• Tín ngưỡng dân gian
Tôn giáo là m ột phần quan trọng của m ọi nền văn hoá. Tôn giáo có quan hệ v ớ i các linh hổn, các thần và với các th ế giới khác không phải th ế giới cúa chúng ta. ơ Hàn Q uốc, những Ìighiên cứu về tôn giáo có thề đã từng giải thích nhiều điều, không chỉ những điều trong tiềm thức, trong tâm linh mà cả những vấn đề về lịch sư của người Hàn. N ói chung, những tôn giáo ngoại lai du nhập vào bán đảo Hàn và tồn tại m ờ nhạt, pha trộn, còn những'tôn giáo bản địa thì còn được giữ lại rất thuần khiết trong dân chúng. M ột v í du điển hình là Đạo Shaman Hàn Quốc - m ột thứ tồn giáo vẫn được giữ gìn rất trong sạch, thuần khiết và có hình thái phát triển cao Tại Hàn Quốc, Đạo Shaman không chỉ giữ được hình thái v ô h có nguyên thủy của nó mà. còn phát triển những ý niệm trong bản thân nó trong sự giao hoà với các tôn giáo ngoại lai.
Các tín ngưỡng dân gian Hàn Quốc bao hàm sự thờ Cling các thần linh trong nhà, các thần làng và các vị thần trong tự nhiên Sư hầu lễ này thường do các bà' nội trợ trong m ỗi gia đình đảm nhiệm. Sự thờ cúng các thần trên đây không giống sự thờ cúng trong Đạo Shaman, cho dù Shaman đã thống nhất m ột s ố thần
108 T R A CỨU VẨ N H Ò A H ÀN Q U Ố C
trong tín ngưỡng dân gian và n h iều khi rất khó th ể xác đ ịn h x e m đâu là tôn giáo bản địa v ớ i sự thờ c ú n g các thần, đ â u là Đ ạ o Shaman? C húng có sự pha trộn và k h ô n g p h á t triển m ộ t cách đ ộ c lập.
• Các thần lin h trong nhà
Cụ t ổ (A ncestor G od)
C ùng vớ i m ột sô' thần khác C ụ tổ là n g ư ờ i đư ợ c th ờ c ứ n g lâ u đời nhất, được biết đến sớ m nh ất từ b u ổ i sơ kh ai tron g lịch sử H à n Quốc. N gư ờ i H àn Q uốc g ọ i tên thần tổ tiên, h a y C ụ tô b ă n g n h iề u tên g ọ i khác nhau tu ỳ theo từ n g địa p h ư ơ n g n h ư n g có m ộ t tên n ô i tiêng nhất - đó là C h o sa n g Tanji (th e J a r o f A n c esto r).
C hosang Tanji là m ột cái b ìn h n h ỏ , tron g đ ự n g g ạ o v à m iệ n g bình thì đươc bọc kín b ằn g g iấ y trắng. C hiêc b in h ư<^ _ at trên m ột cái giá ở góc m ộ t p h ò n g n h ỏ tro n g nha. m ọ t so Ịa phướng, Vị ử iầ n n à y Tược tô n k ín h n h ư bà n ô i
b i Z n S , này cú quan hờ tơi ôự r * ỡ "1” *“ của ^
sư sinh Ậ Ẩ: n í. ưdi ta dặt n h ữ n g tờ g iấ y trắng tro n g - : nho gọi là h ộ p tổ tiên (A n c e sto r b o x ), b ộ p n à y đ ặ t bén cạnh chiếc bình. N h ư là v ớ i các v ị thần khác tron g la , ụ tô trong chiếc bình phải được bà n ộ i trợ ch ăm lo trong su ố t b u ổ i lê h àn g năm vào tháng 10 âm lịch. Bà n ộ i trỢ đ ặt trươc th an m ọ t v ạ i bánh gạo hấp... Sau đó, bà xoa h a i bàn tay v à o n h a u v a k h an tron g và i ph út, cầu m ong sự h ạn h phúc, m a y m ăn ch o gia đ in h v a sự sinh n ỏ được m ẹ tròn con v u ô n g . Sau đ ó , bà v a i v a i v a i nư a trươc n h ữ n g v ị thần khác trong nhà v à lặp lại v ớ i n h ư n g lơ i cau kl
Tín ngưỡng và tốn giáo 109
r r r f_ Ọ ^ /1
Thô công
Tại m ột chiếc kệ đặt ở m ột góc trên sàn gỗ, có m ột chiếc bình khác, đó là bình thò' thần chủ nhà - có tên là Songju. Trong bình, người ta bổ vào gạo hoặc lúa mạch, ơ v ù n g trung tâm của bán đảo Hàn và m ột sô nơi thuộc tỉnh K yongsang, thần chủ nhà được đại diện bằng m ột mảnh giây chứ không phải bằng bình gạo hày lúa mạch. N gư ời ta treo m ảnh giấy trắng ở trong m ột góc sàn gỗ.
