TRẮC NGHIỆM TÂM LÝ

Một phần của tài liệu Tài liệu Tâm lý trị liệu (Trang 110 - 143)

TIẾN TRÌNH TÂM LÝ TRỊ LIỆU

CHƯƠNG 7 TRẮC NGHIỆM TÂM LÝ

Kể từ mấy ngàn năm trước trong các nền văn minh cổ đại của Hy Lạp và Trung hoa, nhân loại đã từng áp dụng trắc nghiệm tâm lý. Trong thời ấy những cá nhân muốn được tiến cử vào các hàng quan lại thường phải trải qua một cuộc thi viết, qua đó cá nhân được nhận xét và đánh giá về trình độ văn hoá, nhận thức, năng khiếu, v, v…Tuy nhiên, mãi cho đến đầu thế kỷ 20 các dụng cụ trắc nghiệm tâm lý mới bắt đầu được phát triển và phổ

biến rộng rãi, dựa trên những tiêu chuẩn đã được thống kê và các phương thức có tính khoa học để có thể ước tính, đo lường các khía cạnh của cảm xúc, hành vi và chức năng trí tuệ của cá nhân. Nói cụ thể hơn, ngày hôm nay các dụng cụ trắc nghiệm tâm lý thường dùng các hình thức thang điểm và những con số tượng trưng để đo lường và đánh giá cá

nhân qua các mặt như, trình độ học vấn, cá tính, năng khiếu, động cơ, trí thông minh, trí

nhớ, cảm xúc, tập quán, triệu chứng, v, v… Hiện nay đã có cả ngàn loại dụng cụ trắc nghiệm tâm lý khác nhau được các chuyên gia giới thiệu để sử dụng cho nhiều lãnh vực nghề nghiệp khác nhau.

Đặc biệt trong ngành trị liệu tâm lý tâm thần, trắc nghiệm tâm lý là những công cụ rất thông dụng, luôn cần có để góp phần vào việc tìm hiểu, đánh giá, xác định các vấn đề cuả

thân chủ trong tiến trình thăm khám và chữa trị. Chẳng hạn, nhà trị liệu sử dụng bảng trắc nghiệm BDI (Beck Depression Inventories) như là công cụ để hỗ trợ thêm cho những nhận xét và đánh giá của mình về mức độ triệu chứng trầm cảm của một thân chủ.

1. Hình thức đo lường trong trắc nghiệm tâm lý

Đo lường trong trắc nghiệm tâm lý có nghĩa là áp dụng những phương pháp tính toán có hệ thống để tìm thấy “một con số” làm biểu tượng cho “một sự kiện” đang diễn ra.

Nói cách khác, sự kiện đó được xem như là một biến số (variable), nghĩa là nó mang bản chất vừa phụ thuộc và vừa biến chuyển. Trong tâm lý học lâm sàng, các biến số cần tìm hiểu thường là: hành vi, ý tưởng, cá tính, cảm nhận, triệu chứng, v, v… của người bệnh.

Ví dụ, cơn đau có dãy biến số từ nhẹ đến nặng được biểu thị trên một thang điểm bắt đầu từ số 1 đến 10, và người bệnh có cơn đau đang ở mức số 7.

Có 4 hình thức đo lường thường sử dụng trong trắc nghiệm tâm lý lâm sàng; đó là đo lường theo sự chỉ danh (nominal), đo lường theo số thứ tự (ordinal), đo lường theo

khoảng tạm ngừng, hay khoảng ngơi nghỉ (interval), và đo lường theo ty số, hay ty lệ

(ratio).

- Cách đo theo sự chỉ danh có lợi điểm là nó cho thấy tính cách riêng biệt và độc lập của mỗi con số tìm thấy, nghĩa là nó phân rõ sự khác biệt giữa cái này với cái kia. Chẳng hạn, ta trắc nghiệm sự khác biệt về mặt tình dục giữa hai phái nam và nữ, điều này có

nghĩa là ta lấy hành vi tình dục làm một biến số chỉ danh.

- Cách đo theo số thứ tự cũng cho thấy tính cách riêng biệt và độc lập của mỗi biến số, nhưng nói đến thứ tự có nghĩa là nói đến những con số được sắp xếp chặt chẽ theo thứ

bậc. Cách đo lường theo thứ bậc giúp ta so sánh sự khác biệt tương đối giữa các con số

được tìm thấy. Chẳng hạn, ta có thể so sánh sự khác biệt giữa triệu chứng thất vọng ở

mức 1 và triệu chứng thất vọng ở mức 5.

