1. Thế giới đang cần ngày càng nhiều hơn năng lượng
Dân số thế giới sẽ tăng từ con số hiện tại, khoảng 6,3 tỉ người lên tới 9 tỉ người vào năm 2050. Mức độ phồn thịnh trung bình toàn cầu sẽ ngày càng cao hơn. Càng nhiều người và mức sống càng cao hơn có nghĩa là sẽ không tránh khỏi sử dụng năng lượng nhiều hơn. Các nước đang phát triển hiện đang cần nhiều năng lượng hơn bao giờ hết để đáp ứng yêu cầu tăng cao mức sống. Theo một số kịch bản, thì vào năm 2050 mức tiêu thụ năng lượng toàn cầu sẽ tăng gấp đôi, nhưng điều này có thể còn cao hơn thế.
Hiện tại, tính trên toàn cầu, mức năng lượng đang sử dụng hàng ngày tương đương với khoảng 200 triệu thùng dầu mỏ (khoảng 10 tỷ tấn /năm). Trong số này, có khoảng 80% năng lượng có nguồn gốc là năng lượng hóa thạch (dầu mỏ, khí đốt, than đá). Năng lượng hạt nhân, thủy điện, năng lượng sinh học chiếm gần 20% còn lại. Trong đó, thực tế năng lượng tái tạo (thủy điện, gió và sinh học truyền thống như gỗ, chất thải nông nghiệp) chỉ chiếm 10%.
Tỷ lệ tăng sử dụng năng lượng trung bình hàng năm trên thế giới hiện nay là khoảng 1,5 - 2,0%. Điều này có nghĩa là khối lượng dầu mỏ khai thác phải tăng lên thêm hàng ngày là 1,5 triệu thùng. Ngành dầu mỏ toàn cầu sẽ phải hoạt động hết công suất, đồng thời phải luôn tìm kiếm
nhiên ở các khai trường (tổng mức thất thoát như vậy đôi khi lên tới 4 - 5%/ năm, tương ứng khối lượng dầu khai thác 3,5 triệu thùng/ ngày).
Trong 5 năm tới ngành dầu mỏ toàn cầu sẽ phải tăng thêm công suất tương ứng với mức khai thác 28,5 triệu thùng/ ngày (gấp 3 lần mức khai thác hiện tại của Ả rập Xê út).
Vào thời điểm hiện nay, ngành năng lượng thế giới đang đứng trước ba nhiệm vụ:
* Tăng sản lượng năng lượng hóa thạch và các loại năng lượng khác.
Vào năm 2050, nhu cầu năng lượng sẽ tương đương 400 thùng dầu/
ngày (một nửa số đó là năng lượng hóa thạch).
* Phải quan tâm phát triển đồng thời các nguồn năng lượng.
* Giảm thải tác hại gây ô nhiễm môi trường do khai thác và sử dụng năng lượng hóa thạch, đồng thời giảm tác nhân gây tăng hiệu ứng nhà kính để bảo vệ môi trường.
Trữ lượng dầu mỏ thế giới còn khoảng 1.200 tỷ thùng, khai thác với tốc độ hiện tại còn độ khoảng 30-35 năm nữa. Trữ lượng than đá còn khá lớn (tuy ngày càng khó khai thác) nhưng cũng còn khai thác được 250 năm nữa. Nguy cơ thế giới sẽ thiếu năng lượng đang trở thành sự thật hiển nhiên. Năng lượng hạt nhân, năng lượng tái tạo (thủy điện, sinh học) sẽ đóng vai trò ngày càng lớn. Năng lượng tái tạo nguồn gốc sinh học có một ý nghĩa nhất định nhưng chúng ta không thể đốt cháy giai đoạn. Cần phải có thời gian phát triển, thời gian đó có thể là 10 - 20 năm nữa.
2. Tính cấp thiết của phát triển năng lượng sinh học ở Việt Nam Phát triển ngành năng lượng sẽ là biện pháp hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhu cầu về năng lượng sẽ do tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa thương mại quyết định. Từ nay tới năm 2010, cung cấp năng lượng của Việt Nam sẽ cần phảI tăng nhanh hơn GDP là 30%. Mặc dù có những thay đổi lớn trong những năm gần đây nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước có mức sử dụng năng lượng thấp nhất châu Á. Năm 1996 tiêu thụ năng lượng hiện đại đầu người tương đương 144 kg quy ra dầu mỏ (bằng 1/7 Thái Lan) và tiêu thụ điện năng là khoảng 161 kWh thấp nhất trong các nước đang phát triển. Nếu tăng trưởng GDP hàng năm trung bình là 6% từ năm 2001 và 7,5% từ 2001 trở đi thì mức tiêu thụ năng lượng hiện tại phải tăng với tốc độ trung bình là 9%. Đến năm 2010 tổng nhu cầu về năng lượng hiện tại sẽ gấp 3 lần mức năm 1997. Nhu cầu điện tăng 4 lần, sản phẩm xăng dầu sẽ tăng 2,5 lần. Nhu cầu khí đốt tăng gần 10 lần và nhu cầu trong nước về than sẽ tăng gấp đôi.
Cho tới nay Việt Nam chưa sử dụng triệt để các nguồn tài nguyên năng lượng cơ bản của mình.
