Quan điểm xã hội

Một phần của tài liệu Tài liệu Tâm lý trị liệu (Trang 162 - 166)

CÁC QUAN ĐIỂM VỀ TÂM BỆNH

4. Quan điểm xã hội

So với các loài vật khác, con người là loại sinh vật độc đáo nhờ có trí tuệ, tư tưởng, niềm tin, tính sáng tạo, tình cảm, và đặc biệt là khuynh hướng lệ thuộc vào nhau trong cuộc sống, có khả năng qui tụ thành một tập thể sinh hoạt để cùng nhau tồn tại và phát triển. Nói cách khác, thuộc tính xã hội là cái yếu tố tâm lý sẵn có tự trong bản chất của mỗi con người. Nó là nguyên nhân trọng tâm, là yếu tố tâm lý cốt lõi thúc đẩy mọi con người cùng nhau kiến tạo nên một cuộc sống chung, một nền văn hóa và văn minh độc đáo mà không có loài vật nào có thể có được. Nói cách khác, không ai sinh ra mà có thể

tự lớn lên và phát triển cho mình một đời sống biệt lập, không cần đến quá trình nuôi dưỡng, uốn nắn, tập tành, học hỏi từ trong các môi trường, trong các khuôn mẫu quan hệ

có tính tập thể, đầu tiên là gia đình và sau đó là các định chế cộng đồng xã hội bên ngoài.

Không có gia đình và xã hội thì cá nhân sẽ không có tiếng nói, không phát triển được trí

tuệ, tư tưởng, ngôn ngữ, niềm tin, nghệ thuật, phong tục, tập quán, những qui ước, các chuẩn mực giá trị chung, các nền văn hóa và văn minh...

Với nhận định như vậy, các chuyên gia thuộc trường phái xã hội và văn hóa cho rằng bản thân mỗi người đều là con người của xã hội. Nói khác đi, sự sống của mỗi người, từ

hành vi đến nhân cách đều luôn luôn phải chịu ảnh hưởng và sự tác động to lớn của môi trường xã hội và nền văn hóa mà người ấy đang sống trong đó. Quan điểm này đã từng được các nhà xã hội học, khảo cổ học, nhân chủng và dân tộc học nêu ra từ nhiều thế kỷ trước đây.

Các chuyên gia này thường có lập trường lý luận về con người và thế giới khác với quan điểm sinh học và quan điểm tâm sinh. Quan điểm xã hội/văn hóa cho rằng có rất nhiều vấn đề nổi bật lên trong đời sống tập thể xã hội mà đứng trên lập trường của quan điểm sinh học và tâm sinh thì không thể nào giải thích thỏa đáng được; chẳng hạn vấn đề tự tư. Các quan điểm định hướng vào những yếu tố thể chất hay tâm lý cá nhân cho rằng tự tử là vấn đề có liên quan đến tâm thần tâm lý, như bị trầm cảm, rối loạn chức năng hành xử cơ thể, rối loạn tâm trí, bị đau buồn vì mất mát người thân hay tài sản, v, v...Thế

nhưng quan điểm xã hội/văn hóa lại có câu hỏi rằng làm sao giải thích được khi bằng chứng từ các thống kê, ở hầu hết các quốc gia, cho thấy cụ thể là số lượng tự tử của những người theo đạo Tin Lành thường cao hơn người theo Do Thái giáo, hoặc con số tự

tử của nhóm người có trình độ học thức rộng tại các nước phát triển ở phương Tây và

những người sống độc thân nói chung lại thường cao hơn những người có trình độ học vấn thấp và những cá nhân có gia đình? Tại sao trong các cộng đồng xã hội lại có nhóm người này khác với nhóm người khác về một số những tính cách bất thường, chệch hướng, hay bệnh lý trong các cách ứng xử và hành động như thế? (11).

Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858-1917) cho rằng những hành vi của cá

thê thường không phải được quyết định bởi những gì thuộc về sự thúc đẩy của các lực tâm lý hay sinh lý có tính cách cá thê, mà thực tế chúng thường được định đoạt bởi sự áp đặt mạnh mẽ không cưỡng lại được, của những khuôn mẫu tương tác, những định chế

rộng lớn, những sức ép thuộc về môi trường xã hội và văn hóa. Đại diện cho những khuôn mẫu tương tác và định chế này là gia đình, hội hè, phe nhóm, tổ chức, nghề

nghiệp, lòng tin, ý thức hệ, đẳng cấp xã hội... Ít có cá nhân nào đang sống trong đời sống tập thể mà có thể thoát khỏi những ràng buộc chặt chẽ của luật lệ, văn hóa, chính trị, kinh tế, tín ngưỡng, nghề nghiệp... Như vậy, để giải thích cho vấn đề tự tử, xem như là một tình trạng bất thường về tâm lý, của một cá nhân thì phải có cái nhìn sâu rộng, vượt ra ngoài những yếu tố liên quan đến tính cách cá nhân, nghĩa là phải nhìn thấy được những tác động ràng buộc không thể nào thoát ra từ các khuôn mẫu và định chế của xã hội/văn hóa.

Mọi sinh hoạt và hành vi của cá nhân, từ công ăn việc làm, mức sống kinh tế, kỹ năng sáng tạo khoa học kỹ thuật cho đến ý thức hệ tôn giáo, chính trị, tính mê tín dị đoan, khuynh hướng sống, v, v... luôn luôn chịu ảnh hưởng và những tác động to lớn từ những điều kiện môi trường và hoàn cảnh đặc trưng của cộng đồng xã hội và nền văn hóa, luật lệ, các qui ước và đạo đức nơi mình đang sống. Chẳng hạn, thực tế cho thấy một xã hội có nền kinh tế yếu kém nhưng trong đó lại có nhiều người chỉ thích sống nhàn hạ, rỗi rãnh và vui chơi, làm ít hưởng nhiều, thì tỷ lệ người bị thất nghiệp chắc chắn phải luôn luôn ở mức cao. Hoặc một xã hội buông thả, rối loạn và suy đồi, không có kỷ cương về

những tiêu chuẩn đạo đức, cư xử và luật pháp chặt chẽ thì nơi đó sẽ là môi trường phổ

biến cho những tội phạm, tập quán xấu, nghiện ngập, trộm cắp, giết người... (12)

Các chuyên gia xã hội và môi trường thường nói về những khuôn mẫu ứng xư tập thể. Họ muốn nói rằng thực tế cho thấy luôn luôn có một số đông người trong cùng một cộng đồng xã hội hay cùng một nền văn hóa thường có những hành vi hay cách ứng xử

giống nhau. Những khuôn mẫu ứng xử tập thể này vẫn mãi tồn tại và mang tính di truyền trong các cộng đồng xã hội con người, dù mức độ ít nhiều có thay đổi theo từng thời kỳ;

chẳng hạn tính mê tín dị đoan là một hành vi rất dễ lây lan và không bao giờ hoàn toàn biến mất trong các cộng đồng xã hội, dù cho đến ngày hôm nay nhân loại đã đạt được một nền văn minh khoa học hiện đại.

Bối cảnh xã hội và nền tảng văn hóa bao hàm một môi trường rộng lớn, trong đó có

các đặc tính thuộc về cấu trúc gia đình, các hệ thống tổ chức điều hành, luật lệ, chính sách nhà nước, các qui ước, lề thói, tập tục, những tiêu chuẩn giá trị và đạo đức, tầm mức văn minh, các phản ứng, định kiến và sức ép mang tính tập thể cộng đồng... Xã hội và

văn hóa luôn luôn đóng vai trò quyết định cho sự hình thành và phát triên các yếu tố

thuộc về trí tuệ, kiến thức, ngôn ngữ, tình cảm, tập quán, thói quen, cũng như những bất ổn, rối loạn, hay bệnh lý tâm thần tâm lý cho cá nhân.

Nhà tâm lý giáo dục trẻ em Vygosky (1896-1934) xem những tác phẩm văn chương, nghệ thuật, những sinh hoạt diễn biến liên tục trong lịch sử của cộng đồng xã hội như là

những công cụ văn hóa thiết yếu giúp phát triển trí thông minh và tư duy trẻ em (13).

Bronfenbrenner trong tác phẩm “The Ecology of Human Development” (Sinh thái học về Phát triển của Con người) cũng khẳng định tầm quan trọng có tính cách quyết định của môi trường xã hội/văn hóa đối với đời sống tinh thần và thể chất chung quanh sự lớn lên của đứa trẻ (14).