ơ m ột vài nhà, người ta đặt trên mảnh giấy đó m ột đồng tiền cổ bằng kim loại (đồng xu) hoặc vài hạt gạo.
N gười ta cho là thần chủ nhà là thần hộ m ệnh cho người nào đứng đầu nhà đó. Bà chủ nhà cũng làm lễ cúng vị thần này vào đúng ngày mà bà làm lễ Cling Cụ tổ và những người khác trong tổ hên của gia đình. Bà cũng dâng đồ cúng lễ đ ể cúng vị thần nảy vào những ngày lễ hội b o n g năm và ngày sinh của các thành viên trong gia đình. Kê’ cả khi bà được hàng xóm hay họ hàng biêu những đồ ăn thức uống đặc biệt, bà cũng đặt lên trước chiếc bình thổ công đ ể cúng. Trong các buổi lễ Shaman cũng có m ột khóa lễ (một giai đoạn) để cứng vị thần này.
Thẩn lửa
Một bát nhỏ màu trắng, trong đựng nước sạch được đặt trên bệ bếp (nơi đặt những chiếc nồi) đ ể tượng trung cho thần lửa.
N gười phụ nữ trong gia đình thường thay nựớc trong bát này vào mỗi buổi sáng, nhưng thực tế thì những bà nội trỢ thường chỉ thay nước mỗi tháng một lần vào sáng ngày m ùng 1. N ếu như người ta cho Thổ công là thần hộ mệnh của ông chủ nhà till Thần lửa là
110 T R A CỨU VẨ N H Ó A HÀN Q U Ố C
thần hộ m ệnh của bà chủ nhà. Bà vỢ có th ể ch u â n bị, să p x êp m ộ t chỗ đặc biệt trong nhà m ình đê tự tay m ìn h ch ă m n o m v iẹ c c u n g l e . Thần lửa! Thậm chí trong n h ữ ng trường h ợ p n h ư v ậ y , th ần c ũ n g chỉ được tượng trưng bằng m ột bát nư ớc sạch. Vào. n h ư n g n g à y mà người ta cử hành lễ Cling các thần lin h tron g n h à , T hần lử a cũng sẽ đươc cúng như nh ữ ng v ị thân khac. T ron g cac b u o i le Shaman cũng có m ột khoá lễ đ ể cú n g T hần lửa. ơ m ộ t sô v ù n g như tỉnh Cholla và m ột sô nơi thuộc tinh C h u n g c h e o n g , T han lư a được thờ cúng như m ột v ị thần đặc b iệt q u a n trọng.
T h ổ thẩn
Ở sân sau, gần bệ đặt các chum v ạ i chứa thức ăn, n g ư ờ i ta đ ặ t bệ thờ Thổ thần (Toju) và Thần tài (U p ) ở cạnh nh au. T hổ th ầ n được tượng trưng bằng m ột bó rơm (buộc ở h ê n đỉn h) b ên tro n g bó rơm là m ột chiếc bình chứa gạo. N g a y b ên cạn h đ o la m ọ t đ o n g rơm m ỏng tượng trưng cho thần tài.
