Nhân vật bà cụ Tứ

Một phần của tài liệu Hướng dẫn ôn thi Tốt nghiệp THPT môn Văn (Trang 135 - 140)

2.1. Là một người mẹ có hoàn cảnh đáng thương và nghèo khổ:

- Chồng và con gái mất sớm, bà cụ Tứ sống cùng anh con trai tuy đã nhiều tuổi nhưng chưa có vợ.

- Là dân xóm ngụ cư, hai mẹ con sống trong một căn nhà rúm ró, xiêu vẹo, giữa bối cảnh nạn đói khủng khiếp người chết như ngả rạ.

2.2. Là người mẹ giàu tình thương con:

- Giữa nạn đói thê thảm, một chiều nọ, thấy con trai dẫn người đàn bà lạ về giới thiệu với bà Nhàtôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ. Lúc đầu bà rất đỗi ngạc nhiên. Nhưng khi hiểu ra, lòng bà tràn đầy thương cảm:

+ Với con trai: bà xót thương cho số phận con phải nhờ đến nạn đói mới lấy được vợ.

+ Với nàng dâu mới: bà không rẻ rúng, khinh miệt mà đầy cảm thông, trân trọng.

- Bà đã đồng ý cuộc hôn nhân của con bằng tình thương và sự hiểu đời:

+ Bà cho đó là chuyện duyên kiếp, chuyện tác hợp của trời đất vì thế nó cũng thiêng liêng như bao cuộc hôn nhân khác.

+Bà mừng lòng trước hạnh phúc của các con. Bà mừng hạnh phúc của con bằng bữa cháo cám ngày đói, tuy đạm bạc nhưng chan chứa tình yêu thương.

- Bị cái đói truy đuổi, bà không khỏi lo lắng cho cuộc hôn nhân của con.

- Bà động viên các con bằng niềm hi vọng mãnh liệt ở tương lai:

+ …ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau.

+Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà…Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho xem.

3.3. Về nghệ thuật:

- Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật độc đáo (miêu tả diễn biến tâm trạng phức tạp bà cụ Tứ từ khi có nàng dâu mới: ngạc nhiên, tủi thân, vui, lo lắng, hi vọng…).

- Ngôn nhữ nhân vật mộc mạc, giản dị, gắn với khẩu ngữ.

b. Người vợ nhặt - Ngoại hình:

+ Quần áo: tả tơi như tổ đỉa.

+ Thân hình gầy sọp.

+ Mặt như lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt trũng hoáy.

+ Ngực gầy lép

Không có chút dấu hiệu gì của nữ tính.

- Tính cách:

+ Bạo dạn: bắt quen khi Tràng hò chơi cho đỡ nhọc, chạy lại đẩy xe, thậm chí tin và vin vào câu hò như một lời hứa hẹn. nên làn thứ 2 gặp lại mới tự cho mình cái quyền được sưng sỉa và bộc lộ thêm tính cách:

+ Đanh đá,cong cớn, trơ trẽn của người dân nghèo ít học.

+ Cong cớn mà không nanh nọc, trơ trẽn . Cong cớn, trơ trẽn là sản phẩm sinh ra từ đói nghèo, tăm tối, chứ không phải cái xấu, cái ác.

-> Danh dự trở thành một cái gì đó quá xa xỉ, nên dễ dàng bị gạt sang một bên, sẵn sàng dẹp lại để sinh tồn. Và sẵn sàng làm vợ theo không - vợ nhặt của một người đàn ông qua một ời rủ rê mà đùa nhiều hơn thật.

- Là người phụ nữ lao động tinh tế, hiền hậu, biết cách cư xử

+ Trước khi ăn vẫn hỏi: ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì. Ăn xong bày tỏ sự cám ơn: Hà! Ngon…

+ Về nhà chồng rất đoan trang,ý tứ: “Thèn thẹn hay đáo để” ,ngồi mớm xuống mép giường (liên hệ với Nguyệt trong “Mảnh trăng cuối rừng”).

+ Thể hiện trách nhiệm của cô con dâu, một người vợ hiền: quét dọn nhà cửa.

+ Ứng xử khi ăn bát chè khoán “đắng chát và nghẹn bứ”: “thản nhiên và vào miệng”.

