
nhịp điệu so với thơ truyền thống (thơ truyền thống đễ nhớ, đễ thuộc, nhịp điệu
mượt mà) tạo ra những câu thơ xù xì, gân guốc, những bài thánh ca trầm buôn, bản sô-nát quyến rũ bay bồng...Thơ Nguyễn Quang Thiều thuộc thể loại thơ tự do, không chịu gò bó trong niêm luật. Đây cũng là xu hướng chung của các nhà thơ đương đại như: Phùng Khắc Bắc ( Một chấm xanh), Thanh Thảo (Dấu chân qua tráng có), Vì Thuỳ Linh ( Khát), Nguyễn Khoa Điềm ( Ngồi nhà có ngọn lửa ấm)... Đôi khi, do quá ôm đồm chỉ tiết, thơ Nguyễn Quang Thiều rơi vào
trạng thái chơi vơi, thiếu trọng lực ở những nơi cần thiết, dàn trải kiểu như Nhịp
điệu châu thổ mới. Đề tìm giải pháp hoàn hảo hơn, những bài thơ văn xuôi của anh đã góp phần khắc phục được những hạn chế đó. Kết hợp tư duy văn xuôi và sáng tác thơ, thơ văn xuôi có giềng mối nơi liên kết ý, đòi hỏi trình độ tư duy cao và thuần thục. Những câu thơ tiếp nối nhau trải ra các ý tưởng, hình ảnh trong các bài thơ: Những ví dụ, Chuyên động, Hồi tưởng, Bài ca những con chìm đêm, Nhân chứng một cái chết. Đông La cho rằng: “ Nguyễn Quang Thiều là thi sĩ
thường không viết những điều hướng người đọc thích thú mà anh viết những
điều buộc người ta phải suy nghĩ. Anh ít viết những gì êm đềm, bóng bẩy, vui tươi mà viết về những vấn đề gai góc, những bài toán lớn đặt ra trong cuộc sống.
Thơ anh không bộc bạch, thổ lộ hoặc thủ thi mà anh thường dựng lên những bức tranh, ở đó, anh dẫn người đọc vào một không gian kì lạ với rất nhiều luồng lạch,
ngõ ngách khác nhau. Chúng hoàn toàn xa lạ với những ai thoả mãn với những gì quen thuộc”.
*
Ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc tính là những thuộc tính cơ ban của tho được kết hợp nhuần nhuyễn trong thơ Nguyễn Quang Thiều, định danh cho xu hướng sáng tác của anh, hướng vào việc khắc họa cái tôi nội cảm, xây dựng những biểu tượng đầy đặn trong thơ, và hướng vào cách khám phá thơ - khám phá đời sống theo xu hướng tượng trưng, siêu thực. Những lớp hình ảnh trong thơ anh ân chứa một tâm hồn da diết tìm đến tiếng gọi của sự sống muôn đời.