Đ ún g như điều mà tên của th ầ n đã n g ụ ý, th ổ thần là th ần b ả o đảm sư thịnh - -..óng Um giu d inh. Bén trong bo rơm tư ợ n g trư ng m Im khỏng có gì, nil ư ng n g ư ờ i ta tin răng có m ộ t c o n rắn sống ở h o n g đó. N ếu người ta n h ìn thây con răn đ i ra từ b ên dưới của bó rơm thì ngư ời ta tin rằng gia đ in h đ ó se k h ô n g cò n nhữ ng điều m ay m ắn nữa. N h ư tất cả các thần lin h trong n h à khác, thổ thần và thần tài cũng được bà n ộ i trỢ c ú n g m ô i n ă m m ộ t lân.
ơ tỉnh. K yonggi, thổ thần và thần tài đư ợc đặt ở n h ữ n g n ơ i khác nhau.
Tín ngưỡng vả tốn giảo 111
N hững v ị thần khác
Trong số các vị thần khác trong nhà có thần gác cổng, thần ngư ở lôi đi vào cổng chính, thần nhà vệ sinh được coi như m ột người phụ nữ trẻ có tính cách ương ngạnh.
Tóm lại: Các v ị thần trong nhà ở các gia đình H àn Quốc có những chức năng riêng trong việc bảo v ệ gia đình đó. K hông có một tôn ti nào giữa các thần, cũng không có thần nào liên quan đến thần nào về m ặt chức năng. Các thần có những chỗ đứng riêng, những v ị trí riêng và tính cách đặc biệt riêng. Chăm lo việc cúng tế các thần linh trong nhà trước hết là công việc của ngư ời phụ nữ. Còn người đàn ông chỉ chăm lo việc thờ cúng tổ tiên và không bao giờ có m ôt sư đánh đồng hay thậm chi co m oi quan hẹ nào giữa tổ tiên và thần linh trong nhà (chỉ riêng ơ tmh K angwon là có điều đó). Sự phân biệt giới tính ảnh hưởng ngay cả đến việc sắp xếp những người chăm nom việc Cling tê các thân. Hâu hêt cac thần tron- nhà đều được gọi là "Bà" và họ có tính cách nói chung là ônh oà.
• N gh i lễ Sam sin
Một người phụ nữ lo lắng khi đón nhận đứa con đầu lòng có thể nhờ đen nghi lễ Sam siir Người Hàn xưa quan niệm rằng linh hồn Sam sm ân sâu taong một quả bầu khô hoặc trong m ột túi giấy đựng một ít gạo treo ỏ một nơi trang trọng nhất trong phòng khách. Người ta sẽ dâng cúng loại canh rong biên, m ột loại canil đươc coi là rất giàu sắt và iôt dành cho các bà mẹ sau khi skill hạ
112 TR A CỨU VẨ N H Ó A HÀN Q U Ổ r.
trước khi cử hành nghi lễ Sam sm hoặc trước khi bà m ẹ đ ó có sữa cho đứa trẻ. Các bà m ẹ này phải ăn khá n h iều lo ạ i canh n h ư n g không phải cho mình mầ là cho đứa trẻ sắp đư ợc sin h ra.
Sam sm cũng được coi là v ị thần bảo trợ cho lin h h ồ n của đứ a trẻ. Mặc dù Sam sừi còn có ý nghĩa khác nữa là “ Tam lừ ìỉĩ ” so n g thực ra nó xuất phát từ m ột từ tiêng H àn khác v ớ i n g h ĩa g ố c là
"Nhau th a i”.
• Thần làng
ơ Hàn Quổc, tất cả các làng đ ều có m ộ t v ị thần giám h ộ của mình, người chuyên bảo v ệ cuộc số n g bình y ên , n o âm ch o tất cả các cư dân trong làng. N g a y cả khi v iệc thờ Cling các thần là n g có bị giảm đi do phong trào C ộng hoà m ớ i gần đây n h ư n g ở rât n h iều làng, việc Cling tế vẫn được d u y trì v ớ i n g h i thức trang n g h iê m và những luật lệ mà những n g ư ờ i dân trong là n g v â n tuân thu như m ột điều hiển nhiên phải có.