- Cách đo theo khoảng tạm ngừng, hay gọi là khoảng ngơi nghỉ, lại có được cả hai đặc điểm là các biến số phụ thuộc đều vừa có tính cách biệt lập và vừa có thứ tự, nhưng khác với cách đo theo thứ tự là nó luôn có sự cân đối giữa các con số trong dãy biến số.

Nói rõ hơn, tính cân đối giữa các con số trên dãy biến số có nghĩa là khoảng cách của những khoảng tạm ngừng luôn luôn bằng nhau. Ví dụ, trên một dãy biến số của những khoảng tạm ngừng rãi ra từ 1 đến 10, khoảng cách, hay là sự khác biệt giữa, 4 và 5 cũng bằng với khoảng cách, hay là sự khác biệt giữa 7 và 8.

Cần lưu ý: Đặc điểm thứ nhất của cách đo lường theo khoảng tạm ngừng là nó không thể có con số O (zero) tuyệt đối trên đồ biểu, Thứ hai, dù khoảng cách giữa các biến số có

sự cân đối, nhưng không có nghĩa là ta có thể đem nhân, chia, cộng, trừ các điểm số đó

với nhau để đoan quyết được tính chất khác biệt giữa các biến số đó. Ví dụ, dãy biến số

đều đặn của những khoảng tạm dừng trên dụng cụ hàn thử biểu không có nghĩa là ở mức nóng 100 độ C thật sự chỉ là gấp đôi mức nóng của 50 độ C, hoặc là mức nóng ở 50 độ C chỉ là gấp đôi sức nóng ở 25 độ C.

- Cách đo theo tỷ số, hay tỷ lệ, lại có tất cả các đặc điểm của ba cách đo lường đã nêu trên, nghĩa là các biến số luôn có tính biệt lập, thứ tự, cân đối và có con số O tuyệt đối trên thang đo. Ví dụ, thí sinh A được xếp vào loại thí sinh có tỷ lệ 97% trong kết quả

cuộc thi tuyển toán học vừa qua (có nghĩa là A được liệt vào thành phần của 3% thí sinh giỏi). Nhờ có con số O trên thang đo mà việc áp dụng các phương thức đo lường theo toán học thống kê cho các biến số thường được dễ dàng. Tuy nhiên, trong phạm vi tâm lý

học lâm sàng thực tế lại cho thấy các dụng cụ trắc nghiệm tâm lý dựa theo cách đo lường theo cách lấy tỷ số ít khi được các chuyên viên thiết lập.

2. Nguyên tắc thiết kế và thống kê trong trắc nghiệm tâm lý

Đây là nội dung kiến thức của các môn học về thống kê (statistics) và môn nghiên cứu phát họa và thiết lập dụng cụ trắc nghiệm (research design and test construction). Muốn thiết kế và xây dựng một dụng cụ trắc nghiệm tâm lý, người chuyên viên cần phải học qua các khoá học này. Nhưng để có mục đích làm quen với một số ý niệm liên quan đến các cách đo lường và đánh giá các công cụ trắc nghiệm, khuôn khổ chương sách này chỉ nêu lên vài điểm khái quát sau đây:

Trước tiên, một dụng cụ trắc nghiệm tâm lý được xem là có hiệu lực và hữu ích thì cần phải có đủ hai yếu tố căn bản: độ tin cậy (reliability) và độ giá trị (validity).

2.1. Độ tin cậy

Độ tin cậy được hiểu như là tính cách chặt chẽ trước sau như một trong việc đo lường. Ba đặc tính cần có của độ tin cậy là: -các tiết mục trong dụng cụ đo lường phải phù hợp và thích ứng với nhau về mặt tính chất và nội dung; -các biến số ghi nhận được qua trắc nghiệm phải được ổn định và bền vững, nghĩa là không bị thay đổi, chênh lệch đột ngột; -các dụng cụ được sử dụng cho một loại trắc nghiệm dù có khác nhau về các hình thức sắp xếp đi nữa cũng vẫn phải luôn mang tính chất tương quan và cân đối với nhau.

Nói cụ thể hơn, các phương pháp dùng để đo lường độ tin cậy cho một công cụ

trắc nghiệm phải bao gồm: tính nhất quán nội tại (internal consistency), độ tin cậy qua trắc nghiệm/tái trắc nghiệm (test-retest reliability) và độ tin cậy giữa các mẫu trắc nghiệm song phương (parallel-form reliability).

2.1.1. Tính nhất quán nội tại

Trong môn toán thống kê, phương thức nghiên cứu gọi là “Cronbach‘s coefficient alpha” được sử dụng để tìm thấy tính nhất quán nội tại, nghĩa là tính chất tương quan chặt chẽ giữa các tiết mục trong bảng trắc nghiệm. Phương thức thống kê này được áp dụng để tìm ra số lượng phối hợp giữa các biến số với nhau. Khi một dụng cụ trắc nghiệm có

số coefficient alpha (số alpha tương quan) ở mức từ (.80) trở lên có nghĩa là nó có tính nhất quán nội tại, tức là dụng cụ trắc nghiệm đó được đánh giá là có độ tin cậy.

