VII NIẾT BÀN

Một phần của tài liệu Duc Phat Lich Su (Trang 99 - 101)

III. ANATTA: VƠ NGÃ

VII NIẾT BÀN

Mục đích giải thốt mà đức Phật hứa khả với các mơn đồ của ngài như là kết quả của sự đoạn diệt tham sân si được liên kết chặt chẽ với giáo lý vơ ngã (anatta). Mọi tơn giáo thuyết giảng sự hiện hữu của một linh hồn bất tử đều phải giả thiết rằng linh hồn này tiếp tục tồn tại sau khi được cứu độ và do vậy phải cung cấp nơi cư trú cho nĩ trong một thế giới giải thốt, một xứ sở cứu độ. Linh hồn (Skt: atman) hay tiểu ngã cĩ thể hịa nhập vào Ðại ngã (Brahman) như trong giáo lý Upanisad, hoặc cĩ thể hợp nhất với Thượng Ðế như trong Ấn Ðộ thần giáo, hoặc cĩ thể lên Thiên đàng như trong Thiên Chúa giáo và Hồi giáo.

Do bác bỏ sự hiện hữu của một linh hồn bất tử, đức Phật khơng cần thừa nhận bất kỳ giải pháp nào trong số các giải pháp khĩ hợp lý này. Ngài khơng cần phải bận tâm gì đến số phận của một linh hồn cả; đối với ngài, giải thốt cốt yếu là ở sự tận diệt cá thể hiện hữu đầy khổ đau và hủy hoại vịng luân hồi sanh tử: thực sự đĩ là đoạn diệt, Niết-bàn (nibbàna) của hữu thể. Ngài bài bác lời cáo buộc của một số Bà-la- mơn cho rằng ngài là người chủ trương thuyết hư vơ (venayika), ngài đáp rằng ngài chỉ tiêu diệt một điều duy nhất: khổ đau ở đời. (MN 22; 140).

Vì cái được gọi là cá nhân ấy chỉ là một tập hợp các hiện tượng vơ ngã và vì sự hiện hữu của nĩ bị bắt buộc phải kèm theo khổ đau, nên chấm dứt nĩ cũng khơng thiệt hại gì. Trái lại, sự đoạn diệt nĩ, khi khơng cịn tái sanh tiếp diễn nữa, cần phải được hoan nghênh như là niềm an lạc giải thốt.

Khi xét đến sự thực Niết-bàn là giải thốt, chúng ta khơng nên ngạc nhiên vì thấy nhiều đoạn trong Kinh Tạng Pàli định nghĩa nĩ bằng các từ phủ định: Niết-bàn là sự diệt trừ tham ái đưa đến tái sanh (DN 14.3.1), giải thốt tham sân si (DN 16. 4. 43), là sự tịnh chỉ tối hậu của các hành (sankhàra) (DN 14. 3.1), tức là các ý định luơn tạo nghiệp (kamma) và do vậy đặt nền tảng cho tái sanh liên tục.

Trong khi tất cả mọi hình thái hiện hữu trong vịng luân hồi đều do các hành tạo điều kiện sanh khởi, là pháp hữu vi (sankhata), thì Niết-bàn khơng do duyên sanh hay vơ vi (asankhata) (AN 3. 47) . Niết-bàn khơng thể đạt được bằng cách chỉ tạo các thiện nghiệp mà thơi, nĩ khơng phải là trạm cuối cùng của sanh tử lộ, mà vượt lên tất cả mọi điều kiện sanh khởi. Niết-bàn nằm bên ngồi vịng luân hồi (Samsàra), tuy thế nĩ khơng phải là một cái Tuyệt Ðối. Sự thật Niết-bàn chỉ cĩ thể đạt được bằng cách đoạn tận mọi tham ái dục vọng, và do vậy ngay chính dục vọng đắc Niết-bàn cũng làm trở ngại cho sự chứng đạt Niết- bàn. Chính sự nồng nhiệt mong cầu giải thốt tự cản bước tiến của mình vậy.