ơ các vùn g phía V n m , u Ilion d iện của thần làn g rât d ễ nhận t V " ' Cu ró no ! n h ư n g c a y c ổ thụ v ớ i tán iá rộn g ồ n g a y trước iuiig hoặc có khi ở giữa làng. Các cây đ ó đư ợc dân là n g coi như là v ị thần giám hộ. Ở các v ù n g giữa bán đảo H àn, th ần làng thường ngự ở gốc m ột cây cổ thụ trên m ột quả đ ồ i gần làn g, o những làng đó, cái cây - tự bản thân n ó được coi n h ư các thần. Vì vậy, những cây đó được coi là rất linh th iên g v à k h ô n g b ao giờ, không ai được phép hay dám chặt. Thần làng cũ n g có khi hiện hữu dưới hình dạng của m ột hòn đá. N ó i chun g, th ư ờ n g thì hòn đá này không to lắm nhưng có v à i n ét đặc biệt nào đó. H ò n đá là
Tín ngưởng vả tôn giáo 113
đại diện của thần thường được đặt trong m ột Đ iện thờ nhổ (hay có khi là miếu), m iếu này được làm bằng gỗ, m ái lợp n g ó i đặt ở sau làng, trên m ột quả đồi hay dưới tán một cây cổ thụ. ơ nhiều nơi, ngôi m iếu này, tự nó, được coi như m ột vị thần. Đ ôi khi, bên trong miếu người ta h an g trí bằng những mảnh giấy trắng gấp lại, m ột con ngựa sắt nhổ, m ột bài vị trên có ghi tên của thân.
Một vài trường hợp, người ta lại trang trí m ột bức anh chân Jung, hay bức tượng gỗ khắc hoạ chân dung của thần. Các v ị thần làng - thông thường nhất - là những vị thần của tự nhiên, nhưng cũng có m ột số vùng, người ta thờ cúng cả những nhân vật lịch sử và coi đó là thần làng.
Các loai thân làng
Có m ột sô loại thần làng và sự thờ cúng các tiran làng cũng khác nhau theo từng địa phương. Một trong những hình thức rất hay được tìm thấy ở phía Nam - tỉnh Cholla - gần bờ biên là thờ người lập ra làng đó. Ở m ột làng có tới 1 2 vị thần là thành viên hong cùng một gia đình. N hưng nghi lễ thờ cúng thì chỉ được cử hành cho vị thần là người đần bà cao tuôi nhât trong gia đinh đo — thường là bà tổ.
Ở các tỉnh phía Đ ông Nam, thần làng được gọi là K olm aegi.
Mỗi làng có một hoặc hai K o lm a eg i- N gười mà được tôn kính như là "Ông"hay "Bà"- dùng tên họ của gia đình nào lập nghiệp sớm nhất tại làng đó. Hay cách khác, chính người sáng lập ra làng thì sau đó sẽ trỏ thành thần làng.
Ở các vùng núi thuộc tỉnh Kangwon, thần làng được gọi là Sonhwang. Có SonhW angTÌẽng của m ỗi gia đình, m ỗi dòn g họ, và cũng có Sonlrw angchung của cả làng.
114 TR A CỨU VẨ N H Ó A H ÀN Q U Ố C
ơ đảo Cheju, có vài v ị thần khác nhau: thần làn g, th ần b ệ n h tật, thần rắn, và thần lặn là đàn bà. M ỗi v ị thần đ ó đ ề u d o n h ữ n g người đàn bà thờ cúng, và chỉ đàn bà m ới đư ợc p h ép th ờ c ú n g . Còn những người đàn ô n g till hoàn toàn xa cách các thần là n g , h ọ chỉ là những ngư ời chủ trì các n g h i lễ K hổng giáo.
Một yếu tố quan trọng nhất trong n h ữ n g h o ạ t đ ộ n g tín ngưỡng cộng đồng là chức năn g h ợ p nh ất nh ữ n g n g ư ờ i d â n tr o n g làng, đoàn kết họ lại, làm cho h ọ có cảm giác là giữa h ọ có m ô i quan hệ bền vững.