Trong thống kê học cũng có những phương pháp khác để đánh giá tính nhất quán nội tại. Chẳng hạn, một phương pháp khác gọi là “Kuder-Richardson formula 20” thường

dùng để đánh giá tính đối kháng (khác biệt) giữa các câu hỏi thuộc loại đúng/sai, hay bắt buộc/tùy chọn. Ngoài ra, một phương pháp khác nữa gọi là “Split-half reliability” cũng thường được sử dụng để đánh giá tính nhất quán nội tại của dụng cụ trắc nghiệm, nhưng nó đánh giá tính nhất quán của dụng cụ trắc nghiệm qua cách thức tìm thấy mối tương quan giữa nửa phần đầu và nửa phần cuối của một dụng cụ trắc nghiệm.

2.1.2. Độ tin cậy qua trắc nghiệm/tái trắc nghiệm

Cũng có thể đánh giá độ tin cậy của một dụng cụ trắc nghiệm bằng cách đo lường tính tương quan trước sau như một của các kết quả điểm số ghi nhận được sau những lần trắc nghiệm khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Độ tương quan từ (.80) trở lên có

nghĩa là dụng cụ trắc nghiệm luôn cho những kết quả điểm ổn định và bền vững qua thời gian, và như thế là dụng cụ đó có độ tin cậy.

2.1.3. Mẫu trắc nghiệm song phương

Một cách khác nữa để đánh giá độ tin cậy của một dụng cụ trắc nghiệm là sử dụng hai mẫu khác nhau nhưng có cùng một nội dung trắc nghiệm để đo lường xem kết quả

điểm của hai mẫu có độ tương quan cao hay không. Nếu độ tương quan từ (.80) trở lên có

nghĩa là dụng cụ có độ tin cậy cao.

2.2. Độ giá trị:

Độ giá trị của một dụng cụ trắc nghiệm có nghĩa là dụng cụ đó có thật sự đo đúng cái nó muốn đo hay không. Có ba phương pháp để đánh giá độ giá trị của một dụng cụ

trắc nghiệm: -giá trị nội dung (content validity); - giá trị tiêu chuẩn (criterion validity);

-giá trị thiết lập (construct validity).

2.2.1 Giá trị nội dung

Giá trị nội dung là phương pháp thống kê dùng để đánh giá tính chất cốt lõi của tất cả các tiết mục trong dụng cụ đó có đi vào trọng tâm của cái gì đang muốn đo lường không. Có hai loại giá trị nội dung: Giá trị nội dung bề mặt (face content validity) và giá

trị nội dung luận lý (logical content validity). Giá trị nội dung bề mặt là kiểm tra xem ý

nghĩa ở những tiết mục có rõ ràng phản ảnh trung thực nội dung muốn đạt tới của dụng cụ trắc nghiệm không. Trong khi đó, giá trị nội dung lý luận thì phải do chính người thiết lập dụng cụ trắc nghiệm đó trình bày các phương pháp đã được áp dụng như thế nào để

chứng minh toàn bộ giá trị nội dung của dụng cụ đó.

2.2.2 Giá trị tiêu chuẩn

Giá trị tiêu chuẩn còn gọi là giá trị thực nghiệm (empirical validity) hay giá trị tiên đoán (predictive validity). Giá trị tiêu chuẩn là một phương thức thống kê dùng để

đánh giá, xem thử có hay không mối tương quan chặt chẽ và có ý nghĩa giữa các biến số

trong các tiết mục của dụng cụ trắc nghiệm. Ngoài ra, phương thức thống kê này còn dùng để tiên đoán những gì có thể xảy ra, một vấn đề, sự kiện, hay biến cố nào đó, trong tương lai hay không.

2.2.3 Giá trị thiết lập

Giá trị thiết lập là phương thức đánh giá để xem xét dụng cụ trắc nghiệm có được thiết lập đúng với nội dung lý thuyết đặt ra ngay từ đầu không. Giá trị thiết lập có hai loại: giá trị đồng qui (convergent validity) và giá trị phân biệt (discriminant validity).

Giá trị đồng qui là cách đánh giá tính cách phù hợp giữa hai vấn đề hay hai sự kiện. Ví dụ

“cảm giác cô đơn” về mặt lý thuyết có tương quan gì với các biến số như “số lượng thời gian đương sự chỉ thích riêng tư một mình” hay là “cảm giác xa lạ, không muốn thân thiện với ai”.

