IV BÌNH LUẬN THÊM VỀ THẾ GIỚI QUAN CỦA ÐỨC PHẬT

Một phần của tài liệu Duc Phat Lich Su (Trang 94 - 95)

III. ANATTA: VƠ NGÃ

IV BÌNH LUẬN THÊM VỀ THẾ GIỚI QUAN CỦA ÐỨC PHẬT

Ðức Phật Gotama thấy nguyên lý duyên khởi, theo đĩ vạn vật hiện hữu tùy nhiều yếu tố tạo điều kiện, như một nguyên lý phổ quát khơng chừa một kẽ hở nào cho giả thiết về một cái Tuyệt Ðối bất biến. Phù hợp với nguyên lý này, ngài đi đến quan điểm đa nguyên về thế giới, quan điểm như vậy hồn tồn đối nghịch với triết lý Upanisads (Áo Nghĩa Thư).

Các đạo sư Aupanisadas khẳng định cĩ một linh hồn bất tử (àtman) trong mọi vị hữu tình, họ tin tưởng rằng tất cả các linh hồn này đồng nhất với nhau, và cùng đồng nhất với linh hồn vũ trụ (Phạm thể:

Brahman). Các vị này giảng dạy thuyết nhất nguyên, nghĩa là cĩ sự đồng nhất vạn pháp theo đĩ căn bản của thế giới là "cái bất nhị, vơ phân biệt". Bất kỳ kẻ nào cơng nhận rằng "nhân" và "ngã" là một trong bản thể, tất cả chúng ta đều đồng nhất với cái Tuyệt Ðối trong bản thể, bất kỳ ai nhận thức rằng tất cả mọi sự sai biệt bên ngồi giữa mọi người chỉ là huyễn ảo (màyà), kẻ ấy sẽ đạt giải thốt.

Ðức Phật phản bác những lời xác nhận này trong mọi điểm. Ngài tuyên bố khơng cĩ một linh hồn bất tử tồn tại sau khi thân hoại, cũng khơng cĩ cái Tuyệt Ðối nằm bên trong và đằng sau vạn vật. Do vậy chúng ta khơng thể chứng minh nguồn gốc tính đa dạng của thế giới từ một cái Tuyệt Ðối, và chúng ta cũng khơng thể đạt giải thốt bằng cách hịa nhập vào cái Tuyệt Ðối kia. Giả thiết cĩ sự lưỡng phân giữa các hiện tượng tạo thành thế giới và cái Tuyệt Ðối là điều sai lầm. Khơng cĩ BẢN THỂ đằng sau các cá thể, khơng cĩ "thực thể tự tại" (ding an sich) đằng sau vạn vật. Chỉ cĩ các hiện tượng tạo thành mọi lồi hữu tình lẫn vơ tình, và các hiện tượng này khơng cĩ thực thể. Chúng hiện hữu như ta cảm nhận chúng hằng ngày và ta phải xem chúng là những thực tại. Tiến trình tái sanh khổ đau chỉ diễn ra trong thế giới hiện hữu này, đĩ là thế giới gồm các hiện tượng luơn biến dịch. Chính tiến trình biến dịch này là cuộc sống, vì đời sống khơng phải là một hình thái tĩnh mà là một sự liên tục biến thành một hình thái khác.

Do khơng cĩ cái Tuyệt Ðối đằng sau các hiện tượng, nên khơng cĩ sợi dây liên kết hợp nhất xuyên suốt vạn vật. Hằng hà sa số hiện tượng "vơ ngã, khơng linh hồn" đồng thời sanh khởi, biến đổi lẫn nhau khi chúng tiếp xúc nhau, phối hợp với nhau và do vậy tạo điều kiện cho các hiện tượng mới thay thế các hiện tượng cũ. Thế giới này đa dạng, chỉ một yếu tố duy nhất thường hằng trong dịng biến dịch của hiện tượng là quy luật quyết định cách hoạt động của dịng biến dịch này: nguyên lý sinh khởi tùy điều kiện (paticca-samuppàda).

Ðức Phật Gotama hình như đã khơng phát biểu lời nào mơ tả bản chất các yếu tố nằm sau các hiện tượng bề ngồi và tạo nên các thành phần của chúng. Ngài gọi chúng là "các pháp" (dhammas), một từ mà ở đây ta cĩ thể diễn dịch khéo nhất bằng từ ngữ "các thành tố của sự sống"; nhưng vì ngài là một bậc Ðạo Sư thực tiễn về con đường giải thốt, ngài khơng trình bày một lý thuyết đầy đủ chi tiết về vạn pháp. Tuy thế, sau khi ngài viên tịch, một số Tỳ-kheo lại hết sức quan tâm nghiên cứu vấn đề này, đã xem xét các pháp (dhammas) theo cách học thuật kinh viện, rồi lập thành các danh sách và cung cấp chi tiết cho một lý thuyết về vạn pháp. Theo cách này, chư vị đã sáng tạo một đạo Phật trong đĩ con người xuất hiện khơng phải như một cá thể cĩ cảm giác và khổ đau, mà đơn thuần như một tổng thể các pháp. Nếu ta cĩ thể dùng một ví dụ hiện đại, thì cũng như các vị ấy khơng nĩi cái ao nước, nhưng lại nĩi một tập hợp bao nhiêu mét khối H2O mà thơi.

Học giả lừng danh Buddhaghosa (Phật Âm: thế kỷ thứ 5 sau CN) đã giải thích quan điểm vơ ngã tính này trong mấy vần kệ:

Cĩ đau khổ nhưng khơng người chịu khổ; Cĩ việc làm dù chẳng cĩ người làm; Khơng kẻ diệt vong dù cĩ Niết-bàn;

Cĩ đạo lộ song cĩ đâu hành giả. (VM 16. 90) Khơng người tạo nghiệp nhân,

Khơng ai nhận nghiệp quả: Chỉ hiện tượng trơi lăn - Khơng cĩ gì khác nữa, Ngồi tri kiến chánh chân

Khơng kiến nào đúng cả. (VM 19. 20)

Một phần của tài liệu Duc Phat Lich Su (Trang 94 - 95)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(175 trang)