Khi đức Phật được hỏi làm thế nào ngài đã thành tựu sự vượt qua bộc lưu của khổ hải, ngài đáp: "Khơng trì hỗn (appatittham) và cũng khơng vội vàng (anàyuham), ta vượt qua bộc lưu... Khi ta trì hỗn thì ta chìm xuống, khi ta vội vàng thì ta bị cuốn trơi. Chỉ khi nào ta khơng trì hỗn mà cũng khơng vội vàng thì ta vượt qua bộc lưu". (SN 1.1)

Ðể thành đạt giải thốt, ta cần giữ tâm an tịnh khơng bao giờ quên mất tầm nhìn về cứu cánh mà phải tiến dần đến mục đích khơng vội vàng hay cuồng nhiệt. Thái độ thích hợp là thái độ khơng hy cầu. Ngồi các định nghĩa mang tính phủ nhận, Kinh Ðiển cịn hàm súc nhiều cách diễn tả tích cực về Niết- bàn. Ðĩ là hạnh phúc tối cao hay cực lạc, tịch tịnh, tối thượng an ổn (thốt khổ ách), ân phước, bất tử giới, thanh tịnh, chân lý, điều tối thượng, điều thường hằng, điều khơng do tác thành, điều vơ cùng vơ tận... Một vài từ ngữ này cĩ tính chất cảm thọ nhưng phải được hiểu theo cách diễn tả đầy nhiệt tình của

hội chúng đức Phật thời nguyên thủy muốn liên hệ ý tưởng Niết-bàn với những gì thiêng liêng thần thánh và bày tỏ lịng hoan hỷ hứng khởi trong lúc đặt hết niềm tin vào giải thốt.

Cĩ chuyện kể Tỳ-kheo Udàyi ngạc nhiên khi nghe từ ngữ "lạc" (sukha) mang tính cảm thọ mà tơn giả Sàriputta đã dùng nĩi đến Niết-bàn và hỏi làm thế nào Niết-bàn khơng cĩ cảm thọ lại cĩ thể được gọi là "lạc", trưởng lão Sàriputta đáp: "Ðấy chính là lạc, tức là trạng thái khơng cịn cảm thọ" (AN 9.34)* Nhiều đoạn trong Kinh Tạng Pàli liên hệ Niết-bàn nĩi đến điều này theo hai cách khác nhau. Trong một số đoạn kinh, Niết-bàn được xem như trạng thái khởi lên trong tâm của người đã được giải thốt khi các yếu tố gây khổ đau đã được đoạn tận. Theo cách này, Niết-bàn là một trạng thái tâm khởi lên trong người ấy, nhưng trạng thái này khơng thể đảo ngược lại, tức là bất thối chuyển, do vậy được gọi là an ổn (dhura), thường hằng (nicca), trường cửu (accuta). Chính từ Niết-bàn, theo nguyên nghĩa mơ tả tiến trình tiêu diệt ngọn lửa và trạng thái tiêu diệt phát sinh từ đĩ đã hỗ trợ quan điểm này.

Cách thứ hai đề cập Niết-bàn xem đĩ như là cái gì khơng sanh (ajàta), khơng trở thành (abhùta), và vì vậy đĩ là một vật được cho, vốn đã hiện hữu từ lâu trước thời điểm giải thốt của hành giả, vị ấy nhờ giải thốt đã thể nhập vào đĩ. Theo cách này, Niết-bàn cần thiết phải mang tính chất của một "nơi chốn": "Này các Tỳ-kheo, cĩ một trú xứ (àyatana) khơng cĩ đất, cũng khơng cĩ nước, cũng khơng cĩ lửa, cũng khơng cĩ giĩ. Ðây chính là khổ diệt" (Udàna 8.1). Sự chứng đạt Niết-bàn ở đây được diễn dịch là sự thể nhập vào Niết-bàn.

