CÁC BỘ PHẬN CHÍNH

Một phần của tài liệu Giáo trình Máy xây dựng (Trang 82 - 85)

Ly hợp hay côn có tác dụng tách và nối truyền động từ động cơ với hộp số.

Như vậy ly hợp phải làm việc tin cậy, mô men quán tính phải nhỏ. Khi đóng phải truyền được mô men từ động cơ qua hộp số, khi mở phải nhanh chóng tách khỏi truyền động. Ly hợp phải làm việc êm, không gây va đập khi gài số, đổi số. Tăng mô men từ từ khi khởi hành và khi quá tải đột ngột thì ly hợp có thể trượt. Vậy bề mặt trượt phải có khả năng thoát nhiệt tốt.

Hình 6-9. Sơ đồ cấu tạo của ly hợp ma sát a) Có một đĩa ma sát , b) Nhiều đĩa ma sát:

1- Bánh đà; 2- Đĩa ma sát bị động; 3- Lò xo ép, 4- Trục bị động;

5- Bàn đạp; 6- Đĩa ép chủ động; 7- Vỏ ly hợp, 8- Các đĩa bị động.

1 2

3 4

5

7 6 7 6 5

4 3

1 2 8

a) b)

Theo phương pháp truyền động có các loại:ly hợp ma sát (một hoặc nhiều đĩa bị động), ly hợp thuỷ lực (dạng biến tốc thuỷ lực), ly hợp điện từ. Theo phương pháp đóng mở có các loại: ly hợp thường đóng, ly hợp thường mở.

1. Cấu tạo và nguyên lý làm việc của ly hợp ma sát của ô tô và máy kéo bánh lốp:

Ly hợp ma sát loại thường đóng, loại một đĩa bị động (hình 6-9a) gồm có:

đĩa bị động 2 bằng thép, bên ngoài gắn vành đệm ma sát, moăy-ơ lồng vào rãnh then hoa trục 4. Đĩa bị động 2 luôn bị ép giữa đĩa ép 6 và bánh đà 1, do lò xo 3.

Khi tách ly hợp để cài số người lái xe phải tác dụng một lực lên bàn đạp 5, qua cơ cấu thanh nối và các tay đòn, đĩa ép 6 dịch chuyển về phía phải, ép lò xo 3, mở rộng khoảng cách giữa bánh đà và đĩa ép, làm cho đĩa bị động 2 tách khỏi bánh đà. Do đó, truyền động từ bánh đà hay động cơ sang trục 4 hay hộp số bị ngắt. Loại nhiều đĩa truyền được mô men lớn, đóng mở êm nhưng không dứt khoát, mô men quán tính lớn hơn loại một đĩa.

2. Cấu tạo và nguyên lý làm việc của ly hợp ma sát máy kéo bánh xích:

Đối với máy kéo bánh xích người ta sử dụng ly hợp ma sát thường mở như trên hình 6- 10. Các bề mặt ma sát chỉ áp sát vào nhau khi điều khiển để truyền mô men quay vòng.

Đĩa bị động 1 được gắn liên

6 9

7 8

5 4

3 1

2

a) b)

Hình 6-10. Các bộ phận chính của ly hợp máy kéo bánh xích

1- Đĩa bị động; 2- Đĩa chủ động; 3-Đĩa ép, 4- Cam ép, 5- Hệ tay đòn, 6- Chạc chữ thập, 7- Trục ly hợp, 8- Ống trượt mở ly hợp, 9- Tay đòn,

với moăy-ơ và lắp then hoa với trục. Đĩa chủ động 2 liên kết với bánh đà. Đĩa ép 3 di chuyển được dọc theo trục và quay cùng moăy-ơ . Khi kéo tay đòn 9 qua phải, cam 4 sẽ ép đĩa 3 và đĩa 1 vào đĩa chủ động 2. Lúc đó ly hợp ở trạng thái đóng (hình 6-10b). Khi đẩy tay đòn 9 qua phải thì ly hợp được mở ra (hình 6-10a).