Giá trị phân biệt là cách đánh giá ngược lại, nghĩa là xem các biến số nào nếu không có sự tương quan, nghĩa là đối ngược với nhau, thì các kết quả điểm của dụng cụ

trắc nghiệm sẽ phải khác nhau chứ không thể có sự giống nhau hay phối hợp với nhau được.

Tóm lại, làm sao có thê đo lường cụ thê những suy nghĩ, cảm nhận, thái độ, cá

tính của một người? Nói khác đi, làm sao biến những vấn đề thuộc về định tính hay phẩm chất (suy nghĩ, cảm nhận…) trở thành những con số có thể đo đạt được là vấn đề ưu tư trọng tâm của các chuyên viên trong việc thiết dựng các dụng cụ trắc nghiệm.

Ngày hôm nay dù đã có hằng ngàn dụng cụ trắc nghiệm tâm lý ra đời được thiết dựng theo các nguyên tắc toán học và thống kê, nhưng thực tế là vẫn chưa có một dụng cụ trắc nghiệm tâm lý nào được cho là có độ giá trị và độ uy tín hoàn hảo. Dù vậy, những dụng cụ trắc nghiệm tâm lý vẫn rất cần thiết trong tâm lý lâm sàng, vì nếu thiếu những dụng cụ này sẽ có những trường hợp khó khăn khi cần tìm thêm các chi tiết thông tin thuộc loại định tính về thân chủ. Vấn đề là làm sao biết chọn lựa dụng cụ nào thích hợp để sử dụng.

Một dụng cụ trắc nghiệm tâm lý thích hợp trước tiên nó phải từng được sử dụng và được đánh giá tương đối có độ tin cậy và độ uy tín cao. Tiếp đến là các tiết mục hàm chứa trong dụng cụ phải có nội dung phù hợp, có tính tương quan chặt chẽ và thích ứng với vấn đề đang tìm kiếm. Ngoài ra, các kết quả điểm phải bền vững, nghĩa là phải ổn định không có sự chênh lệch đột ngột và quá đáng giữa các lần thực hiện trắc nghiệm.

3. Phương pháp đo lường trong trắc nghiệm tâm lý:

Có các kiểu cách đo lường khác nhau trong ngành tâm lý lâm sàng: quan sát hành vi (behavioral observations), thang tự lượng giá (self-anchored scales), thang điêm (rating scales), sổ tay thân chủ (client logs), đo lường kín (unobstrusive measures), đo lường bằng ky thuật điện kế (electro-mechanical measures), đo lường bằng dụng cụ tiêu chuẩn (standardized measures), v, v…

3.1. Quan sát hành vi

Quan sát hành vi là phương pháp phổ thông nhất để đo lường và đánh giá hành vi của thân chủ. Nhưng quan sát hành vi không có nghĩa là chỉ quan sát những gì thấy được trước mắt. Hành vi của cá nhân bao gồm những gì thấy được (đỏ mặt, tươi cười…) và cả

những gì không thấy được (suy nghĩ, cảm nhận…). Vấn đề là làm sao biến các hành vi quan sát được cũng như không quan sát được thành ra những con số cụ thể. Chẳng hạn, nhà trị liệu ghi nhận cứ khoảng 2 phút là bắp thịt ở mặt người thân chủ bị giật một lần, hoặc được thân chủ cho biết rằng trong một ngày anh/cô ta đã có khoảng 5 lần nghe có

tiếng người nói trong óc xúi dục phải giết người hàng xóm.

Một hành vi thường được đo lường theo 3 cách: tần suất, thời ky, và khoảng tạm ngừng. Đo lường tần suất đơn giản chỉ là đếm hành vi đó xảy ra bao nhiêu lần trong một khoảng thời gian. Chẳng hạn, một thân chủ nghiện thuốc lá cho biết anh hút mỗi ngày 20 điếu thuốc. Đo lường thời kỳ là đo lường khoảng thời gian kéo dài, từ lúc bắt đầu cho đến khi chấm dứt của một hành vi. Chẳng hạn, mỗi lần thân chủ khóc thì khóc trong bao lâu, hay mỗi lần học bài thì ngồi học với sự tập trung được bao lâu. Đo lường khoảng cách tạm ngừng tức là quan sát những khoảng cách giữa các thời kỳ ngơi nghỉ của một hành vi xảy ra như thế nào, đều đặn hay bất thường, nhanh hay chậm, thưa thớt hay dày đặc.

Chẳng hạn, thân chủ lên cơn động kinh mỗi tháng một lần, hay có khi cả ba tháng mới xảy ra một lần.

3.2. Thang tự lượng giá

Một phần của tài liệu Tài liệu Tâm lý trị liệu (Trang 110 - 143)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(416 trang)
w