9. Cải tạo đất phèn
9.2 Bằng các biện pháp khác
9.2.1 Bằng biện pháp hoá học (bón vôi).
Lợi ích của việc bón vôi cho đất phèn rất rõ ràng:
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + H2O + CO2
Qua các đồ thị 21 thể hiện kết quả nghiên cứu của Maneewon et. al. và Charoenchamrat cheep etal.
(1982) trên đất phèn hoạt động tại Thái Lan cho thấy:
- Bón vôi có tác dụng thay đổi năng suất cây trồng. Tuy nhiên nếu bón nguyên vôi thì tác dụng không rõ rệt vì vậy rất cần bón thêm đạm và lân.
Như vậy về mặt lý luận cũng như thực tiễn, bón vôi có tác dụng cải tạo đất phèn, tuy nhiên cần phải tính toán lượng vôi bón đủ liều lượng cho từng loại đất và từng loại cây trồng . Ngoài ra thời điểm bón vôi cũng rất quan trọng và cũng cần phải bón kết hợp thêm đạm và đặc biệt là lân, vì trong đất phèn lượng đạm và lân dễ tiêu thường ít.
Hình 13: Mối quan hệ giữa năng xuất cây trồng và lượng vôi, phân bóncho đất phèn ở Thái lan(Maneewon et al. 1982)
- Wiliams (1980) nghiên cứu về đất tiềm tàng ở Brunei (ở đó không có mùa khô) thấy tác dụng rất lớn của vôi trong việc cải tạo đất. Năng suất cây trồng tương quan thuận với lượng vôi được bón.
9.2.2 Bằng biện pháp lên liếp
Kinh nghiệm lâu đời của nhân dân vùng phèn Nam Bộ là lên liếp để trồng cây hoặc gieo lúa. Ở những vùng đất phèn có chiều dày tầng đất từ mặt đến tầng Jarosite hoặc tầng pyrite quá mỏng, mỏng hơn nhiều so với độ sâu của tầng hoạt động của bộ rễ cây, hoặc ở những nơi có mực nước ngầm cao gần mặt đất, để cây trồng có thể sinh sống và phát triển bình thường, đất ít bị tái nhiễm phèn ta có thể lên liếp.
Đất lên liếp được rửa phèn rất nhanh, chúng ta có thể tham khảo kết quả nghiên cứu của trường ĐHNN Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả theo dõi ghi nhận ở bảng 26 :
So sánh sự biến động của các độc chất ở đất được lên liếp và không lên liếp, thấy rằng :
Al+3: ở đất lên liếp giảm nhanh hơn ở đất không lên liếp trong cả 2 tầng (-848 so với - 435 ppm ở tầng mặt và - 1010 so với -413 ppm ở tầng dưới). SO4-2: ở đất lên liếp ở tầng mặt giảm nhanh hơn ở đất không lên liếp (- 1300 so với -900 ppm).
Chiều cao lên liếp phụ thuộc vào loại đất, loại cây trồng, chiều sâu mực nước ngầm. Chiều rộng của liếp được tính toán dựa vào tán cây trồng dự định gieo trồng. Chiều rộng và chiều sâu phần lấy đất để lên liếp được tính toán phụ thuộc vào chiều dày tầng đất có thể lấy, chiều rộng của liếp, yêu cầu sử dụng phần rãnh sau khi lấy đất trong việc giao thông, nuôi trồng thuỷ sản.
9.2.3 Trồng cây
Việc trồng lúa tưới ngập và trồng một số loại cây phân xanh họ đậu (H0STylo, Aeschinono Americana) đều làm giảm các độc tố trong đất phèn. Ngoài ra cây trồng còn có tác dụng làm giảm nhiệt độ mặt đất, hạn chế sự bốc phèn từ dưới tầng sâu và mực nước ngầm lên tầng mặt.
Ngoài ra, còn có các biện pháp như: Bón phân hữu cơ, rửa phèn, cách làm đất để ruộng không bị xì phèn,...
KẾT LUẬN
Từ những tìm hiểu trên, ta có thể biết được nguồn gốc của đất phèn do đâu mà có, tính chất của đất phèn như thế nào, tác động tới môi trường ra sao và những biện pháp để sử dụng đất phèn hiệu quả. Nguồn gốc chủ yếu tạo nên đất phèn là ion Fe2+ và S trong tự nhiên, bên cạnh đó còn có một lượng độc chất SO42-,Al3+, … tiềm tàng trong đất với hàm lượng khá cao nhưng khả năng gây độc của chúng còn phụ thuộc vào điều kiện môi trường và nhiều yếu tố khác. Vì vậy cần đề ra những biện pháp cụ thể để ngăn ngừa khả năng gây độc của đất phèn cho các loài sinh vật và môi trường. Đối với những vùng đã bị phèn hoá ta cần lựa chọn giống cây trồng thích hợp cho năng suất cao đồng thời phải đi đôi với việc cải tạo đất phèn. Đối với những vùng đang có nguy cơ bị nhiễm phèn thì phải thường xuyên theo dõi, giám sát và ngăn chặn nguy cơ nhiễm phèn của chúng. Đối với những vùng canh tác thì phải có những biện pháp sử dụng hợp lí góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên đất nói riêng và môi trường sống nói chung. Ta phải có những biện pháp bảo vệ, kiểm soát việc sử dụng và khai thác đất một cách hợp lý.