Giá trị tác phẩm

1.Giá trị phản ánh hiện thực của tác phẩm Vợ nhặt

- Nạn đói: Bối cảnh của truyện ngắn Vợ nhặt là khung cảnh nông thôn Việt Nam vào một thời kì ngột ngạt và đen tối nhất- đó là nạn đói năm Ất Dậu 1945. Bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật buộc người nông dân phải nhổ lúa và hoa màu để trồng đay, phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Người dân các tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ lâm vào nạn đói khủng khiếp, gần hai triệu người chết đói. Hiện thực đau thương đó đã được phản ánh trong nhiều truyện của Nguyên Hồng, Tô Hoài và thơ của Văn Cao… Nhà văn Kim Lân cũng góp tiếng nói tố cáo của mình trong tác phẩm Vợ nhặt.

Đặc sắc nghệ thuật của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt là mặc dù không có một dòng nào tố cáo trực tiếp tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật, hình ảnh của chúng cũng không một lần xuất hiện, nhưng tội ác của chúng vẫn hiện lên một cách rõ nét. Khung cảnh làng quê ảm đạm, tối tăm. Những căn nhà úp xúp. Những xác chết nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người…

- Một đám cưới trong ngày đói:

Cuộc sống của người nông dân bị đẩy đến

bước đường cùng. Tính mạng của con người lúc này thật rẻ rúng, người ta “ nhặt” được vợgiống như nhặt cái rơm, cái rác ở bên đường. Thông qua tình huống truyện lấy vợ của Tràng, Kim Lân không chỉ nói lên được thực trạng đen tối của xã hội Việt Nam trước

Cáchmạng , mà còn thể hiện được thân phận đói nghèo, bị rẻ rúng của người nông dân trong chế độ xã hội cũ ( Chú ý phân tích cảnh bữa cơm đón nàng dâu mới ở nhà Tràng vào thời điểm đói kém: giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo…

rồi nồi “ chè khoán” nấu bằng cám.)

- Hình ảnh đoàn người phá kho thóc của Nhật:

Ở phần cuối của tác phẩm, những nhân vật nghèo khó này cũng khao khát sự đổi thay về số phận. Chúng ta cũng thấy thoáng hiện lên niềm dự cảm của tác giả về tương lai, về cách mạng qua hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng và những đoàn người đi phá kho thóc của Nhật. Cách kết thúc đó nâng tư tưởng tác phẩm lên ý nghĩa cao hơn. Cách mạng tuy xa mà gần, trừu tượng mà cụ

còn, tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập nhưng trong ý nghĩ của Tràng đã hiện lên một niềm hyvọng cho tương lai.Lá cờ đỏ xuất hiện hai lần trong tâm trí Tràng định hình cho sự đổi đời thấp thoáng diễn ra.

b. Giá trị nhân đạo của tác phẩm :

b.1 Tấm lòng xót thương vô hạn của nhà văn trước những số phận nhỏ bé sống lay lắt. Vợ nhặt - Kim Lân đã viết về cuộc sống của người nông dân Việt Nam trước cách mạng với một niềm đồng cảm, xót xa, day dứt.

- Cái đói và miếng ăn là đề tài khá phổ biến của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945...Tuynhiên cái đói được phản ánh trong “ Vợ nhặt” trở thành một tình huống đặc biệt.Cái đói lịch sử, một quốc nạn khủng khiếp được Kim Lân phản ánh có tầm vóc và đầy ý nghĩa.Chỉcần phác thảo vài nét, Kim Lân đã miêu tả nạn đói trên nhiều bình diện:

+ Không gian ngày đói: (D/c ) + Con người ngày đói: (D/c )

- Trên cái nền bức tranh nạn đói khủng khiếp ấy, Kim Lân đã xót thương cho những số phận bi thảm:

+ Tràng.

+ Vợ nhặt.

+ Bà cụ Tứ.

=> Như vậy, những mảnh đời như Tràng, vợ nhặt và bà cụ Tứ điển hình cho số phận của

người lao động trong nạn đói.Họ bị đẩy xuống hàng súc vật, phải ăn cả cám.Thân phận rẻ rúng như cọng rơm, cọng rác bên đường ai nhặt cũng được.Kim Lân đã viết về họ với tấm lòng xót thương vô hạn.Nếu không có một tình cảm gắn bó thực sự với người nông dân , không trải qua những năm tháng đen tối ấy, không dễ gì viết nên được những trang sách xúc động và thấm thía đến thế.

b.2.Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn được thể hiện ở chỗ, nhà văn đã phát hiện và miêu tả những phẩm chất tốt đẹp của người lao động.