Ngành năng lượng Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức, chủ yếu là bốn thách thức trong quá trình chuyển sang công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Thứ nhất, để đạt được chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, từ nay tới năm 2010, cung cấp năng lượng của Việt Nam sẽ cần phải tăng nhanh hơn GDP là 30%, trong đó điện phải tăng nhanh hơn 70%. Để đạt được tốc độ tăng
trưởng đó, cung cấp năng lượng phải có hiệu quả - đến năm 2010 phải tiết kiệm được 2788 MW, tức là một nửa công suất lắp đặt hiện nay và điều này có thể thực hiện thông qua các chương trình giảm tổn thất và quản lý cầu. Năng lượng phải được phân bố đều hơn, hiện 80% dân số ở vùng nông thôn và mức tiêu thụ của họ chỉ chiếm 14% lượng điện được cung ứng.
Thứ hai, mặc dù Việt Nam còn giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng các nguồn tài chính vẫn là là hạn chế về trữ lượng, đòi hỏi phải lập kế hoạch sử dụng một cách thận trọng trong lĩnh vực năng lượng.
Thứ ba, Việt Nam phải đầu tư khoảng từ 5,3 - 5,5% GDP (gấp đôi mức các nước láng giềng Đông Nam Á khác) vào cơ sở hạ tầng thiết yếu cho năng lượng. Hơn nữa, mức và cơ cấu giá năng lượng phải được thay đổi để giải tỏa bớt những sức ép tài chính ngắn hạn và đảm bảo hiệu quả lâu dài trong các quyết định đầu tư và sử dụng tài nguyên.
Thứ tư, thu hút đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải tạo ra được môi trường kinh doanh thuận lợi, bao gồm cả khuôn khổ pháp lý có tính hỗ trợ.
Do nguồn tài chính hạn hẹp, chiến lược năng lượng của Việt Nam phải nhằm vào việc sản xuất, cung cấp và sử dụng năng lượng một cách hiệu quả.
Để giảm suy thoái môi trường, cần có chính sách khuyến khích chuyển từ nguồn năng lượng truyền thống sang nguồn năng lượng mới và tăng cường cung ứng những loại nhiên liệu sạch hơn. Sản xuất và sử dụng Biofuel đáp ứng được các tiêu chí về kinh tế và môi trường nên cần phải được phát triển.
3. Dự báo nhu cầu - đáp ứng năng lượng của Việt Nam đến năm 2010 và 2020
Việt Nam có triển vọng đạt mức tăng trưởng hàng năm từ 7 - 7,5% từ nay tới 2010 và khoảng 7,0% từ 2011 - 2020. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp có thể sẽ giảm dần từ 23% xuống 11% vào năm 2020, trong khi khu vực công nghiệp sẽ tăng từ 38,5% lên 44%.
Người ta dự tính rằng tới năm 2010 tổng mức tiêu thụ năng lượng tối đa của Việt Nam sẽ vào khoảng 28 - 32 triệu TOE (đương lượng dầu tính bằng tấn), trong đó than chiếm 18%, dầu khí 57% và điện 25%.
Mức tăng trưởng sử dụng năng lượng trung bình hàng năm của Việt Nam là vào khoảng 8,8% - 10,4%.
Vào năm 2020, tổng nhu cầu năng lượng kinh doanh của Việt Nam sẽ đạt mức 53 - 63,6 triệu TOE, trong đó 15%, 56% và 29% là dành cho than, dầu và khí, điện. Mức tăng trưởng trung bình hàng năm trong giai đoạn 2010 - 2020 sẽ lên tới 6,6% - 7,1%.
Trong tiêu thụ năng lượng chung, ngành công nghiệp vẫn còn chiếm thị phần lớn nhất, chiếm tỷ lệ từ 38% năm 2001 lên 42% và 47% tương ứng 2010 và 2020. Ngành vận tải sẽ tiêu thụ mức chiếm 35% vào 2010 và 33% vào năm 2020. Năng lượng dành cho sinh hoạt sẽ giảm dần từ 23% năm 2001 xuống mức dự tính 19,4% và 17,6% tương ứng 2010 và 2020.
Hiện nay Việt Nam có tỷ lệ độc lập về năng lượng là 120. Tỷ lệ đó có nghĩa là cán cân ngoại thương về năng lượng rất thuận lợi, kim ngạch
thể đạt được. ưu điểm này là nhờ dầu và khí ở các mỏ dầu khí ngoài khơi.
Nhưng ưu điểm đó sẽ không tồn tại được lâu vì ba lý do. Thứ nhất là trữ lượng những mỏ dầu khí của ta rất eo hẹp. Thứ hai là phát triển kinh tế sẽ quy định phát triển của nhu cầu năng lượng. Với đà phát triển kinh tế của nước ta nhanh hiện nay thì nhu cầu về năng lượng sẽ gia tăng rất mạnh. Thứ ba là nước ta đang cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển những ngành kỹ nghệ tiêu thụ nhiều năng lượng như là xi măng, thép,?
Người ta cho rằng tiêu thụ năng lượng của nước ta đang gia tăng với tỷ lệ mạnh hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Vì ba nguyên nhân đó, chỉ trong vài năm nữa chúng ta sẽ là một nước nhập siêu về nhiên liệu. Trung Quốc đã trở nên một quốc gia như vậy và Inđônêxia cũng đang đi vào con đường đó. Hiện nay Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã bắt đầu đi khảo sát mỏ ở một số nước khác (như là Angiêria).
Việt Nam có thể trở thành nước thiếu năng lượng kể từ năm 2015 trở về sau.