Nhà tâm lý Eric Erickson cho rằng phân tâm học của Freud dù có phân tích khúc chiết về bản chất và những nhân tố tâm lý, nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót vì ông đã xem

nhẹ các tác động và những ảnh hưởng và sức ép vô cùng quan trọng của xã hội trong suốt cuộc sống của mỗi đời người. Ông đưa ra nhiều chứng minh cho thấy ngay khi đứa trẻ

vừa sinh ra là đã chịu sự tác động của những yếu tố xã hội xuyên qua các mối quan hệ

với những người thân trong gia đình. Với những lý do đó, ông kết luận rằng yếu tố xã hội cũng quan trọng không kém gì so với các yếu tố bẩm sinh của thể chất và tâm lý trong quá trình uốn nắn và hình thành các khuôn mẫu nhân cách và cá tánh của cá nhân (15).

Erickson chia các giai đoạn phát triển trong một đời người ra làm 8 phần. Tuổi sơ sinh (từ 0 đến 1 tuổi), tuổi đi chập chững (1 đến 3) và tuổi ấu thơ (3 đến 6) là ba giai đoạn dù

chưa tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của những yếu tố xã hội xuyên qua các mối quan hệ liên cá nhân trong khung cảnh gia đình và những người thân thuộc chung quanh. Trong các giai đoạn này, nếu các nhu cầu về thể lý và

cảm xúc của đứa trẻ được bình thường, đồng thời song song với các mối quan hệ liên cá

nhân của cha mẹ và những người thân thuộc luôn ở trong trạng thái bình thường và điều hoà, không có những biến cố khủng hoảng nào, thì kết quả là đứa trẻ sẽ trở nên một người có lòng tin, tính tự chủ và độc lập. Ngược lại, không có những điều kiện như thế, đứa trẻ về sau sẽ trở thành người có tính hồ nghi, cảm giác xấu hổ và mặc cảm.

Đến hai giai đoạn kế tiếp là tuổi đi học (từ 6 đến 12) và tuổi dậy thì (12 đến 18) là

thời gian cá nhân trực tiếp cọ xát, hấp thụ, cũng như chiụ những sức ép trong các môi trường học đường và các định chế xã hội, đồng thời cá nhân mở rộng các mối quan hệ

với bên ngoài, càng ngày càng nhận dạng và hiểu biết về bản thân, tha nhân và thế giới, hiểu biết hơn về ý nghĩa cuộc sống và hình thành được hướng đi cho các mục tiêu của cuộc sống cá nhân. Những khủng hoảng nếu đã có xảy ra trong hai giai đoạn này sẽ khiến đứa trẻ vị thành niên trở nên kém cỏi trong học hành và trong các kỹ năng ứng xử, lẫn lộn vai trò và mang mặc cảm thất bại.

Tiếp theo nữa là hai giai đoạn tuổi trưởng thành (từ 18 đến 35) và tuổi trung niên (35 đến 60) là thời gian cá nhân có khuynh hướng gắn bó với các mục tiêu của công việc, các mối quan hệ mật thiết, mơ ước và cố gắng theo đuổi những thành tựu cho bản thân và gia đình. Nhưng nếu trong giai đoạn này cá nhân có quá nhiều trải nghiệm khó khăn với công việc và các mối liên hệ bên ngoài xã hội thì thay vì cảm thấy mình có sự gắn bó với cuộc sống, cá nhân sẽ cảm thấy mình là người bị ruồng bỏ và cô lập.

Giai đoạn cuối là tuổi cao niên (từ 60 trở đi), là thời gian sẽ cho cá nhân cái cảm nhận về sự hoàn thành hay thất vọng về cuộc sống của bản thân. Như thế, các ý niệm và cảm nhận về giá trị, danh dự, tội lỗi, thất vọng, hay hối tiếc của một đời người phần lớn là do

kết quả của những trải nghiệm mà xã hội đã mang lại cho cá nhân, chứ không hoàn toàn là do sự chủ động của các yếu tố bẩm sinh thuộc về thể chất và tâm lý của cá nhân.

Từ những nhận xét như vậy, các chuyên gia tâm lý xã hội/văn hóa cho rằng phần lớn những hành vi bất thường, những triệu chứng rối loạn và bệnh hoạn của cá nhân đều có nguyên nhân cội rễ từ những sức ép, lực tác động của bối cảnh xã hội và nền văn hóa mà cá nhân đó đang sống.

Một phần của tài liệu Tài liệu Tâm lý trị liệu (Trang 162 - 166)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(416 trang)
w