Trong cuốn sách nổi tiếng Thi pháp uăn học Nga cổ, Li-
khia chốp đã viết về thời gian diễn xướng của thơ ca dân
giar, Tác giả cho rằng, trong thơ ca dân gian, tác giả với
tu cach là một cá thể, là “cái tôi” trữ tình không được biểu
lộ ra. Đây chính là tính chất độc đáo của việc thơ ca dân gian thể hiện thời gian. Trong thơ ca dân gian, không chỉ có việc sáng tạo, sáng tác văn bản tác phẩm mà còn có cả khâa diễn xướng tác phẩm. Người diễn xướng có vai trò rất quan trọng. Ai hát, hát trong hoàn cảnh nào là những điểu rất đáng chú ý. Do sự vắng mặt của tác giả với tư
(Œ)- Trong khi trình bày các khái niệm thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật, chúng tôi tiếp thu và sử dụng nhiều ý kiến của Trần Đình Sử wà Lê Ngọc Trà (xin xem Tai liệu tham khảo ìn ở cuối sách).
289
Thi phap ca dao
cách là người đầu tiên sáng tạo nên văn bản lời ca, ở đảy không có khoảng cách giữa thời gian của tác giả và thời gian của người đọc, người thưởng thức như ở trong văn học viết, trong thơ bác học. Trong thơ ca dân gian, thời gian của tác giả và thời gian của "người đọc" (người thưởng
thức) hoà lẫn với thời gian của người diễn xướng. Thời gian ở đây là thời gian hiện tại.
Những nhận xét trên của Li-kha-chốp có giá trị phổ
quát, không chỉ đúng với thơ ca dân gian Nga, mà còn đúng với ca dao, dân ca người Việt, đặc biệt là với ca dao về tình yêu, hôn nhân và gia đình."
Thời gian trong ca đao là thời gian hiện tại. Dấu hiệu
này trong một số trường hợp được bộc lộ trực tiếp bằng các từ bây giờ, hôm nay:
+ Nòo khi gánh nặng em chờ
Qua truông em đợi, bây giờ phụ em.
(1) Đ.X.Li-kha-chốp (1979), Thí pháp oăn học Nga cổ, xuất bản lần thứ ba, Nxb Khoa hoc, Mat-xcd-va, tr. 219-224 (chit Nga).
(3) Trong bài Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu, Tạp chỉ Văn học, số 6 năm 1990, tr. ử4, Trần Thị An đó thống kờ qua cuốn Cœ
về hôn nhân và gia đình, số lời có yếu tố thời gian: 17%; ở mảng ca dao thợ mỏ thời Pháp thuộc...: 92%; ở mảng ca dao dân chài...; 1 ở mả ca dao nói về đất nước: 10%; ở mảng ca dao nói về nông nghiệp:
'Theo chúng tôi, xét về số lượng, trong kho tàng ca dao người Việt, ca đao nói về tình yêu, hôn nhãn và gia đình chiếm đại bộ phận.
290
Thời gian oà không gian nghệ thuật
Nào khi anh bung anh beo
Tay cắt chén thuốc, tay đèo múi chanh Báy giờ anh khỏi, anh lành
Anh mê nhan sắc, anh tình phụ tôi
Thà tôi xuống giếng cho rồi!
Bây giờ anh bắt gặp nàng
Hỏi sao lá ngọc cành uàng xa nhau Xa nhau ta mới xa nhau
Khi xưa ta uẫn ăn trầu một cơi.
Bây giờ em mới hỏi anh
Trầu uàng nhá uới cau xanh thế nào?
~ Cau xanh nhá uới trầu uùng
Tình anh sánh uới duyên nàng đẹp đôi.
Bây giờ ta gặp nhau đây
Như con cá cạn gặp ngày trời mưa.
Hôm nay mười bốn mai rằm
Chín tháng cũng đợi, mười năm cũng chờ Trăm năm quyết đợi quyết chờ
Dấu mè tóc bạc như tơ cũng đành.