Ta cĩ thể tìm hiểu thêm về trạng thái giải thốt từ những đoạn kinh liên hệ đến người được giải thốt. Vì Niết-bàn khơng nhất thiết phải trùng hợp với sự mạng chung của người được giải thốt, quả thực vị ấy, cũng như trường hợp đức Phật Gotama, cĩ thể tiếp tục sống nhiều năm hoặc thậm chí hàng chục năm, cho nên ta cần phân biệt Niết-bàn trước khi thân hoại và Niết-bàn sau khi thân hoại (Itiv 44).

Trong Niết-bàn trước khi thân hoại, con người được giải thốt vẫn cịn đầy đủ Ngũ Uẩn (khandhà) hợp thành cá thể sống thực của vị ấy, nĩi cách khác, vị ấy vẫn tiếp tục sống như một hữu tình trước mắt mọi người. Vị ấy chưa vượt qua các nỗi khổ nhọc của thể xác như già yếu, bệnh tật, tai nạn, đau nhức ... các thứ này được xem là phần cịn lại của nghiệp (kamma) mà vị ấy phải tiêu trừ. Tuy nhiên, nhờ được giải thốt khỏi các lậu hoặc gây nghiệp chướng, vị ấy khơng cịn tiềm năng tạo nghiệp mới. Nội tâm tràn đầy từ bi (mettà-karunà / anukampà) đối với muơn lồi, nhưng lại buơng xả đối với bất cứ vật gì tác động đến bản thân, vị ấy chỉ cịn chờ đợi Niết-bàn vơ dư y xuất hiện.

Trong Niết-bàn sau khi thân hoại với ngũ uẩn đã tan rã , người giải thốt khơng cịn "cĩ thể được nhận thức" như một cá nhân nữa, Niết-bàn này thơng thường được gọi là Parinibbàna, "hồn tồn diệt tận", hay viên tịch. Trong Kinh Ðiển nhiều lần vấn đề được nêu lên là một vị giải thốt cĩ tồn tại hay khơng tồn tại sau khi chết. Câu giải đáp là "khơng cĩ cũng khơng khơng": một vị đã đi vào trạng thái vượt ra khỏi vịng luân hồi (Samsàra) là trạng thái mà mọi phạm trù tư duy và khả năng miêu tả của ta đều khơng thể đạt đến.

Trong một cuộc thảo luận với một du sĩ khất thực của bộ tộc Vaccha (Vacchagotta), đức Phật bảo sự kiện ấy đối với một người hồn tồn được giải thốt cũng giống như đối với một ngọn lửa. Bao lâu lửa cịn cháy, ta biết nĩ tiêu thụ nhiên liệu gì, nhưng khi lửa đã tắt, khơng ai cĩ thể bảo ngọn lửa đã biến đi về hướng nào. Cũng vậy, đối với người đã đạt "hồn tồn tịch diệt", thì nhiên liệu (tức Ngũ Uẩn) đã được tiêu hủy hết, vì thế nên vị ấy "thật thâm áo, vơ lượng, khơng thể dị tận đáy như đại dương". (MN 72 18) Kinh Udàna (Cảm Hứng Ngữ) xem vần kệ sau đây là do đức Phật thuyết:

Khơng cịn thấy "ngã chính là ta", Trước chưa vượt bộc lưu, nay vượt Ðể chẳng tái sanh tự bấy giờ.

(Ud 7. 1)

Và trong Sutta Nipàta (Kinh Tập) đức Phật dạy Upasìva:

Như ngọn lửa lụi tàn vì sức giĩ Ðến tận cùng. Vượt hẳn mọi ngơn từ, Bậc hiền nhân an tịnh được tự do Thốt Danh-Sắc và tiến về mục đích, Ðạt trạng thái khơng lời nào giải thích.

(S.Nip 1074)

Ðến bờ kia, người uyên thâm vơ lượng, Khơng lời nào đủ miêu tả vị này, Khi các Hành đã đoạn tận từ đây Mọi đường lối ngơn từ đành chấm dứt.

(S.Nip 1076)

Một phần của tài liệu Duc Phat Lich Su (Trang 99 - 101)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(175 trang)