KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

Một phần của tài liệu Thi Pháp Kết Cấu Ca Dao (Trang 44 - 53)

Dòng sông, con thuyền, cái cầu, bờ ao, cây đa, mái định.

ngôi chùa, mảnh vườn, cánh đồng, con đường, trong nhà,

ngoài sân, bên khung cửi, trong ngõ nhỏ,... là những không gian vật lí thường gặp trong ca dao. 6 đó, người bình lân (chủ yếu là những chàng trai làng và các cô thôn nữ) sinh

sống, làm lụng, tình tự và than thở:

+ Nước chảy xuôi, thuyền anh trôi ngược Anh chống không được, anh bỏ sào xuôi

Sào xuôi, thuyền cũng trôi xuôi Khúc sông bỏ uắng để người sầu riông...

+ Qua sông em đứng em chờ

Qua cầu em đứng ngẩn ngơ uì cầu.

+ Cô hia cắt cỏ bên sông

Có muốn ăn nhãn thì lông sang đây

300

Thoi gian va khong gian nghé thuật

Sang day anh nam cổ tay

Anh hỏi câu này: Có lấy anh chang?

+ Qua đình ghé nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.

+ Vào vudn tray qua cau xanh Bo ra lam tém mời anh xơi trầu...

+ Trên đồng cạn, dưới đông sâu Chong cay, vg cấy, con trâu đi bừa.

+ Gặp nhau giữa đường uắng thì chào Gặp nhau giữa chợ lao xao thì đừng.

+ Hôm qua anh đến chơi nhà

Thấy mẹ nằm uõng, thấy cha nằm giường...

+ Đêm hè gió mát trăng thanh

Em ngôi chẻ lạt cho anh chắp thừng...

Trong ca dao cũng có những cảnh "Hải Vân bát ngát nghìn trùng"? "non cao, cao mấy từng mây"?), cũng có khi người bình dân "ngó hoài ra tận biển Đông"®, thậm chí đã

"chèo thuyền giữa biển"?; đã có khi họ quan niệm:

(1) Dinh Gia Khanh (Chủ biên, 1983), Ca dao Việt Nam, Sảd, tr. 16.

(3) Bùi Văn Cường biên soạn (1987), Phương ngôn tục ngữ ca dao, Nxb Khoa học xã hội, H, tr. 173.

(3) Định Gia Khánh (Chủ biên, 1983), Ca dao Viét Nam, Sdd, tr. 85.

(4) Nguyễn Đổng Chi - Ninh Viết Giao sưu tập, biên soạn (1984), Ca dao

Nghệ Tĩnh, Sở Văn hoá Thông tin Nghệ Tĩnh xb, tr. 387.

301

Thi pháp ca dao

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng.

Và cũng đã có chàng trai vỗ ngực tự phụ:

Anh đây lên thác xuống ghênh

Thuyền nan đã trải, thuyên mành thử chơi

Đi cho khắp bốn phương trời

Cho trần biết mặt, cho đời biết tên.

Nhưng nhìn chung, trong kho tàng ca dao, dân ca của người Việt, không gian vật lí là những không gian bình đị của làng quê, có quy mô vừa phải.

Nếu như ở thơ trữ tình bác học, không gian tĩnh chiêm uu thế so với không gian động thì ở ca dao, tình hình có khác. Những lời ca dao được dẫn ở trên đã một phản chứng tổ điều đó. Ở đây, xin nêu thêm một số ví dụ:

+ Cầu Quan vui lém ai ơi

Trên thì chợ họp dưới bơi thuyền rồng.

(Cau Quan thuộc Thanh Hoá)

+ Sông Tô nước chảy trong ngần

Con thuyền buôm trắng chạy gần chạy xa

Thon thon hai mũi chèo hoa Lướt đi lướt lại như là bướm bay.

(Sông Tõ: sông Tô Lịch thuộc Hà Nội)

+ Rủ nhau bước xuống ruộng uàng Nơi rộn tiếng hát, nơi uang tiếng cười.

302

Thoi gian va khong gian nghé thuat

+ Em ôm bọ mạ xuống đồng Miệng ca tay cây mà lòng nhớ ai.

Bến cạnh không gian vật lí, trong ca đao còn có không gian xã hội. Ở đây có những mối quan hệ hết sức đa dạng giữa con người với con người:

+ Ba cô đội gạo lên chùa

Một có yếm thắm bỏ bùa cho su Sư uê sử ốm tưởng tư

Om lan ốm lúc cho sự trọc đầu.

+ Cậu cai buông áo em ra

Để em đi chợ hẻo mà chợ trưa...

+ Một đàn cò trắng bay tung Bên nam bên nữ ta cùng hát lên...

+ Đông Quan mở hội uui thay Thị uăn thị uõ lại bày cờ tiên

Sản đùnh nhạc múa đôi bên

Dưới sông chèo hát lại dùm bóng trâu

Bắt dê, bắt vit, leo edu...

(Đông Quan thuộc huyện Lí Nhân, Hà Nam)

+ Gặp nhau giữa chuyến đò đầy Một lòng đã hẹn, cầm tay mặn mà.

+ Gặp nhau khó hỏi, lỡ trông

Lôi đành chịu lỗi, chào không dám chào.

303

Thi phap ca dao

+ Em thương anh, thầy mẹ ngăm nghe Cậu, cô, chú, bác đòi đậu bè thả trôi...

+ Sáng trăng trải chiếu hai hàng Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ...