• Đ ao Sham an v ớ i n gư ờ i H àn Q u ôc
Đạo Shaman là sự thờ cú n g dân gian bách thần của gia đ ìn h làng xã, thờ các th ế lực có và k h ông có linh h ồ n trong tự n h iê n thông qua các bà đồn g h ay các đạo s ĩ Sham an. "Sham an K u t" , h a y phép phù thuỷ, vẫn còn tồn tại rộng rãi ở H àn Q uôc n g à y n a y . Mặc dù du khách thăm H àn Q uốc rất ít khi đư ợc ch ứ n g k iế n lễ Kut này, nhưng nhữrm 1 L i n i n g v ê sự tồn'tại của Đ ạo S h a m a n
- n r khup nói. o n ô n g th ôn H àn Q uốc, n g ư ờ i ta có mun thấy những "cột trụ tũrdĩ th ầ n " Sham an, n h ữ n g m ả n h vải sáng màu buộc vào cây cối; m ọi thứ đ ều nhằm đ ẩy lù i n h ữ n g h ồ n ma độc ác hay đ ể xoa dịu nhữ ng v ị thần trong tự n h iên . Các biểu tượng Shaman như con Sếu được d ù n g đ ể trang trí các đ ồ vật trong nhà đ ến những con Rồng, H ổ, Phượng, h a y Rùa trên n h ữ n g chén, bát, chăn màn hay trên nh ữ n g ô cửa sổ, n h ữ n g tâm n g ó i lợ p nhà đều đ ể ngăn không cho ma quái vào nhà.
Tín ngưỡng và tôn giáo 115
N gười Hàn Quốc ngày nay thường có cảm giác m âu thuẫn về Đạo Shaman. Một mặt, họ băn khoăn về bản‘chất m ê tín của nó - điều mà họ cảm thấy không còn chỗ đứng trong m ột xã h ội phát triển nhanh. Mặt khác, họ lại nhận thức rằng đạo Shaman là dạng tôn giáo và nghệ thuật đặc sắc của Hàn Quốc.
Những nhà nghiên cứu cho rằng đạo Shaman đã du nhập vào Hàn Quốc từ rất sớm cùng với những người dần Altai đến lập nghiệp từ phương Bắc. Dù có nguồn gốc như th ế nào và từ bao giờ thì các lễ hội Shaman cũng được hình thành từ nhiều thê kỉ trong lịch sử Hàn Quốc. Đạo Shaman đã tồn tại trên bán đảo H àn v ớ i thái độ khoan dung của đạo Phật - m ột thứ tôn giáo đã trỏ thành quốc giáo trên toàn lãnh thổ Hàn từ th ế kỉ thứ VI. Còn đối v ớ i Khổng giáo, cho dù không có cảm tình với đạo Shaman nhưng nó vẫn không thể bỏ đạo Shaman mà còn thu nhận m ột sô yêu tô của đạo Shaman vào các nghi lễ của mình.
Nghề thây tế - hay thầy Shaman - hay phù tlìuỷ Shaman - hay M udartg - đều do phụ nữ làm. N ghề này thường được mẹ truyền cho con gái, nhưng m ột M udcm g thực sự thường được chọn bằng những linh cảm thiêng liêng. Một cô gái bị ốm rồi mất trí, có đôi mắt hoang dại, hát hò và tuyên bô" là hiện thân của thần thánh sẽ được vị Shaman bề trên che chở và được dạy cho các bài hát, các vũ điệu nghề nghiệp.
Trong ý thức của người Hàn Quốc, các vị thần Shaman ngự trong tất cả các phòng của m ột căn nhà Hàn Quốc cũng như trong thế giới xung quanh. Các vị thần ngự ở cổng nhà, ở bếp, ở trên đỉnh các kho chứa chum vại, bên giếng nước và thậm chí cả trong
116 TR A CỨU V Ă N H Ó A HÀN Q U Ố C
nhà v ệ sinh. Các thần bay lượn khắp x u n g q u anh v à là m ộ t phần quan trọng trong cuộc số n g của n g ư ờ i H àn g iô n g n h ư g ạ o v à kim chi.