Hôm nay gặp buổi êm trời
Má đào lại được sánh người trượng phu.
Hôm nay ở đất nhà người
Kém ăn la mot, kém cười là hai
291
Thi pháp ca dao
Mai uê ở uới nhà tôi
Dù che ngựa cỡi, rong chơi cả ngày.
+ Hôm nay sum họp trúc mai
Tinh chung một khắc, nghĩa dài trăm năm.
+ Hôm nay tùn chốn nhân duyên
Khác gì chèo ngược con thuyền nước sa.
6 những trường hợp khác, các từ láy chỉ thời gian được
sử dụng và có tác dụng diễn tả quá trình của sự việc (hoặc
hiện tượng) kéo đài từ một quá khứ gần đến hiện tại:
+ Chiều chiêu ra đứng bờ ao
Nước khía khong khát, khát khao duyên chùng.
+ Chiêu chiều ra ngõ đứng trông
Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người.
+ Chiêu chiều ra đứng ngõ sau
Ngó uề quê mẹ, ruột đau chín chiều.
+ Đêm đêm chớp bể mưa nguồn
Hỏi người quân tử có buôn hay không?
+ Đêm đêm 0uuốt bụng thở dài
Thỏ ngắn bằng chạch, thở dài bang luton.
+ Ngày ngày ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ 292
Thoi gian va không gian nghệ thuật Trông người, người uấn làm ngơ
Trông sao, sao mờ, em biết trông ai!
+ Ngày ngày ra đứng cổng làng
Bang khuâng như mất nhẫn 0uàng trên tay
Những từ hôm qua, đêm qua cho thấy thời gian xây ra sự việc, hành động được miêu tả không phải là quá khứ xa xói, mà là thời gian sát gần với hiện tại:
+ Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm uõng, thấy cha nằm giường
+ Đêm qua dồn dập mưa mau
Gió rung cành ngọc cho đau lá uàng Trách chàng phụ ngãi tham uàng
Ngô đồng nỡ để phượng hoàng ngẩn ngơ Biết nhau từ bấy đến giờ
Đã cho bướm đậu thì chừa sâu ra.
Trên đây là những lời có từ chỉ thời gian. Trong ca dao, còn nhiều lời không có từ chỉ thời gian. Trong những trường hợp này, người bình dân hát (hoặc ngâm, đọc) vào lúc nào (sáng, trưa, chiều, tối,...) thì lúc đó chính là thời gian bộc lộ tâm trạng của người diễn xướng. Chính vì vậy, Li-kha-chốp đã gọi thời gian nghệ thuật trong thơ ca dân gian là thời gian diễn xướng:
293
Thi phap ca dao
+ Nuôi con mới biết sự tình
Thảm thương cha mẹ nuôi mừnh khỉ xưa, + Ngó lên nuộc lạt mái nhà
Bao nhiêu nuộc lạt thương bà bấy nhiêu.
+ Nước ròng chảy đến Tum Giang Sầu đâu chín rụng sao chàng biệt tin?
(Sdu dau: cây xoan)
+ Nước sông Tô uừa trong uừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.
(Sông Tỏ: sông Tô Lịch thuộc Hà Ni)
+ Hai má nàng trắng phau phau
Răng đen nhưng nhức như màu hạt dưa
Hỏi nàng đã có chồng chưa Hay nàng chưa có thì uừa đôi ta.
Như vậy, dù có hay không có từ chỉ thời gian, thời gian
nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian điễn xướng. Trong khi đó, thời gian trong truyện cổ tíca là thời gian quá khứ phiếm định (“ngày xửa ngày xưa", "đã
lâu lắm rổi",...); thời gian trong truyền thuyết là thời gian
294
Thoi gian va không gian nghệ thuật
qua khứ xác định (vào thời An Dương Vương", "vào thời Hai Bà Trưng", "vào thời nha Lé",...)."”