+ Ca ngợi tình người cao đẹp.Mặc dù bị xô đẩy đến bước đường cùng, mấp mé bên cái chết, nhưng những người nông dân vẫn cưu mang, giúp đỡ nhau, chia sẻ cho nhau miếng cơm,manh áo. Hiện thực cuộc sống càng đen tối bao nhiêu ( chú ý phân tích cảnh bà cụ Tứ chấp nhận cô con dâu mới trong lúc gia đình cũng đang rất khó khăn, không biết sống chết lúc nào, để làm nổi rõ tìnhngười của họ).

+ Khát vọng hạnh phúc gia đình. Kim Lân cũng thể hiện một sự trân trọng đối với khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và mái ấm gia dình của người nông dân.Trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng bà cụ Tứ và vợ chồng Tràng vẫn luôn hướng tới một cuộc sống gia đình đầm ấm, hạnh phúc ( cần chú ý những chi tiết diễn tả tâm trạng bà cụ Tứ, thái độ của Tràng, vợ Tràng trong bữa ăn, rồi nhàcửa , sân vườn đều được quét tước , thu dọn sạch sẽ, gọn ghẽ).Một cái gì mới mẻ, khác lạ đang đến với mỗi thành viên trong gia đình bà cụ Tứ và hé mở trước họ một niềm tin về tương lai.

+ Niềm tin yêu mãnh liệt vào cuộc sống, vào tương lai.

b.3 Truyện đã gián tiếp tố cáo tội ác của bọn thực dân, phong kiến và tay sai.

+ Phản ánh hiện thực là nạn đói năm 1945, tác giả tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến bắt nhân dân ta nhổ lúa đi trồng đay đã gây ra nạn đói khiến từ Quảng Trị trở ra hơn hai triệu người chết đói.

+ Cách tố cáo của Kim Lân khá đặc biệt, toàn bộ truyện ngắn không có bất kỳ một tên phát xít, cường hào nào. Tác giả phê phán gián tiếp qua hậu quả mà những lực lượng hắc ám ấy tạo nên.Chính những số phận nhỏ bé lay lắt của những con người năm đói đã phân tích ở trên là bản tố khổ hùng hồn và cảm động nhất về tội ác tày trời của bọn thực dân, phát xít.

b.4 Niềm tin vào một tương lai tươi sáng.

+ Điểm mới trong tư tưởng nhân đạo qua truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là ở chỗ nhà văn đã phát hiện và khẳng định khả năng đổi đời của người lao động

dưới ánh sáng của thời đại Cách mạng.

+ Dự cảm đổi đời của vợ chồng Tràng:

- Cô vợ nhặt nhắc đến câu chuyện những người trên mạn Bắc Giang.

- Trong trí óc Tràng xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

+ Không gian, thời gian chuyện có sự biến đổi:

- Mở đầu truyện là một buổi chiều chạng vạng, kết thúc là bình minh đang lên.

- Mở đầu là cảnh đói khát, kết thúc là khu vương, căn nhà sạch sẽ, tinh tươm.

Đây không chỉ là không gian vật lý đơn thuần mà còn là không gian nghệ thuật đầy ý nghĩa gợi sự chuyển dịch từ bóng tối đến ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ tuyệt vọng đến hy vọng. Câu chuyện của vợ chồng Tràng đang mở dần về phía của sự sống, của hạnh phúc.

=> Nâng cao:

Thành công của truyện ngắn “ Vợ nhặt”, thể hiện một tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Đó chính là tư tưởng nhân đạo của văn học cách mạng sau năm 1945 mà đặc trưng cơ bản là gắn tình thương với đấu tranh, gắn niềm tin vào tương lai tốt đẹp của con người. Tư tưởng này khác hẳn với tư tưởng nhân đạo truyền thống.

Lý giải: Kim Lân viết Vợ nhặt sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong không khí xã hội đã thay đổi khiến nhà văn có cái nhìn và cảm hứng về con

người theo chiều hướng lạc quan.

3. Kết bài: Vợ nhặt là một tác phẩm thành công của nhà văn Kim Lân. Qua tác

phẩm này, chúng ta không chỉ nhận thấy tài năng của nhà văn, sự hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ của ông về cuộc sống của người nông dân, mà điều quan trọng hơn đó chính là cái tâm, cái tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng của Kim Lân đối với những người lao động nghèo khó trước Cách mạng.

Một phần của tài liệu Hướng dẫn ôn thi Tốt nghiệp THPT môn Văn (Trang 135 - 140)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(173 trang)
w