• Đ ạo sĩ Sham an
Trung tâm của tín ngư ỡng Sham an là các đ ạo SI S h a m a n , người giữ m ôi quan hệ vớ i các thần lin h v à m a q u y th ô n g q u a những k ĩ năng xuất thần rất đặc biệt. V ào n ă m 1990, ơ H a n Q u ô c có khoảng 200.000 đạo s ĩ Sham an đ ăn g ký v iệc h à n h n g h ề củc mình với Bộ Văn hoá và T hông tin. H ầu h êt h ọ là n h ư n g n g ư ờ i thất học, không biết chữ và v iệc hành đạo của h ọ đư ợ c tô chưc rât lỏng lẻo, sơ sài do v ậ y rất khó ước lư ợ n g được s ố lư ợ n g nil ừ n g tín đồ của đạo này. Tuy nhiên s ố lư ợ ng nh ữ n g đạo s ĩ H àn Q u ôc là rất đáng kể.
N hững đạo s ĩ Sham an thường là n h ữ n g th ầy cú n g , n h ữ n g người chính thức và trực tiếp hành lễ. M ột đạo s ĩ Sham an p h ả i có ít nhât ba đặc điểm , đăc diêm nium h ọ n g n h at la h ọ đa tư n g trai
qua những h v c 'ụu n ặ n g nồ. Yuo thùơ thiếu thời, thanh n iê n h o ặ c o n h ơ n m ột chút, m ột ngư ờ i p h ụ n ữ lâm bệnh , m ộ t lo ạ i bệnh hiểm nghèo, đau đớn dẫn đến kiệt sức v ê thê xac v a tm h thần. Cô sẽ thường xuyên m ơ thấy các thần lin h h a y m a q u y, cô sẽ trải qua những ảo giác và những ảo tư ỏng, thậm chí su ô t n g a y . C ô có thể dùng thuốc 1 Thưng không có gì làm cho bệnh tật cua cô khá hơn. Vì thế, cô đến gặp đạo s ĩ Shaman, n g ư ờ i b iêt v ê S h am an b ện h tật. Đ ao s ĩ Shaman đó sẽ trở thành m ẹ già, n g ư ờ i đơ đ â u cua Shaman trẻ - tức cô gái bị ốm , cô gái sẽ trở thành đ ệ tư, n g ư ơ i g iu p
Tín ngưỡng và tòn qiảớ 117
việc cho Shaman già và được coi như người m ới tu. Shaman m ới đó coi vị thần mà đã xuât hiện trong giấc m ơ của cô khi bị ốm như một vị thần hộ mệnh. Shaman m ới này phải m ất ít nhất 5 năm đ ể tu luyện và học tât cả những k ĩ năng của m ột Shaman cho đến khi thuân thục, khi đó tự m ình cô có thể thực hiện những buổi lễ lớn.
Sau một buôi lễ vào nghề, cô được coi như m ột đạo s ĩ Shaman. Có rat nhiêu nhưng đạo s ĩ Shaman khác là bạn của m ẹ già, người đỡ đau cua cô được m ời dư buổi lễ vào nghề này.
Môi đạo s ĩ Shaman có m ột điện thờ, ở đó có những vị thần hộ mệnh và những công cụ hành nghề được cất giữ. Đ iện thờ đó tuỳ thuộc vào từng người hành nghề, và là của riêng, thuộc về từng cá nhân Shaman. Đ iện đó thường là m ột ngôi nhà nhỏ riêng biệt, biệt lạp với nơi ở. 0 5 là nơị thiêng và thường được bày nhiều hương hoa và các loại quả.
Công việc chính của m ột đạo s ĩ Shaman là hành lễ, m ỗi buổi lễ thường được tiến hành trong hai ngày. Một người Shaman không thê một mình, tự mình thực hiện cả m ột buổi lễ dài ngày như vậy.
Thường thì có thể có m ột nhóm vài Shaman cùng những nhạc công cử hành lễ. S ố thầy Shaman để cử hành m ột buổi lễ dài nh ư vậy thường là 4 hoặc 5 người, mặc dù từ 2 đến 3 người là có thể lập thành một nhóm. Sô" nhạc công thì phụ thuộc vào quy mô cũng như ngân khố của buổi lễ, nhưng thường till m ột buổi lễ íầ n ít nhât 5 nhạc cồng. N hững nhạc cụ thiết yếu ừ on g một buổi lễ là trồng hu yền thông của người Hàn, m ột loại trông to, đàn V iôlông chiêng và sáo. Trông huyền thống của người Hàn là loại nhạc cu quan trọng nhất cho các hoạt động hát và nhảy múa của Shaman.