Không chỉ thể hiện không gian xã hội, người bình dâr còn bộc lộ quan niệm của họ về những mối quan hệ dó

Nếu như trong tục ngữ, người bình dân tâm niệm: "Ngưở ta-(la) hoa đất" thì ở ca dao, họ cũng đặt tình người lêr

trên sự giàu sang, phú quý:

+ Chẳng tham nhà ngói ba toà

Tham uì một nỗi mẹ cha hiển lành.

+ Kiếm nơi cha thảo mẹ hiền

Gửi thân khuya sớm, bạc tiền không ham.

+ — Một nhà 0ui uẻ êm đềm

Đối no tuỳ cảnh không luôn luy ai.

Tầm nhìn của họ đã có lúc vượt khỏi luỹ tre làng:

+ Đừng nài lương giáo khác dòng

Vốn đều con Lạc cháu Hồng khi xưa.

+ Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

+ Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước thì thương nhau cùng.

304

Thời gian tà không gian nghệ thuật

Trong văn học, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật có môi liên hệ chặt chẽ. Mỗi thời kì văn học,

mỗi động văn học, mỗi thể loại văn học,... đều thể hiện mối

liên hệ đó theo cách của mình. Chẳng hạn, trong các tác

phẩm bi kịch của văn học cổ đại Hi Lạp, thời gian đột biến (không có liên hệ với thời gian sinh hoạt và thời gian lịch an trừu tượng (không xác địa lí, xã hội). Còn ở kịch cổ điển Pháp (thế kỉ XVIID, hành động kịch chỉ được xẩy ra tại một địa điểm và chỉ được điễn ra trong vòng 24 tiếng. Trong ca dao cổ , chúng ta cũng nhận thấy mối liên hệ giữa các phạm trù đó. Chẳng hạn trong những lời ca dao đượm buon thì không gian vật lí, không gian xã hội thường đi liên với thời gian là lúc ban đêm:

sử) thường đi liền với không

định về

truyề

+ Đêm qua ra đứng bờ ao

Thông cá cá lặn, trông sao sao mờ...

+ Đêm qua nguyệt lặn vé tay

Sự tình hẻ đấy người đây còn dài...

+ Đêm nằm ở dưới bóng trăng

Thương cha nhớ mẹ không bằng nhớ em.

+ Do tit Dong Ba, dd qua Dap Da

Do vé Vi Da, thing nga ba Sinh

Lờ đờ bóng nga trăng chênh

Tiếng hò xa uọng, nặng tình nước non.

(Các địa danh thuộc Thừa Thiên - Huế)

305

Thi phap ca dao

Để thể hiện tâm trạng buồn, nếu miêu tả không zian và con người không phải vào lúc ban đêm thì tác giả dân

gian cũng sẽ không chọn các công thức sứng ngày, rạng ngày, trực hè trong thì liệu dân gian truyền thống mà sẽ

sử dụng công thức thời gian khác:

Chiêu chiêu trước bến Văn Lâu Ai ngôi ai câu

Ai sâu ai thảm Ai thương ai cảm - Ai nhớ ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

Bến Văn Lâu, con đò Đông Ba, dòng sông Tô lịch, phong cảnh Cầu Quan,... là những không gian có têr gọi cụ thể. Song trong ca dao, dân ca những trường hợp ahv

thế không có nhiều”. Điều quan trọng hơn, đúng ahu Hoàng Tiến Tựu đã nhận xét, những không gian này

"không có tính cá thể hoá trong sự miêu tả"; va trong

nhiều lời ca dao "có thể thay địa danh này bằng địa canh

khác mà nội dung vẫn phù hợp":

+ Đường uô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ.

Ai uô xứ Nghệ thì uô!

()_ Xin xem chương ba Ngôn ngữ.

306

Thời gian va không gian nghệ thuật

Va:

Đường uô xứ Huế quanh quanh...

+ Non Hong ai dap ma cao

Song Lam ai boi ai dao cho sau.

Và:

Nui Trudi ai dap ma cao

Sông Dinh dì bởi ai đào mà sâu,"

Không gian phiếm chỉ như vậy tương ứng với những 'on người chỉ mang tâm trạng chung, tình cảm phổ biến :ủa nhiều người trong dân chúng. Đó là những anh trai sày và những cô gái làng đang yêu, là chàng lái đò tỏ tình, Anh thợ mộc tài hoa, bác nông phu mơ một mùa màng bội thu, chàng nho sĩ bình dân khuyên vợ thuỷ chung, bà già thương cháu, cô dâu nhớ nhà,...

Tóm lại, thời gian nghệ thuật trong ca đao là thời gian

hiện tại, thời gian điễn xướng. Không ít trường hợp trong

đó thời gian được miêu tả có tính chất công thức, ước lệ;

thời gian khách quan, thời gian cá thể của “cái tôi” tác giả,

thời gian xã hội bị mờ nhạt. Đã xuất hiện cảm giác về sự thay đổi, vận động của dòng thời gian. Thời gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với không gian nghệ thuật.

Không gian trong ca dao chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị, phiếm chỉ với những nhân vật chưa

được cá thể hoá, mang tâm trạng, tình cảm chung của

nhiều người.

(1) Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, H, tr. 181-182.

307

Bìa cuốn Wam phong giải trào, Liễu Văn đường khác

in năm 1910. Kí hiệu AB 348 lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

308

Chương bảy

Một phần của tài liệu Thi Pháp Kết Cấu Ca Dao (Trang 44 - 53)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(192 trang)