6.3.2. Hộp số

Hộp số là một một tập hợp nhiều cặp bánh răng có tỷ số truyền khác nhau được lắp trên các trục theo một trật tự nhất định dùng để truyền chuyển động, thay đổi tốc độ, chiều chuyển động hay hay cắt truyền động và lực kéo của ôtô hoặc máy kéo. Như vậy nhờ có hộp số mà ô tô máy kéo có thể tiến, lùi, dừng hẳn trong khi động cơ đốt trong vẫn hoạt động và truyền mô men qua trục khuỷu và ly hợp.

Dựa vào cấu tạo và nguyên lý làm việc, có thể chia hộp số thành hai loại: hộp số vô cấp và hộp số có cấp.

1. Hộp số vô cấp

Hộp số vô cấp là hộp số không phân chia thành cấp có tốc độ khác nhau, hoặc hộp số liên tục. Loại hộp số này cho phép thay đổi tỷ số truyền một cách liên tục trong một khoảng xác định, làm cho ôtô hoặc máy kéo làm việc với những chỉ tiêu cao nhất trong những điều kiện làm việc khác nhau. Việc thay đổi tỷ số truyền có thể thực hiện tự động, tuỳ theo lực cản khi ôtô hay máy kéo chuyển động hoặc do người lái điều khiển (ví dụ: biến tốc ma sát hoặc biến tốc thuỷ lực,…).

2. Hộp số có cấp:

Hình 6.11- Bộ phận chia mô men xoắn: 1- Bánh răng chủ động, 2, 3- Bánh răng hành tinh, 4- Vành răng, 5- Bơm, 6- Bánh phản ứng, 7-Tuốc bin, 8-trục ra, 9 Vành răng trong

Hộp số có cấp phân chia thành nhiều cấp. ở hộp số này việc thay đổi tỷ số truyền không thực hiện được liên tục mà cách nhau từng cấp (ví dụ: truyền động tập hợp các cặp bánh răng trên hình 6-12).

Hộp số có cấp được dùng nhiều ở ôtô, đặc biệt là ôtô tải, hoặc máy kéo và thường là loại hộp số có ba trục (trục sơ cấp, trục trung gian và trục thứ cấp, kết hợp với nhiều cặp bánh răng ăn khớp khác nhau).

- Hộp số ba trục có số truyền thẳng:

Hộp số ba trục có số truyền thẳng (hình 6-12) gồm có: cần số 1, có đầu dưới đặt vào rãnh ở các con trượt hay trục gài số 2, các nĩa gài số 3,10, 11 có đầu trên có định với nĩa gài số 2 và đầu dưới đặt trong rãnh ở khối bánh răng di động (C, E, L), nắp hộp số 4, thân hay vỏ hộp số 5, trục sơ cấp 6, trục trung gian 7, trục thứ cấp 9, trục số lùi 8 và các bánh răng cố định hay di động trên trục:

A, B, C, D, E, H, I, K, L, M, A1 và C1. Khi ôtô hoặc máy kéo làm việc, hộp số này thực hiện được bốn số tiến một số lùi:

Bốn số tiến:

Số 1: đẩy cần 1 ra ngoài và sang trái, qua con trượt 2 và nĩa làm di chuyển khối bánh răng E và I, để bánh răng I ăn khớp với bánh răng K.

Số 2: kéo cần 1 từ vị trí ở số 1 sang phải làm di chuyển khối bánh răng E và I theo chiều ngược lại (hay sang trái), để bánh răng E ăn khớp với bánh răng H.

Số 3: đẩy hay kéo cần số 1 từ vị trí ở số 2 về vị trí ban đầu hay ở số

không (0) hoặc số “mo”, rồi đẩy sang trái, qua trục 2 và nĩa 3, làm di chuyển khối bánh răng C và C1 sang phải để bánh răng C ăn khớp với bánh răng D.

Hình 6-12 . Hộp số ba trục có số truyền thẳng:

1- Cần số; 2- Con trượt;

Một phần của tài liệu Giáo trình Máy xây dựng (Trang 82 - 85)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(284 trang)